Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

Văn hóa ứng xử trong cộng đồng

 

VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG CỘNG ĐỒNG

 

Để nâng cao văn hóa ứng xử trong xã hội, cần bắt đầu điều chỉnh từ thế hệ trẻ và gốc rễ phải là từ gia đình, vì đây mới là nơi trẻ học được những giá trị sống thật sự và những kỹ năng sống trong cuộc đời.

Các bậc bố mẹ trước hết phải làm gương cho con, không thể bố mẹ vượt đèn đỏ khi chở con, xui con quay cóp cho khéo, nhận tiền tham nhũng tại nhà… mà lại dạy con hành xử có văn hóa được. Thực tế cho thấy, dù hoàn cảnh xã hội có tha hóa đến đâu, nếu giữ được nếp nhà thì người trẻ sẽ có bản lĩnh đối phó với cái xấu. 

Nhà trường cũng cần định hình những phong cách văn hóa ứng xử phù hợp và đưa vào nội dung giảng dạy cho học sinh các cấp thông qua những hình ảnh, tình huống, câu chuyện cụ thể để hướng dẫn các em cách ăn mặc, ứng xử trong giao tiếp như:

Thế nào là trang phục phù hợp khi đi học, đi dã ngoại, đi nhà hát..., cách ăn uống, chào hỏi, cư xử khi đến nhà bạn, khi đến nơi công cộng... Bên cạnh đó, những địa điểm như nhà hát, thư viện, trung tâm mua sắm, cần có quy tắc ứng xử rõ ràng cho cả người tham dự và nhân viên.

Nếu không có cơ chế bắt buộc thi hành thì văn hóa ứng xử sẽ không thể nhân rộng, thậm chí ngày càng thui chột đi.

St

Cô thôn nữ quyết cưới anh lính đặc công mù, nửa thế kỷ giữ một cam kết

 

CÔ THÔN NỮ QUYẾT CƯỚI ANH LÍNH ĐẶC CÔNG MÙ, NỬA THẾ KỶ GIỮ MỘT CAM KẾT

 

Một lời ước hẹn, kiên định lựa chọn một đời

 

Đến tận bây giờ, ông vẫn không cắt nghĩa được vì sao vợ ông - một cô gái xinh đẹp, có bố công tác trong quân đội, tương lai rộng mở - lại quyết lấy ông, một anh thương binh mù làm chồng.

 

Tình yêu của anh lính đặc công và bà Hồ Thị Thắng (SN 1953, trú cùng quê xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu cũ, nay là xã Quỳnh Tam) nảy nở vào năm 1971, trong lần ông từ chiến trường Trị - Thiên ra Bắc huấn luyện chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Kết thúc huấn luyện, ông Thiềng vào chiến trường Nam Bộ chiến đấu mang theo lời hẹn ước ngày hòa bình sẽ trở về làm đám cưới.

 

Ngày 28/10/1972, trong khi làm nhiệm vụ, ông bị thương vào mắt và lọt vào ổ phục kích của địch. Sau 7 ngày bị tra tấn tàn bạo mà không khai thác được thông tin gì, địch đưa ông về Trại giam Hố Nai, Biên Hòa. Nếm đủ mùi tra tấn, bị nhốt vào chuồng cọp, thương tích đầy mình, đói, khát nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết người lính đặc công.

 

Năm 1973, ông Thiềng được trao trả sau khi hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam.

Những ngày ở trại an dưỡng tại tỉnh Bình Phước cũ, ông nhờ người viết thư cho gia đình nhưng không dám nói mình bị thương, đã mù 2 mắt. Trước đó quê nhà nghe tin ông đã hi sinh nên đọc thư gửi về mọi người không dám tin, bởi chữ trong thư quá khác.

 

Ông ra Bắc điều trị, nhờ người viết thư về cho bà Thắng. Nét chữ có khác nhưng bà Thắng nhận ra một dòng trong bức thư trước đó anh lính gửi về mà bà đã chép trong nhật ký. Bà tin ông còn sống, nhưng có lẽ tay bị thương không thể tự viết.

 

Năm 1974, ông từ trại an dưỡng về thăm quê. Gần tối, nhà ông đón mấy người khách tới thăm. Có người dúi vào tay ông Thiềng một bàn tay, hỏi ông có nhận ra ai không. Ông cầm lấy, cảm nhận được bàn tay thân thuộc... nhưng cổ họng nghẹn lại không biết nói gì.

 

Ông viện cớ mắt đau, xin phép vào buồng nhỏ thuốc. Căn buồng nhỏ lặng lẽ có thêm một người, nghe tiếng nấc nghẹn kìm nén, ông biết đó là ai...

Trong lòng nổi bão giông nhưng ông vẫn cứng cỏi động viên người yêu đừng vì lời hẹn ước trước kia mà chịu khổ. “Ta chưa ràng buộc gì, em cứ đi lấy chồng đừng theo anh mà khổ”, ông nói.

 

Bà Thắng phân trần rằng khóc vì thương, không phải vì ông không còn lành lặn mà phai nhạt. Dù ông có sao đi nữa, tình cảm của bà vẫn nguyên vẹn như ngày đầu.

Những lần gặp gỡ hiếm hoi tiếp theo, cô thôn nữ càng thêm chắc chắn với lựa chọn của mình. Cô muốn là đôi mắt của anh, cùng anh đi hết quãng đời còn lại dù biết bao khó khăn, thử thách.

 

“Lúc quyết định lấy nhau, tôi chỉ có một giao kèo, nếu sau này sống với nhau, có điều gì không bằng lòng thì nói trước mặt, không được nói sau lưng. Suốt hơn 50 năm, tôi chưa thấy bà ấy than khổ, chưa một lần kêu hối hận vì sự lựa chọn của mình”, ông Thiềng kể.

 

"Anh không tiếc máu xương cho Tổ quốc, sao tôi lại sợ khổ?"

Nghe chồng nói, bà Thắng chỉ cười hiền. Suốt nửa thế kỷ qua, vất vả, gian truân nhưng bà chưa một lần lấn cấn về lựa chọn của mình. Bà không cắt nghĩa được vì sao giữa nhiều lựa chọn tốt hơn, bà lại chọn ông, người đã mất đến 95% sức khỏe, đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng.

 

“Anh ấy bị thương, như thế đã thiệt thòi lắm rồi. Anh không tiếc máu xương cho Tổ quốc, không màng nguy hiểm, sao tôi chỉ vì sợ khó, sợ khổ mà thoái lui”, bà tâm sự. Có lẽ, trong tình yêu kiên định của cô thôn nữ còn là tình thương và sự nể phục dành cho người lính đặc công...

 

Tháng 2/1975, đám cưới giản dị được tổ chức. Người vui cho ông Thiềng, có người lo cho bà Thắng. Nhưng bằng tình yêu và sự kiên định, chính cô thôn nữ ấy đã chèo lái cả gia đình, xây đắp nên hạnh phúc của mình.

 

Cưới nhau về, bà Thắng vẫn ở nhà chăm sóc người mẹ đau yếu, còn ông Thiềng vào trại điều dưỡng thương binh ở tỉnh Vĩnh Phú cũ. Thời ấy đi lại khó khăn, giao thông cách trở, họ là vợ chồng nhưng vẫn trong cảnh yêu xa.

 

Bà chu toàn nhiệm vụ của con dâu trưởng, vừa chăm sóc mẹ, lo cho em trai khi bố công tác xa. Năm 1977, ông Thiềng chuyển về an dưỡng tại Nghệ An. Mãi đến năm 1979, vợ chồng ông Thiềng mới có con đầu lòng.

 

Ngày bà Thắng chuyển dạ, ông xin về nhà chăm sóc hai mẹ con. Không còn đôi mắt nhưng ông còn đôi tay và tình yêu vô bờ bến cho vợ con.

Ông lần mò trong bóng tối, tập thay tã cho con, bế ẵm để vợ nghỉ ngơi.

 

Lần lượt 4 người con nữa ra đời, gánh nặng trên đôi vai bà Thắng trĩu hơn. Ông Thiềng quyết định xin rời trung tâm điều dưỡng thương binh về nhà.

Đôi mắt bị mù, không thể làm ruộng hay đi chặt củi, ông lựa chọn làm “hậu phương” cho vợ, chu toàn việc chăm sóc, bảo ban các con.

 

Sau nửa thế kỷ nương tựa qua giông bão, quả ngọt lớn nhất bà Thắng và ông Thiềng là sự trưởng thành, vững vàng của 5 người con - minh chứng thiêng liêng cho một câu chuyện tình bước ra từ khói lửa chiến tranh.

 

Hoàng Lam

 

 

 

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2026

Phụ nữ khi yêu: Nên lắng nghe lý trí hay thuận theo con tim?

 

PHỤ NỮ KHI YÊU: NÊN LẮNG NGHE LÝ TRÍ HAY THUẬN THEO CON TIM?

 

Đi theo những gì con tim mách bảo hay lắng nghe lý trí dẫn đường? Đó là câu hỏi khó mà người phụ nữ nào khi yêu cũng tự hỏi đôi lần.

 

Khi tình yêu bắt đầu, người ta luôn cảm nhận được những điều khác lạ. Là cảm giác lâng lâng hạnh phúc không nói thành lời. Là cảm xúc vỡ òa khi ta được nhìn thấy nhau. Là nồng cháy của những nụ hôn thắm thiết. Là trao nhau niềm tin tưởng tuyệt đối và nếu cần là hòa lẫn vào nhau cả hồn lẫn xác.

 

Khi yêu, ai cũng khao khát được ở bên cạnh người mình yêu mãi mãi, được cùng người ấy làm mọi thứ, được nắm tay thật chặt vượt qua mọi khó khăn thử thách để đi đến cuối con đường hạnh phúc. 

 

Thế nhưng, không phải phụ nữ khi yêu ai cũng may mắn có ngay mối quan hệ trở thành “tình yêu của cuộc đời”. Đôi khi, có những mối quan hệ buộc bạn phải đứng giữa ngã ba đường, chênh vênh với câu hỏi: Nên chọn con tim hay nghe theo lý trí?

Tình yêu luôn bắt đầu từ con tim

Phụ nữ khi yêu, dù trải qua bao nhiêu mối tình thì mỗi người đều có hai cuộc tình “khắc cốt ghi tâm”, đó là tình đầu và tình cuối. “Mối tình thời thanh xuân” là mối tình chớm nở khi ta còn trẻ dại, đánh dấu những rung cảm đầu đời với người khác giới.

Mối tình đầu thường là những nhịp đập loạn nhịp của con tim hoang sơ dẫn lối. Mọi thứ trong cuộc tình này được phủ một màu hồng thơ mộng.

 

Thanh xuân ai cũng một lần từng yêu chân thành bằng cả con tim như thế. Đó là thứ cảm xúc thi vị, khi bạn yêu một ai đó không toan tính, không để lý trí can thiệp quá nhiều. Thế nhưng, mối tình đầu thường không thành. Chàng trai đi cùng bạn năm 17 tuổi khó có thể đi cùng bạn cả đời. Vì tình yêu duy chỉ có con tim tuy đẹp nhưng khá bỡ ngỡ và vụng dại.

 

Đến cuối cùng, vẫn là con tim dẫn lối

Khi nghĩ về mối tình cuối, hẳn nhiên phụ nữ khi yêu lúc này dường như mang trái tim đã có vài “vết xước”. Sau những dại khờ, những mối quan hệ bắt đầu chớm nở là khi lý trí nhen nhóm cân nhắc hơn về đối phương. 

Nếu như con tim đơn thuần có thể rung động trước một khuôn mặt lãng tử, một vẻ ngoài phong trần cuốn hút thì lý trí lúc này lại thôi thúc bạn tìm hiểu thêm về nhân cách của đối phương.

 

Bạn sẽ bắt đầu xem xét những khía cạnh khác như tính cách, công việc, gia đình có phù hợp để tiếp tục và tính chuyện “trăm năm”. Tình yêu nghiêng về lý trí cũng là khi phụ nữ đã trưởng thành và đã trải qua những tổn thương. Họ thường đặt ra nhiều hình mẫu lý tưởng để tránh đi vào “vết xe đổ” ngày nào.

 

Thế nhưng, mối tình cuối vẫn sẽ bắt đầu và gắn kết bền lâu bằng con tim theo cách riêng của nó. Người phụ nữ lúc này có thể trưởng thành và sâu sắc hơn, nhưng với mối tình cuối vẫn đầy hưng phấn và khát khao.

 

Bởi vì đó sẽ là mối quan hệ cho bạn được cảm xúc bồi hồi như mối tình đầu. Con tim bắt đầu thổn thức và vun đầy niềm tin trở lại sau bao tổn thương. Con tim vẫn luôn có những lý lẽ riêng của nó, dẫu lý trí đến đâu bạn vẫn phải đầu hàng với hai chữ “duyên phận”.

 

St