LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH –
NGƯỜI KHIẾN VUA MINH PHẢI E SỢ
Một trong những vị trạng nguyên của
Đại Việt khiến phong kiến phương Bắc khâm phục và nể sợ là trạng nguyên Đào Sư
Tích (1350- 1396) – quê ở xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Khi đi sứ
phương Bắc, Đào Sư Tích đã chứng tỏ được trí tuệ uyên bác của mình. Khâm phục
tài trí của ông, vua Minh phong ông làm Lưỡng quốc trạng nguyên nhưng sau đó lại
có dã tâm sai người ngầm sát hại.
Thần đồng Đào Sư Tích
Trạng nguyên Đào Sư Tích sinh trưởng tại vùng đất địa linh nhân kiệt, vùng
đất nổi tiếng khoa bảng thuộc xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Cha ông - Tiến sĩ Đào Toàn Bân được triều đình bổ nhiệm làm quan tại phủ
Thiên Trường, tỉnh Nam Định nên cậu bé Đào Sư Tích theo cha về Nam Định sinh
sống để được cha dạy dỗ học hành. Từ nhỏ Đào Sư Tích đã bộc lộ trí tuệ phi
phàm, bảy tuổi ông nổi tiếng là Thần đồng của nước Đại Việt.
Ở khoa thi Hương, Đào Sư Tích đỗ danh sách thứ nhất (Hương nguyên). Vào
thi Hội, thi Đình ông đều đỗ thứ nhất: Đình Nguyên, Trạng nguyên nên ông được
phong là vị Tam nguyên đầu tiên và duy nhất đời Trần. Không chỉ là một vị quan
thanh liêm của Đại Việt, Đào Sư Tích còn là một nhà ngoại giao đại tài khi đi
sứ phương Bắc khiến vua Minh e sợ.
Vào những năm 1380, quan hệ giữa nhà Minh và Đại Việt rất xấu. Nhà Minh
tạo nhiều sức ép nhằm có cớ để xâm chiếm Đại Việt. Tháng 9 năm 1384, nhà Minh
yêu cầu Đại Việt phải cung cấp lương thực cho quân Minh đang ở Vân Nam.
Tháng 3 năm 1385, nhà Minh lại yêu cầu phải nộp 20 tăng nhân. Tháng 2 năm
1386, nhà Minh lại đòi phải nộp các loại cây ăn quả quý, cấp 50 thớt voi để
đánh Chiêm Thành.
Tháng 6 năm 1395, quân Minh tiến đánh quân phản loạn ở Quảng Tây, yêu cầu
Đại Việt phải cung cấp 5 vạn quân, 50 vạn thạch lương, 50 thớt voi.
Về yêu cầu này, nhà Trần chỉ nộp lương thực, quân Minh yêu cầu phải nộp
tiếp tăng nhân, thanh niên và phụ nữ phục vụ chiến trường.
Các yêu cầu của nhà Minh ngày càng vô độ nên triều đình cần người tài giỏi
đi sứ nhằm xoay chuyển tình thế. Bấy giờ nhà Trần ở vào thời mạt, quyền lực
trong triều dần bị Hồ Quý Ly nắm lấy.
Hồ Quý Ly khi tìm người thì thấy chỉ có mình Đào Sư Tích từng đỗ trạng
nguyên là có thể đáp ứng được yêu cầu này. Tuy nhiên lúc này Đào Sư Tích chán
cảnh Hồ Quý chuyên quyền nên đã cáo quan về quê bốc thuốc và dạy học.
Dù không ưa gì Đào Sư Tích nhưng vì không thể có ai thay thế, Hồ Qúy Ly
đành phải xin vua Trần cho Đào Sư Tích đi sứ. Khi Hồ Quý Ly triệu Đào Sư Tích
vào triều có ra lệnh nếu Đào Sư Tích không hồi triều đi sứ sẽ bị tru di tam
tộc.
Để đề phòng dòng họ bị sát hại, Đào Sư Tích đã đổi con cháu sang họ Phạm
rồi mới về triều. Sau này lại có người đổi từ họ Phạm sang họ Dương. Vì thế mà
ngày nay từ đường họ Đào ở Cổ Lễ (quê của Đào Sư Tích) có bức đại tự ghi là Đào
– Phạm – Dương. Bên cạnh đó, có một nhánh con cháu họ Đào đổi sang họ Nguyễn.
Vị trạng nguyên khiến vua Minh e sợ
Chuyến đi sứ này Đào Sư Tích đã thuyết phục nhà Minh bỏ và giảm nhẹ nhiều
lệ cống nạp hàng năm, trong đó bỏ hẳn được việc cống nạp tăng nhân, góp phần
quan trọng kéo dài thời gian hòa hoãn cho Đại Việt.
Tài năng, trí tuệ của Đào Sư Tích khiến triều đình nhà Minh cũng phải e
ngại, trong dân gian còn lưu truyền lại một giai thoại về chuyến đi sứ cuối
cùng và sự việc khiến ông qua đời.
Khi thời hạn đi sứ sắp hết, vua Minh có hỏi Đào Sư Tích rằng: “Nếu Bắc
đánh Nam thì ai thắng?”
Đào Sư Tích bèn ngâm hai câu thơ trả lời:
Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng
Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.
Câu trả lời của Đào Sư Tích khiến các quan võ cười khoái trá nhưng vua
Minh và các quan văn thì không thể cười được, bởi hai câu thơ này có đến 5 chữ
“thắng”, 5 chữ “thua”. Ngụ ý nhà Minh tiến đánh Đại Việt thì 5 thắng 5 thua tức
không thể thắng được.
Câu trả lời lời của Đào Sư Tích thể hiện được ý chí của nước Nam lại cũng
không làm phật lòng vua Minh, giúp kéo dài thời gian hỏa hoãn giữa hai nước, có
lợi cho Đại Việt.
Vua Minh lại hỏi tiếp: “Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng
dân ly tán, tại sao ta không thắng?”
Đào Sư Tích cũng lại đáp bằng hai câu thơ: “Trần thực, Hồ hư, hư hư thực/
Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư”. Nghĩa là: “Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư,
hư là hư thực/ Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư.”
Biết không dễ gì khuất phục được một người giỏi như Đào Sư Tích, vua Minh
liền nghĩ cách phải triệt hạ ông. Vua trao cho vị quan chuyên tiếp đón Đào Sư
Tích bốn phong thư và dặn rằng phải mở theo thứ tự.
Viên quan này mở phong thư thứ nhất thấy có câu “thượng văn vấn, hạ tri
vương” nhưng không hiểu ý là gì bèn hỏi Đào Sư Tích.
Đào Sư Tích trả lời rằng: “Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ (耳). Vấn là hỏi, hỏi là khẩu (口). Bên dưới có chữ vương (王). Hợp ba chữ: nhĩ, khẩu, vương
thành chữ thánh (聖).
Vua Minh có ý bảo ta là thánh nhân đó mà. Vua Minh quá khen, cho ta là bậc
thánh hiền. Ta đâu dám nhận lời khen đó.” Sau đó vị quan mở phong thư thứ 2,
đây chính là đáp án giải nghĩa cho phong thư thứ nhất, đúng như những gì Đào Sư
Tích đã giải nghĩa khiến viên quan kinh ngạc và thán phục.
Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm lưỡng quốc trạng nguyên, tức
trạng nguyên của cả Trung Hoa lẫn Đại Việt.
Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:
"Hậu hoạ
Nhất dược nhị đao".
Vị quan này hiểu rằng đây là mệnh lệnh phải giết Đào Sư Tích bằng đao hoặc
độc dược nên ông rất buồn bã. Nhìn vẻ mặt của vị quan này, Đào Sư Tích đoán
được sự việc liền an ủi rằng: “Thánh thì thoát tục. Ông chẳng nên quá buồn rầu.
Chỉ xin cho được chết bằng thuốc độc để ông khỏi phải khổ tâm khi phải trực
tiếp giết ta”.
Sau đó, Trạng nguyên Đào Sư Tích qua đời khi đi sứ xứ người. Thi hài ông
được đưa về nước mai táng tại phủ Thiên Trường – Nam Định. Sau khi mất, ông đã
được người dân lập đền thờ tại nhiều nơi, hiện đền thờ Đào Sư Tích có ở Bắc
Giang, Nam Định đều được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Cuộc đời của Đào Sư Tích đã đi vào tâm thức dân gian, ca dao cũng như lời
hát ru con của người dân nơi quê ông trong đó có những câu ngợi ca tài đức của
ông: “Bảy tuổi đắc phong thần đồng/Hữu tài thành chủ hàm công rõ rành./ Thi
Hương, thi Hội, thi Đình, Đứng đầu Đại Việt, anh minh sáng ngời…”
Theo báo PLVN