Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

“Tôn sư trọng đạo” thời nay

 

“TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO” THỜI NAY

 

Tinh thần tôn sư trọng đạo đã ăn sâu vào đạo lý và nhân cách của người Việt qua nhiều thế hệ, nhưng thời nay thì tinh thần “Tôn sư trọng đạo” đang dần bị sa sút.

Sự xuống cấp về đạo đức thể hiện ở việc con cái có hành vi hỗn hào với cha mẹ và học trò thiếu tôn trọng thầy cô.

 

Nhiều học sinh được cha mẹ quá nuông chiều, dẫn đến "cái tôi" lớn. Các em mang thái độ này vào trường học, xem thầy cô như người có trách nhiệm "phục vụ" và không cần tuân thủ nề nếp. Khi bị trách phạt, các em dễ có phản ứng tiêu cực, mất kiểm soát hành vi.

Đáng nói, học sinh ngày nay dễ bị ảnh hưởng bởi những nội dung tiêu cực trên mạng xã hội, như các clip "bẩn" hay các hành vi bạo lực.

 

Nhiều em có xu hướng lấy những hành động sai trái, vi phạm đạo đức, pháp luật làm "thần tượng" và hùa theo, từ đó dẫn đến những hành vi bạo lực trong học đường - bạo lực giữa các học sinh với nhau; giữa thầy và trò.

 

Ngoài ra, cả cha mẹ và giáo viên đều phải đối mặt với nhiều áp lực, căng thẳng trong cuộc sống. Điều này cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của con trẻ, làm cho các em dễ có những hành vi không đúng mực.

 

Tinh thần “tôn sư trọng đạo” bị sa sút không chỉ làm tổn thương tinh thần giáo viên mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy. Khi uy tín người thầy bị giảm sút, việc truyền đạt kiến thức và giáo dục đạo đức trở nên kém hiệu quả hơn.

 

St

“Trọc phú” là gì?

 

“TRỌC PHÚ” LÀ GÌ?

Trọc phú là một từ Việt gốc Hán, vốn chỉ kẻ làm điều bất chính mà giàu có (chữ trọc đây có nghĩa là tham lam, ti tiện, bẩn thỉu); trái nghĩa với trọc phú là thanh bần (nghèo mà trong sạch, lương thiện):

 

1- “Trọc phú” trong tiếng Hán

Hán ngữ đại từ điển từ điển xuất bản xã - 1993) giảng “trọc phú” là “bất nghĩa nhi phú. Dữ “thanh bần” tương đối”, nghĩa là “bất nghĩa mà giàu, đối nghĩa với “thanh bần”

“Bất nghĩa” trong cách giảng của Hán ngữ đại từ điển được hiểu là những việc làm không chính đáng, không hợp nghĩa lý nói chung. Ví dụ “bất nghĩa chi tài” chỉ của cải có nguồn gốc từ làm điều bất nghĩa mà có.

 

- Thà thanh bần mà an vui, còn hơn trọc phú mà chịu nhiều lo lắng. (Ninh khả thanh bần tự lạc, bất tố trọc phú đa ưu)

 

2- Trọc phú trong tiếng Việt

-Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến đức) xuất bản 1931,

- “trọc-phú • Nói người giàu mà không có vẻ thanh-nhã <>Bọn trọc phú”.

- “trọc phú: Người giàu mà tính khí đê tiện”.

 

So với nghĩa hiện thời thì sau gần 100 năm, “trọc phú” trong tiếng Việt hầu như không có gì thay đổi. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê - Vietlex. Bản có chú chữ Hán cho những từ Hán Việt) giảng: “trọc phú: người giàu có mà dốt nát, bần tiện. gã trọc phú ~ “Một bên biết việc, dám làm, lại nghèo; một bên trọc phú văn dốt vũ rát...” (Đào Vũ).

 

- Từ điển Việt Nam phổ thông (Đào Văn Tập - Sài Gòn 1951): “trọc-phú • Kẻ giàu có mà không trong sạch; thường chỉ kẻ giàu mà thất học <> hạng trọc-phú”.

Nghĩa “giàu mà nhơ-bẩn” và “kẻ giàu có mà không trong sạch” mà hai cuốn từ điển trên đây giảng có nghĩa tương tự như “bất nghĩa nhi phú” (giàu mà không trong sạch; làm điều bất nghĩa mà giàu) trong tiếng Hán.

 

3- Ai là trọc phú?

 “trọc phú” vốn chỉ kẻ “bất nghĩa mà giàu”, lại trở thành “giàu có mà ti tiện, bẩn thỉu, dốt nát” trong tiếng Việt? Điều này có nguyên nhân là kẻ bất tài, dốt nát, ti tiện thường chọn và tất phải chọn con đường bất chính để trở nên/mới trở nên giàu có.

Và khi kẻ “trọc phú” trở nên giàu có một cách nhanh chóng, trong khi không kịp bù lấp sự thiếu hụt về văn hóa, thì thường phô phang cái sự giàu một cách thô thiển, phú mà không quý, giàu mà không sang.

 

Trong thực tế, cái sự “trọc phú” hay “thanh lịch” không căn cứ vào nguồn gốc xuất thân, dốt nát, hay giỏi giang, địa vị hay bằng cấp, mà là biểu hiện cụ thể của “cách chơi”, cách sống. Từ nhà cửa, bài trí nội thất, nói năng, giao tiếp, cho đến quần áo, trang sức, cách tiêu tiền, mua sắm... đều có thể toát lên cái chất “trọc phú” của chủ nhân.

 

Như vậy, nếu như trong tiếng Hán, “trọc phú” nói lên con đường làm giàu bất chính, tài sản bất minh của chủ nhân, thì trong tiếng Việt, trọc phú lại ám chỉ kẻ giàu có mà dốt nát, thiếu văn hóa.

 

Hoàng Trinh Sơn

 

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

9 bí quyết vàng thay đổi vận mệnh, hiểu được thì hạnh phúc an nhiên

 

9 BÍ QUYẾT VÀNG THAY ĐỔI VẬN MỆNH, HIỂU ĐƯỢC THÌ HẠNH PHÚC AN NHIÊN

 

Nếu như “Mệnh” là do Trời định trước, thì “Vận” lại nằm trong tay mỗi người. Vậy chúng ta làm thế nào để có thể cải biến vận mệnh của mình?

 

Cuộc đời mỗi người trên thế gian đều khác nhau, có người cả đời đều cát tường như ý, mạnh khỏe trường thọ; có người thì trung niên gian khổ, về già mạnh khỏe yên bình; có người thì tuổi trẻ vang danh, tuổi già cô đơn khổ cực; có người thì cả đời trắc trở gian nan, mọi việc đều không như ý.

 

Vậy nguyên nhân nào dẫn đến các vận mệnh khác nhau đó? Cổ nhân đã đúc kết ra 12 bí quyết quyết định đến vận mệnh:

 

1. Mệnh

Mệnh là cố định bất biến, là đã được định trước. trong vận mệnh mỗi người, luôn có những điều mà dù chúng ta có cố gắng thay đổi thế nào đi chăng nữa cũng không thể nào xoay chuyển được, đó chính làm “mệnh”, trong Phật giáo gọi là “A lại da thức” (ālayavijñāna).

Chúng chính là một kho tàng các loại hạt giống của nghiệp thiện – ác mà một người đã tạo ra trước đó, được tập hợp lại không sót một chi tiết nhỏ nào.

 

Khi gặp thời cơ thuận lợi, một hoặc nhiều hạt giống (tốt và xấu) sẽ được đưa ra, gieo trồng và trổ quả, kết quả là người đó được sinh ra phải hưởng những quả do những kiếp quá khứ đã làm ra, không thể trốn tránh, không thể chối bỏ.

 

2. Vận

Vận tức là vận thế, có thể thay đổi được.

Nếu ví “mệnh” như một chiếc xe xuất phát từ điểm bắt đầu của cuộc đời chạy đến điểm cuối cùng; xe của bạn là loại gì, con đường như thế nào, thì đó gọi là “mệnh”. Còn cụ thể là lái xe như thế nào để đi đến hết hành trình cuộc đời bạn, đó lại là “vận”.

 

Có người vốn có một chiếc xe tốt, con đường đi cũng rất tốt, nhưng tự mình lại được chăng hay chớ, để mặc nước cuốn trôi, lái xe không cẩn thận, kết quả là cuộc đời kết thúc không có hậu.

Chính vì mệnh là cố định không thay đổi, nhưng vận lại nằm trong tay mỗi người. Bởi vậy, chúng ta thường vẫn nghe nói rằng bói mệnh, đoán mệnh, mà không có đoán vận, bói vận vậy!

 

3. Phong thủy

Phong thủy này gồm môi trường tự nhiên mà chúng ta sống, còn bao gồm cả môi trường xã hội mà chúng ta ở. Nếu ví con người như một cái cây, phong thủy chính là môi trường mà cái cây này sinh sống, ví như thổ nhưỡng, ánh sáng, lượng nước, các sinh vật khác ở xung quanh, v.v…

 

Môi trường bên ngoài này dĩ nhiên là quan trọng, nhưng bản thân cái gen di truyền và nỗ lực sinh trưởng của cây cũng rất quan trọng. Do đó phong thủy là yếu tố bên ngoài, không phải yếu tố bên trong. Tất nhiên yếu tố bên ngoài và bên trong là có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.

 

4. Đọc sách

Đọc sách giúp bạn có thêm cái nhìn đúng đắn về thế giới quan, giá trị quan và nhân sinh quan. Nhờ đọc sách, bạn có thể rút ra những bài học từ vô số các câu chuyện kim cổ, mở mang kiến thức, hấp thụ tinh hoa, hình thành những quan niệm chân chính.

 

Đọc sách giúp bạn kết giao bạn bè, mở rộng phạm vi giao tiếp. Thông qua đọc sách, bạn có thể tìm được bạn hữu tâm đầu ý hợp, mở lòng và thư thái. Đó chẳng phải là điều tốt không gì bằng đó sao!

Do đó, từ cổ chí kim, đọc sách luôn là phương pháp quan trọng thay đổi vận mệnh của con người.

 

5. Tôn kính Đạo trời

Mệnh trời tức là quy luật vận hành của Đạo Trời, cần phải kính trọng Đạo Trời. Sợ đại nhân; đại nhân không phải là người hơn bạn, mà là người tu dưỡng đạo đức rất cao, cần phải kính sợ họ, kính sợ bậc bề trên, bậc tôn giả. Sợ lời của thánh nhân, đối với những lời nói của bậc thánh hiền phải có lòng kính sợ.

Làm được ba điều sợ này, thì con đường của bạn sẽ đi rất vững vàng.

 

6. Kết giao quý nhân

Người xưa có câu: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Nếu xung quanh chúng ta đều là những người đạo đức cao thượng, thì chúng ta cũng sẽ trở nên đạo đức cao thượng. Cũng như vậy, nếu chúng ta luôn luôn kết giao với những người đạo đức thấp kém, dần dà, phẩm hạnh của chúng ta cũng trở nên xấu đi.

 

7. Dưỡng sinh

Dưỡng sinh không chỉ đơn giản như ngày nay thường nói “Sinh mệnh là ở vận động”, mà là: “Sinh mệnh là ở vận động và tĩnh dưỡng”, không phải chỉ có mỗi vận động mà thôi.

Đồng thời, dưỡng tâm và dưỡng thể cũng quan trọng như nhau. Hơn nữa cần sống thuận theo quy luật của tự nhiên, Mặt trời mọc thì dậy, Mặt trời lặn thì nghỉ, đồng bộ với bốn mùa của trời đất.

 

8. Chọn nghề và chọn bạn đời

Nam sợ làm nhầm nghề, nữ sợ lấy nhầm chồng. Một sự nghiệp thành công, ít cũng vài năm, nhiều thì mười năm, ba mươi năm. Một người trước tiên cần lập chí theo nghề có hy vọng thành công nhất, sau đó kiên định không ngừng làm việc.

 

“Gia hòa vạn sự hưng”, vợ chồng hòa thuận, hai người ý đồng lòng thì quả thực là quý hơn vàng. Đằng sau một người đàn ông thành công, luôn có một người phụ nữ vĩ đại; đằng sau một người phụ nữ hạnh phúc đều có một người đàn ông đáng tin cậy.

 

9. Gần lành tránh dữ

Gần lành tránh dữ là hướng đến những điều tốt đẹp, may mắn, tránh xa điều ác, hung dữ.

Trong đời người, chúng ta cần phải luôn phân tích tình huống, xem xét thời thế, minh bạch lành dữ họa phúc. Khi hoàn cảnh tốt lành thì cần thừa thế mà tiến lên; khi hoàn cảnh hung hiểm, thì cần dè chừng, cần thận, cũng là lùi một bước biển rộng trời trong.

 

Chín bí quyết trên, chỉ có “Mệnh” là nhân tố tiên thiên, còn 8 điều còn lại, đều có thể thông qua nỗ lực hậu thiên để thay đổi vận mệnh của mỗi người. Bởi vậy mới nói, mệnh là tự mình lập, vận mệnh nằm trong tay chính bản thân mỗi người.

 

Cuối cùng, dù đường đời có lắm lúc chông gai, gập ghềnh, nhưng vẫn giữ trong tâm mình thiện niệm, không ngừng hành thiện tích đức, thì phía trước bạn là một bầu trời xanh bao la vẫy gọi.

 

Nam Phương