Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

Già đi không đáng sợ như bạn nghĩ

 

GIÀ ĐI KHÔNG ĐÁNG SỢ NHƯ BẠN NGHĨ

 

Dưới đây là chia sẻ của Chip Conley tác giả của cuốn sách “Hạnh phúc tuổi trung niên”

Khi già đi, tôi học cách yêu thương nhiều hơn

Một thay đổi rõ rệt khác là tôi trở nên giàu lòng trắc ẩn hơn. Tuổi tác giúp tôi bớt đặt cái tôi của mình ở trung tâm, biết nhìn cuộc đời qua lăng kính của người khác. 

Tôi hiểu rằng ai cũng đang mang trong mình những nỗi lo, những áp lực mà không phải lúc nào cũng nói ra.

 

Điều quan trọng hơn cả là tôi học được cách đối xử dịu dàng với chính mình. Thay vì tự trách khi thất bại hay mệt mỏi, tôi cho phép bản thân được yếu đuối. 

Chính sự bao dung ấy mang lại cho tôi cảm giác hạnh phúc mà trước đây tôi chưa từng có.

Biết tạo môi trường sống phù hợp

Tuổi tác giúp tôi hiểu rõ hơn môi trường nào khiến mình phát triển và cảm thấy bình an. 

Các nhà khoa học gọi đó là khả năng "làm chủ môi trường", biết lựa chọn, điều chỉnh và thích nghi với hoàn cảnh sống.

 

Chính sự từng trải, kết hợp với lòng trắc ẩn, giúp những người lớn tuổi thường tạo ra cảm giác an toàn về tâm lý cho những người xung quanh.

Khi môi trường sống và làm việc trở nên dễ chịu, hạnh phúc cũng có điều kiện để nảy nở.

 

Hạnh phúc cuối cùng nằm ở các mối quan hệ

 

Người ta vẫn nói rằng, trước khi rời khỏi cuộc đời, con người thường tự hỏi: Liệu mình đã từng được yêu thương thật sự hay chưa? Với tôi, tuổi 50 giúp tôi hiểu rõ hơn giá trị của các mối quan hệ.

 

Nghiên cứu kéo dài nhiều thập kỷ của Đại học Harvard về sự phát triển con người, cũng như các nghiên cứu về những "Vùng Xanh", nơi có tuổi thọ cao nhất thế giới, đều chỉ ra rằng các mối quan hệ tốt đẹp chính là yếu tố quan trọng giúp con người sống lâu hơn và hạnh phúc hơn.

 

Có lẽ, hạnh phúc không nằm ở việc níu giữ tuổi trẻ, mà ở khả năng trưởng thành về mặt cảm xúc, biết yêu thương đúng cách và sống bình an trong chính cuộc đời mình.

 

 

Học tập bác về tinh thần tự học

 

HỌC TẬP BÁC VỀ TINH THẦN TỰ HỌC

Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, Bác ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, trong khoảng thời gian đó trở đi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải trải qua rất nhiều giai đoạn khó khăn. Bác bị thực dân bắt bớ, tù đầy, bị kết án tử hình...

 

Trong hoàn cảnh đặc biệt đó Bác phải vừa làm việc kiếm sống, vừa không ngừng tự học nâng cao trình độ, nhận thức và lý luận để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng quốc tế.

 

Cũng chính nhờ sách báo và tự học mà Bác đã tìm ra con đường cách mạng cứu nước, cứu dân. Tự học ở Bác là kiên nhẫn, kiên trì, sáng tạo. Bác học ngoại ngữ, học viết báo, viết các bài tham luận để tham dự các Hội nghị Quốc tế, để nói lên tiếng nói của những dân tộc cùng khổ, để thế giới biết đến dân tộc Việt Nam.

 

Để có thể hiểu hơn về tinh thần tự học của Bác chúng ta cùng tìm hiểu qua câu chuyện tự học tiếng Pháp của Bác, chuyện kể rằng:

Mùa hè năm 1911, Bác đặt chân lên đất Pháp, đối với Bác, kể từ thời điểm đó mọi việc từ sinh hoạt hàng ngày, tới công việc, nhằm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đều phải sử dụng tiếng Pháp.

 

Vì thế, nếu không biết tiếng Pháp thì thật là “trở ngại lớn nhất trên con đường tìm đường cứu nước, cứu dân”. Bác đã đặt ra quyết tâm “Nhất định phải học nói, học viết cho kỳ được” và Bác đã tìm ra được phương pháp học cho riêng mình dù trong hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn.

 

Ngay khi còn trên chuyến tàu sang Pháp (La-tu-sơ Tơ-rê-vin, dưới tên Văn Ba) mỗi lúc rảnh rổi, Bác thường tìm đến hai người lính trẻ đi cùng chuyến tàu để học đọc và viết tiếng Pháp. Họ cho Bác mượn những quyển sách nhỏ in tiếng Pháp.

Muốn biết rõ về cái gì, muốn biết đồ vật nào đó viết bằng tiếng Pháp như thế nào, Bác đều chỉ tay hỏi. Tối tối, sau khi đi làm về, Bác ghi lại những từ mới vào. Học được chữ nào, Bác ghép chúng lại thành câu thực hành ngay.

 

Ban đầu, Bác tập ghép một vài từ, sau ghép thành đoạn, dần dần Người tập viết thành từng bài dài. Một thời gian sau, Bác tìm đến các tờ báo của Pháp để xin được viết bài đăng báo. Trong những lần gửi bài, Bác nói với mọi người trong Tòa soạn rằng: “Tôi rất sung sướng nếu bài viết này của tôi được đăng, nhưng dù thế nào cũng xin các đồng chí sửa lỗi tiếng Pháp cho tôi”.

 

Sau mỗi lần bài viết của Bác được đăng báo, Bác vui mừng khôn xiết, và theo chỉ dẫn của những chủ bút Bác vẫn không quên xem lại từng câu từng chữ, xem bài viết của mình đúng sai chỗ nào, Toà soạn báo đã sửa lại cho mình ra sao? Bác tập viết đi viết lại, khi thì viết diễn giải ra cho dài, lúc là những đoạn ngắn cho súc tích.

 

Cứ sau mỗi ngày làm việc, dù công việc bận bịu tới đâu, Bác vẫn tranh thủ đọc vài trang tiểu thuyết, vừa để giải trí, thư giãn đầu óc lại vừa để trau dồi kiến thức. Bác tập viết những bài phóng sự.

 

Sáng nào Bác cũng viết từ 5 giờ đến 6 giờ rưỡi, tới 7 giờ Bác lại bắt tay vào công việc. Dù trời nóng hay rét, Bác cũng không nản chí. Thấm thoắt thời gian trôi đi, cho đến năm 1922, Bác đã trở thành chủ bút của tờ báo “Người cùng khổ” viết bằng 3 thứ tiếng.

 

Tên báo bằng tiếng Pháp đặt ở giữa, chữ Ả Rập bên trái và bên phải là chữ Hán, tất cả đều do Bác viết. Do Tòa soạn báo không có Ban biên tập thường xuyên, nên nhiều khi Bác phải “cáng đáng” mọi việc từ khâu sửa chữa, biên tập bài vở, tới khâu bán báo.

 

Qua câu chuyện trên, chúng ta rút ra được bài hoc quý báu: Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân.

 

Tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học.

 

Tấm gương sáng của Người là nguồn cổ vũ, nguồn cảm hứng vô tận cho mỗi người Việt Nam xây dựng xã hội học tập hiện nay.

 

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

Đàn ông là gì?

 

ĐÀN ÔNG LÀ GÌ?

 

Vẻ đẹp và sức cuốn hút của đàn ông chính là sự tỏa sáng của nhân tính, nhân cách, nhân sinh, chính nghĩa, cốt cách, phẩm đức, tài hoa, rộng lượng, khí chất và thành tín. Đó là người đóng góp vào đạo đức của xã hội, cũng người tồn tại để duy trì đạo đức của gia đình. Nam giới sở dĩ được gọi là “đàn ông”, là “đấng nam nhi” chính là vì có cốt cách đàn ông.


Phẩm đức của đàn ông là thể hiện của tâm hồn. Cốt cách của đàn ông là thể hiện của ý chí. Người đàn ông không có cốt cách thì không thể gọi là người đàn ông chân chính. Lý trí và trầm tĩnh, đó chính là phẩm chất mà một người đàn ông ưu tú cần phải có.

Vậy, đàn ông là gì? Đó là người đóng góp vào đạo đức của thế giới, người tồn tại để duy trì đạo đức của thế giới, và người hỗ trợ cho thế giới phụ nữ và con cái của họ.

 

Khi hoà thượng Miller, tổ tiên của phái Tây Tạng đã đưa ra lời nhận xét đúng đắn nhất cho những người đàn ông. Xét trên phương diện làm người, đạo đức là trách nhiệm của đàn ông, đàn ông không có đạo đức thì không phải là đàn ông thực thụ.

 

Những người dành cả ngày cho những điều tầm thường, những lợi ích cá nhân và mất mát vô lý, không có đạo đức, không quan tâm đến người khác, sống vì tình dục và ham muốn, sẽ mất đi năng lượng và tinh thần của họ.

 

Đàn ông là người giữ bầu trời cho thế giới đạo đức, là người giữ bầu trời cho hạnh phúc của gia đình mình. Nam tính của đàn ông phải là hiện thân của bản chất mạnh mẽ và hoàn thiện bản thân, nhân hậu, ngay thẳng và không ngừng loại bỏ những điều xấu.

 

Thói quen và suy nghĩ không ngừng tu dưỡng bản thân, nỗ lực hết mình vì đạo đức và vẻ đẹp của thế giới, đồng thời cũng là chỗ dựa cho bầu trời đạo đức cho con cái họ, và họ là những “vị thần” trong trái tim của họ.

 

Cốt cách của đàn ông như núi: lý trí, trầm tĩnh, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm. Điều này không trái với tính khí đàn ông, mà là sự kết hợp cao độ các mặt đối lập, là sự kiểm soát bản thân và là trách nhiệm và suy nghĩ cho xã hội, cộng đồng.

 

Cốt cách của đàn ông như ngọc: cương nghị, kiên quyết, trầm tĩnh, chất phác, tao nhã. Không trải qua băng tuyết dập vùi thì không có được cốt cách cao khiết; không trải qua năm tháng mài giũa thì không có được sự phong nhã thanh tao.

 

Một người đàn ông như vậy mới là người chồng thực sự, và đó cũng là cảnh giới của “đấng nam nhi”. Phía sau một người đàn ông có cốt cách là cả quá trình gian nan cực khổ và tu dưỡng bản thân không ngừng.

 

Một người đàn ông ưu tú chân chính sẽ dùng suy xét để phán đoán, dùng lý trí để quyết định hành động, đồng thời có năng lực siêu cường nắm bắt và ước thúc bản thân. Đó chính là phẩm đức ưu tú dung hợp giữa cốt cách và lý trí mà một người đàn ông chân chính cần phải có.


Từ Thanh