Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

Sự tích đồng tiền Vạn Lịch


Ngày xưa có người lái buôn tên là Vạn Lịch. Người này là một đại thương gia, giàu có vào hạng nhất nhì trong nước. Vạn Lịch có ngót một trăm chiếc thuyền cỡ lớn, chuyên dùng vào việc vận chuyển buôn bán hàng hóa. Riêng chiếc thuyền chở Vạn Lịch có phòng ăn, phòng ngủ, phòng khách, xung quanh chỗ ngồi, giường nệm đều được bài trí bằng gấm vóc, vàng bạc... chiếc thuyền này đồ sộ và nguy nga không khác gì một dinh phủ ở trên đất liền vậy. 

Vạn Lịch có một người vợ trẻ đẹp tên là Mai thị. Trong những lúc đi làm ăn buôn bán xa, hắn thường nghi ngờ vợ không thực lòng với mình. Vạn Lịch hay xét nét, nghi kỵ từng li từng tí khiến cho nàng tuy có chút sung sướng nhàn hạ về mặt vật chất nhưng cũng rất khổ tâm về mặt tinh thần.


Một ngày nọ, thuyền của Lịch thả neo nghỉ trưa tại một bến sông vắng. Mai thị ngồi trước mũi thuyền nhìn ra ngoài. Bỗng có một người đánh giậm ở đâu đến cạnh thuyền xin một miếng trầu. Mai thị thấy người ngư dân đó nghèo khổ, đóng khố, mình trần lấm láp thì chạnh lòng thương hại. Nàng bèn hỏi thăm mấy câu rồi nhặt lấy mấy miếng trầu trong cơi vàng đem cho. Lịch đang ngủ chợt thức giấc, tình cờ trông thấy cảnh ấy, cơn ghen tức nổi lên đùng đùng. Chờ cho anh đánh giậm đi khỏi, hắn gây chuyện với vợ rồi xỉ vả nàng thậm tệ. Mặc cho Mai thị thề thốt hết lời nhưng Vạn Lực một mực không nghe. Hắn gói ghém xiêm áo ném trả cho nàng, rồi vứt cho vợ một thoi vàng, một thoi bạc và đuổi đi ngay.

Mai thị đi bơ vơ một mình trên bãi biển. Nàng gặp lại người đánh giậm khi nãy, bèn gạt nước mắt kể lể sự tình. Anh chàng đánh giậm ngẩn ngơ cả người, không biết xử trí ra sao. Khi biết anh ta chưa có vợ lại sống một thân một mình, nàng bảo:

- Hắn bảo tôi dan díu với anh. Âu cũng là số tôi không lấy được kẻ giàu sang, tôi xin nguyện lấy anh làm chồng, dù có khổ sở thế nào đi nữa tôi cũng chịu được. Chúng ta sẽ cùng nương tựa vào nhau mà sống.
Anh chàng đánh giậm không biết từ chối thế nào, cuối cùng đành dẫn người đàn bà kia về túp lều của mình dựng bên bờ sông. Và họ trở thành vợ chồng kể từ khi đó. Hàng ngày chồng vẫn làm nghề cũ, còn vợ thì ở nhà chăn nuôi gà vịt. Tuy nghèo nhưng họ sống thật êm ấm, không xô xát với nhau bao giờ.

Ba năm trôi qua. Một hôm trời mưa, chồng rỗi việc ở nhà, vợ ngồi vá áo. Chồng thấy đàn gà thi nhau mổ thóc ở thúng, sẵn có thỏi vàng của vợ để dành bấy lâu trong chiếc giỏ khâu vá, anh ta không biết đó là vật gì liền cầm lấy ném đàn gà. Chẳng may ném mạnh quá thỏi vàng văng luôn xuống sông. Thấy vậy, vợ trách chồng:
- Kìa, người sao người đâu mà ngốc thế! Anh có biết vừa ném cái gì đi không?

Chồng đáp gọn lỏn:
- Chả biết.
- Đấy là vàng, thứ quý nhất ở trên thế gian đấy, vợ đáp.
Chồng thản nhiên bảo:
- Tưởng gì chứ, thứ này thì đâu thiếu gì. Những lúc bắt cá ở vũng sâu ngoài kia tôi vẫn nhặt được luôn, nhưng không biết dùng làm gì nên lại vứt bỏ.

Đến lượt vợ lại ngẩn cả người, liền hối hả giục chồng đi mò lấy về. Quả nhiên đó là vàng thực, và lạ thay mỗi thỏi đều có dấu hiệu riêng của Vạn Lịch. 
Nguyên là Vạn Lịch từ ngày đuổi vợ đi, buôn bán có phần thua lỗ. Một lần nọ thuyền gặp bão và bị đắm, Lịch chỉ thoát được thân còn bao nhiêu rương vàng bạc của cải đều chìm xuống nước và trôi dạt vào đây. Thế là kho vàng của Lịch lại thuộc về tay vợ chồng Mai thị.

Từ khi có của, Mai thị bèn xây dựng nhà cửa khang trang và sắm ăn sắm mặc cho chồng. Thấy chồng quá ngờ nghệch, vợ bảo phải năng giao thiệp, quan hệ với người ta để học khôn học khéo hòng mở mặt với đời.
Chồng nghe lời, bèn lựa những khi rảnh rỗi vào xóm gạ chuyện với mọi người để làm quen, nhưng chẳng có ai thèm chơi với một thằng đánh giậm lại nổi tiếng đần độn. Luôn mấy hôm liền, anh chàng đi không về rồi. Vợ hỏi: 

- Đã chơi được với ai chưa? 
- Chưa. Hắn đáp cụt lủn.
Mai thị lắc đầu than thở: 
- "Người đâu mà u mê, ngờ nghệch đến thế không biết. Suốt mấy hôm trời mà không làm quen được một ai. Họa có mà chơi với phỗng!

Nghe nói thế, chồng tưởng vợ bảo mình không chơi được với người thì đi chơi với phỗng, bèn tìm đến một ngôi đền vắng ở phía ngoài kinh thành. Chàng ngốc lân la toan làm quen với mấy bức tượng phỗng đặt ở hai bên sân đền. Thấy tượng phỗng nhe răng cười, hắn cũng cười theo, rồi lại quàng vai bá cổ làm như đang chơi đùa với người thật vậy. Sau đó anh chàng đi mua bún lòng về mời ăn, nhét cho mỗi tượng một miếng vào miệng. Cuối cùng chẳng thấy phỗng nói gì, hắn tức mình xô phỗng từ trên bệ lăn kềnh xuống đất rồi bỏ ra về. Khi vợ hỏi, chàng ngốc bô bô kể lại sự tình. Mai thị giẫm chân kêu trời, đành giữ chồng lại nhà để dạy khôn cho hắn.

Không ngờ ngôi đền mà anh chàng đánh giậm đến chơi lại là nơi liên quan đến long mạch phát tích của nhà vua. Tự nhiên, sau khi chàng đánh giậm xô đổ tượng phỗng, nhà vua bị đau bại một nửa người. Bao nhiêu danh y được triệu vào cung để chữa bệnh cho hoàng thượng đều lắc đầu bó tay. Một viên quan Tư tế gieo quẻ báo tin rằng: Cách kinh thành không xa, có một ngôi đền liên quan đến long mạch của triều đình bị động. Lập tức triều đình bèn phái quan binh về làm lễ tạ. Pho tượng phỗng bị đổ xuống đất làm cho mọi người chú ý. Nhưng khi làm lễ dựng tượng dậy thì lạ thay, hàng chục người xúm vào đều nâng không nổi. Quan lại truyền cho mấy đội cơ lính dùng đòn gỗ và dây thừng xúm vào cùng khiêng nhưng rốt cuộc tượng vẫn không hề nhúc nhích.

Tin ấy được bẩm báo về kinh đô, nhà vua rất lo, liền sai yết bảng thông cáo cho tất cả thần dân ai có phép gì dựng được tượng phỗng lên bệ thì sẽ hậu thưởng. Hôm ấy Mai thị đi chợ ngang qua kinh thành, thấy bảng yết có nội dung như thế, bèn về hỏi chồng:
- Hôm ấy anh làm thế nào đẩy ngã pho tượng xuống được?
Hắn đáp:
- Tôi chỉ khẽ đẩy một cái là đổ ngay.
Vợ hắn lại hỏi:
- Thế bây giờ có dựng lên được không?
Hắn cười hiền đáp:
- Làm gì mà chả được.
Vợ bèn cùng chồng gỡ giật bảng niêm yết xuống, xin quan cho vào nâng phỗng thử. Quả nhiên khi người đánh giậm chỉ cần khẽ nâng, tượng liền đứng lên được.

Ngay sau đó, nhà vua liền khỏi bệnh. Vua sai lấy vàng bạc thưởng rất hậu cho vợ chồng Mai thị nhưng họ không nhận, chỉ xin vua ban ơn cho làm một chân Tuần ty ở sông Cả [có lẽ là sông Hồng ngày nay]. Chức vụ Tuần ty chỉ ngồi thu thuế không cần biết chữ. Vua liền ưng thuận. Hai vợ chồng bèn đi nhậm chức. Sẵn có nhiều vàng bạc, họ cho xây dựng nhà cửa rất nguy nga ở ngay ngã ba sông. Kể từ đó, vợ chồng Mai thị nổi tiếng giàu có trong vùng.

Một hôm, thuyền của thương gia Vạn Lịch tình cờ đi ngang qua đây, Vạn Lịch cho thuyền đỗ lại ở cửa tuần và cho người lên nộp thuế. Mai thị biết vậy liền xuống lệnh bắt chủ thuyền phải đích thân đến trình báo. Tiến vào công đường, Lịch xiết bao kinh ngạc, khi thấy ngồi trước án là người vợ cũ của mình cùng anh chàng đánh giậm ngày xưa. Mai thị mỉa mai bảo hắn:

"Biết rằng anh vẫn đi buôn,
Em về kiếm chốn nha môn ngồi tuần
Dù anh buôn bán xa gần
Làm sao tránh khỏi cửa tuần người xưa"...

Nghe mấy câu thơ ấy, Vạn Lịch vô cùng hổ thẹn. Hắn từ tạ trở về thuyền. Đang cơn làm ăn thua lỗ, lại vừa thẹn vừa uất, hắn nghĩ không còn mặt mũi nào nhìn lại vợ lần nữa, cũng không còn thiết sống tiếp. Vậy là đêm đó, Vạn Lịch bèn làm giấy kê khai tất cả của cải cho Mai thị thừa kế, biên thư lại, nói là để chuộc lỗi xưa, rồi âm thầm tự vẫn. Mai thị thấy vậy lấy làm hối hận lắm, tuy nhiên mọi sự đã rồi. Sau đó nàng đem bao nhiêu tài sản của Vạn Lịch để lại quyên tặng hết vào ngân khố triều đình, nàng lại tâu với đức vua xin đúc một thứ tiền vàng lưu hành trong dân gian, gọi là "tiền Vạn Lịch" rồi đem phân phát từ thiện cho những người nghèo khổ.

Mãi cho đến rất lâu sau này, trong dân gian vẫn còn lưu hành và xuất hiện loại tiền kể trên. Để ghi nhớ tích truyện này, người ta còn truyền tụng nhau câu hát:
"Đồng tiền Vạn Lịch
Thích bốn chữ vàng
Trải bao mưa gió bẽ bàng
Tiếc cho duyên nợ với nàng bấy lâu"...

Đường Tân
- Tài liệu tham chiếu, theo: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam/Nguyễn Đổng Chi.

Giải Nobel vì Hòa Bình gây nhiều tranh cãi . . .


Sau Hiệp định Paris 1973, cả cố vấn Lê Đức Thọ và Henry Kissinger được trao giải Nobel vì Hòa Bình vì đã đạt thỏa thuận ngừng bắn, tạo điều kiện rút quân Mỹ khỏi Việt Nam và tạo tiền đề cho kết thúc của cuộc chiến tranh đã tiêu tốn nhiều giấy mực báo chí quốc tế.
 Lê Đức Thọ
Trước cơ hội trở thành người Việt đầu tiên và duy nhất đạt giải Nobel, ông Thọ đã thẳng thừng từ chối vì lý do ở Việt Nam chưa có hòa bình thực sự. Ông giữ im lặng, không giải thích thêm về quyết định này cho tới 20 năm sau, khi chính ông tiết lộ lý do chính xác trong bộ phim "From Hollywood to Hanoi":
"Họ trao giải cho cả người gây chiến tranh lẫn người đem lại hòa bình. Sự lẫn lộn đó khiến tôi không thể nhận giải thưởng Nobel được."
Henry Kissinger

Về phía Mỹ, giải Nobel vì Hòa bình được Nhà Trắng đón nhận với một tâm thế trái ngược. Kissinger rất vui vẻ khi biết tin, trong khi Tổng thống Nixon thậm chí còn phát biểu cho rằng giải thưởng này là "sự tưởng thưởng xứng đáng cho nghệ thuật đàm phán của người Mỹ trong công cuộc chấm dứt chiến tranh và mang lại hòa bình ở Việt Nam".
Niềm vui đó không tồn tại được lâu vì truyền thông Mỹ hiển nhiên không đồng cảm với Nixon và Kissinger. Tờ New York Times gọi giải thưởng Nobel năm đó là "Nobel vì Chiến tranh". Tờ Washington thì cho rằng "người Na Uy thực sự rất có khiếu hài hước" (Hội đồng xét giải Nobel là người Na Uy).
Diễn viên hài nổi tiếng chuyên châm biếm chính trị Tom Lehrer thậm chí đã phát biểu: "Châm biếm chính trị đã trở nên lỗi thời kể từ khi Henry Kissinger được trao giải Nobel vì Hòa bình". Không chỉ dừng lại ở giới truyền thông Mỹ, sự phản đối còn được thể hiện mạnh mẽ hơn khi hai thành viên Hội đồng xét duyệt giải Nobel đã lập tức xin từ chức.
Kissinger sau đó không tới dự buổi trao giải tại Oslo vì lo lắng sẽ trở thành mục tiêu đả kích của các nhóm biểu tình phản chiến. Năm 1975, khi chính quyền Sài Gòn thất thủ, ông để nghị trao trả lại kỷ niệm chương nhưng không được Hội đồng Nobel chấp nhận.