Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Cổ nhân nói: “3 cách kiếm tiền này sẽ giúp một người đời sau phú quý, phúc lộc dồi dào”

 

CỔ NHÂN NÓI: “3 CÁCH KIẾM TIỀN NÀY SẼ GIÚP MỘT NGƯỜI ĐỜI SAU PHÚ QUÝ, PHÚC LỘC DỒI DÀO”

 

Có câu nói rằng: “Mọi con đường đều dẫn đến Rome, nước ngàn dặm lại chảy về biển”, một việc làm có thể có nhiều cách để đi đến thành công, mọi việc còn tùy thuộc vào con đường bạn chọn để đi. Nhưng hãy tìm một con đường đúng đắn và lương thiện, đó là trạng thái sáng suốt nhất để đạt được thành công trong cuộc sống. 

 

Trong cuộc sống, nếu đi đường vòng quá xa, bạn sẽ bỏ lỡ rất nhiều thời gian, có thể khi về già, bạn sẽ không nhìn thấy thành Rome hay thổi gió biển.

Vì vậy, tìm ra con đường tốt nhất là sự sáng suốt để đạt được thành công cuộc sống. Người âm thầm kiếm nhiều tiền sẽ quan sát và suy nghĩ kỹ càng, tìm ra “ba cách” để giảm bớt công sức lãng phí.

 

Tìm một con đường chân chính và sẽ có cơ hội

Người xưa nói: “Phú quý hiểm trung cầu”, nghĩa là: Truy cầu phú quý trong cảnh hiểm nghèo. 

Nếu bạn quá thoải mái, bạn sẽ không kiếm được nhiều tiền. Nếu bạn làm việc trên dây chuyền lắp ráp cả đời, bạn có thể nuôi sống bản thân nhưng có rất ít hy vọng làm giàu.

 

Muốn làm giàu một cách lặng lẽ thì phải lặng lẽ tìm kiếm cơ hội và đừng để quá nhiều người phát hiện ra. Hãy giảm bớt sự cạnh tranh luẩn quẩn giữa mọi người.

Có một câu nói rất hay: “Nếu cuộc sống bị tước bỏ lý tưởng và ước mơ thì cuộc sống sẽ chỉ là một đống kệ trống rỗng”.

 

Trong cuộc đời luôn có một hành trình nguy hiểm và khó khăn. Người bình thường sẽ không dám đi qua, hoặc là không thể đi qua. Nhưng một khi bạn vượt qua, bạn sẽ xuất sắc và bước vào cấp độ cao hơn.

Nếu không ồn ào, mỗi bước đi đều vững như đá thì sẽ không có bước ngoặt lớn nào mà bạn không vượt qua. 

 

Chạm vào cánh cửa mơ ước và nâng cao kiến ​​​​thức của bạn

Dù bạn có vấp ngã khi còn trẻ cũng không sao, nó sẽ khiến bạn trưởng thành và sáng suốt hơn.

Mọi trải nghiệm đau đớn sẽ không bị lãng phí, trừ khi bạn sống trong trạng thái bối rối và suy sụp hoàn toàn sau một cú sốc đó, còn không nỗi đau đó chính là bước đệm giúp bạn ngày càng mạnh mẽ và trưởng thành hơn. 

 

Tỷ phú Lí Gia Thành đã từng nói điều này: “Khi một người thực sự thức tỉnh, anh ta từ bỏ việc theo đuổi sự giàu có ở thế giới bên ngoài và bắt đầu theo đuổi sự giàu có thực sự ở thế giới nội tâm của mình”. 

 

Hãy vượt qua khó khăn một cách lặng lẽ. Con đường bạn chọn tiếp theo sẽ là con đường tốt nhất, thậm chí là con đường độc nhất vô nhị trên thế giới.

 Đúng vậy, chỉ cần bạn đi con đường đúng đắn thì cái kết sẽ như bạn mong muốn. Tất nhiên, đừng sợ nếu bạn đi sai hướng, hãy học cách thích nghi.

Cũng giống như việc xem TV, nếu bạn chuyển kênh sẽ có những hình ảnh tuyệt vời khác đang chờ đón bạn. 

 

Tiền bạc nào cũng có dấu vết riêng, khi tuyệt vọng hãy bình tĩnh lại, hãy quan sát nhiều hơn, đọc sách nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn và khám phá thêm những điểm sáng của bản thân. 

Đừng khoe khoang lớn tiếng về bản thân, hãy giữ đôi chân của mình trên mặt đất và đạt được điều gì đó ở mỗi bước đi. 

 

Hãy đi theo con đường đúng đắn và chân chính, dù có gặp phải nguy hiểm thì bạn sẽ luôn có quý nhân phù trợ và có một tương lai tốt đẹp.

 

Thùy Dung

Triết lý giáo dục và sức mạnh của một quốc gia

 

TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VÀ SỨC MẠNH CỦA MỘT QUỐC GIA

 

Từ hàng nghìn năm trước, cha ông ta đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Trải qua các giai đoạn lịch sử, từ dựng nước, giữ nước đến đổi mới và hội nhập, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị.

 

Một quốc gia muốn phát triển bền vững không chỉ cần tiềm lực kinh tế hay tài nguyên, mà trước hết phải có những con người có trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và khát vọng cống hiến. Vì vậy, bàn về giáo dục thực chất là bàn về triết lý phát triển con người.

 

Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và từng bước hình thành một triết lý giáo dục Việt Nam phù hợp với thực tiễn, kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa nhân loại là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước.

 

Con người là sản phẩm của nền giáo dục và hệ giá trị của thời đại

Giáo dục không chỉ là hoạt động truyền thụ tri thức mà trước hết là quá trình hình thành con người theo những giá trị mà xã hội hướng tới.

Mỗi nền giáo dục đều phản ánh hệ giá trị của một thời đại, đồng thời định hình phẩm chất, năng lực và trách nhiệm của thế hệ công dân tương lai.

Vì vậy, chất lượng con người luôn là kết quả trực tiếp của chất lượng giáo dục; và đến lượt mình, chất lượng con người sẽ quyết định năng lực phát triển của quốc gia.

 

Lịch sử Việt Nam cho thấy nhận thức nhất quán về vai trò trung tâm của giáo dục trong chiến lược phát triển đất nước. Từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến việc thành lập Quốc Tử Giám năm 1076, các triều đại phong kiến đã coi đào tạo và tuyển chọn nhân tài là nền tảng của quốc gia.

 

Đỉnh cao của tư tưởng ấy được thể hiện dưới thời Lê Thánh Tông qua lời khẳng định của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Đây không chỉ là quan điểm về giáo dục mà còn là triết lý phát triển quốc gia, đặt con người ở vị trí trung tâm của sự hưng thịnh và bền vững.

 

Bước sang thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng lấy con người làm gốc tiếp tục được kế thừa và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, đồng thời nhấn mạnh trong thư gửi học sinh ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng tương lai của dân tộc phụ thuộc vào kết quả học tập và rèn luyện của thế hệ trẻ.

 

Những quan điểm đó cho thấy giáo dục không chỉ nhằm nâng cao dân trí mà còn hướng tới xây dựng những con người có đạo đức, bản lĩnh, tinh thần yêu nước và năng lực cống hiến cho đất nước.

 

Triết lý giáo dục – nền tảng định hình tương lai dân tộc

Không có một nền giáo dục phát triển bền vững nếu thiếu một triết lý giáo dục rõ ràng. Triết lý giáo dục không phải là khẩu hiệu hay tập hợp những mục tiêu trước mắt, mà là hệ thống quan điểm nền tảng định hướng toàn bộ hoạt động giáo dục, trả lời câu hỏi cốt lõi: giáo dục đào tạo con người như thế nào và để phục vụ mục tiêu phát triển nào của quốc gia.

 

Khi triết lý giáo dục được xác lập, từ mục tiêu, chương trình, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá đến đào tạo đội ngũ nhà giáo đều vận hành theo một định hướng thống nhất, tạo nên tính ổn định, nhất quán và bền vững của hệ thống giáo dục.

 

Thực tiễn quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình hay triết lý giáo dục chung cho mọi quốc gia. Mỗi nền giáo dục thành công đều được xây dựng trên nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế và mục tiêu phát triển riêng.

 

Nhật Bản lấy kỷ luật, trách nhiệm và tinh thần cộng đồng làm giá trị cốt lõi; Phần Lan đề cao bình đẳng, sáng tạo và năng lực tự học; Singapore hướng tới đào tạo nguồn nhân lực có năng lực cạnh tranh toàn cầu nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc.

Điểm chung của các quốc gia này không phải là sao chép lẫn nhau, mà là xây dựng triết lý giáo dục phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển của chính mình.

 

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và kinh tế tri thức đặt ra đòi hỏi phải nghiên cứu, từng bước hình thành một triết lý giáo dục mang bản sắc Việt Nam.

 

Triết lý đó cần kế thừa truyền thống hiếu học, lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và đoàn kết của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của giáo dục hiện đại như tư duy phản biện, đổi mới sáng tạo, năng lực số, học tập suốt đời và năng lực hội nhập quốc tế.

 

Mục tiêu xuyên suốt là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, vừa có tri thức, phẩm chất và bản lĩnh, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

 

Thế Nguyễn – Minh Văn

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Cơ hội 'dân số vàng' của Việt Nam sắp hết, dân số già đến nhanh hơn

 

CƠ HỘI 'DÂN SỐ VÀNG' CỦA VIỆT NAM SẮP HẾT, DÂN SỐ GIÀ ĐẾN NHANH HƠN

 

Những biến động dân số không còn là câu chuyện của tương lai xa mà đang hiện hữu trong từng gia đình, từng địa phương và sẽ tác động sâu sắc đến tăng trưởng kinh tế - xã hội của Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.

 

Từ báo cáo "Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074" do Cục Thống kê chủ trì xây dựng với sự hỗ trợ của UNFPA, phân tích ba xu hướng lớn đang định hình tương lai đất nước: mất cân bằng giới tính khi sinh và hệ lụy với hôn nhân; sự đảo chiều tăng trưởng dân số tại nhiều địa phương; cơ hội dân số vàng đang dần khép lại khi già hóa dân số diễn ra nhanh hơn dự báo.

 

Việt Nam kết thúc thời kỳ 'dân số vàng' sớm 3 năm so với dự báo

Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" từ năm 2007 khi tỷ trọng dân số trẻ em (từ 0-14 tuổi) nhỏ hơn 30%, tỷ trọng dân số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) nhỏ hơn 15%. Lúc này, cứ hai người trong độ tuổi lao động (từ 15-64 tuổi) gánh một người ở độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 hoặc từ 65 trở lên).

 

Trong suốt giai đoạn 2024-2035, dân số trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) duy trì ở mức rất cao, từ 67,4% năm 2024 xuống 66,9% năm 2035. Các chuyên gia nhận định, lực lượng đông đảo này tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển nguồn nhân lực.

 

Đến năm 2036, tỷ trọng người cao tuổi tăng lên 15%, lần đầu tiên vượt ngưỡng để xác định thời kỳ "dân số vàng". Đây được xem là thời điểm Việt Nam chính thức bước ra khỏi giai đoạn "dân số vàng". Như vậy, so với dự báo năm 2019, thời kỳ dân số vàng của Việt Nam sẽ kết thúc sớm hơn 3 năm. 

 

GS.TS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội), đánh giá cơ hội này chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử mỗi quốc gia và thường kéo dài 30-45 năm. Việt Nam đã tận dụng được 20 năm và hiện còn khoảng 10 năm. 

 

Ông Cử nhấn mạnh đây là giai đoạn then chốt để Việt Nam tạo ra kỳ tích kinh tế tương tự như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã làm được. Vị chuyên gia cho rằng tận dụng cơ cấu dân số vàng này, chúng ta phải cấp bách nâng cao năng suất, thu nhập tốt. Song song đó, cần tăng tốc đầu tư sức khỏe thể chất, chiều cao cho nam nữ thanh niên.

 

Khi nào người cao tuổi nhiều hơn trẻ em?

Năm 2024, chỉ số già hóa đạt 60,2%, cứ 100 trẻ em có khoảng 60 người cao tuổi. Đến năm 2034, số người cao tuổi sẽ vượt số trẻ em. Đây được xem là ngưỡng dân số quan trọng, là mốc đánh dấu dự báo Việt Nam bắt đầu thời kỳ dân số già, theo phương án trung bình.

 

Nếu năm 2024, cứ 2 trẻ em có khoảng 1 người cao tuổi, thì 50 năm sau đó, cứ 2 trẻ em có khoảng 4 người cao tuổi. Khi đó, áp lực già hóa ngày càng lớn đối với lực lượng trong độ tuổi lao động và hệ thống an sinh xã hội.

 

Thời kỳ dân số già của Việt Nam sẽ kéo dài 15 năm, từ năm 2034 đến năm 2049. Sau giai đoạn này, từ năm 2050 đến 2074, Việt Nam sẽ có cơ cấu dân số rất già tương ứng với tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm trên 21%. Đến năm 2074, con số này đạt 27,3% tổng dân số, xấp xỉ mức mà Nhật Bản đang đối mặt hiện nay.

 

Tuổi thọ bình quân từ lúc sinh của Việt Nam không ngừng tăng qua các năm, đạt 74,7 tuổi vào năm 2024. So với năm 2019, tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của Việt Nam đã tăng lên 1,1 năm sau giai đoạn 5 năm.

Theo dự báo, từ giai đoạn 2024- 2064, mỗi 5 năm, tuổi thọ người dân nước ta sẽ tăng thêm 0,5 - 0,6 năm. Tốc độ này sẽ giảm dần vào cuối thời kỳ dự báo.

 

Võ Thu