Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

Nhận thức mọi thứ đều vô thường giúp ta sống cuộc đời tự tại, nhẹ nhàng hơn

 

NHẬN THỨC MỌI THỨ ĐỀU VÔ THƯỜNG GIÚP TA SỐNG CUỘC ĐỜI TỰ TẠI, NHẸ NHÀNG HƠN

 

Khi ta nhận ra bản chất vô thường của mọi hiện tượng, ta học được cách sống hài hòa và chấp nhận mọi thay đổi. Ta không còn sợ hãi trước những mất mát hay biến đổi, bởi ta hiểu rằng đó là quy luật tự nhiên của cuộc sống.

Khi ta biết tứ đại như mộng huyễn, ta nhận ra rằng mọi thứ xung quanh ta, từ cơ thể ta đến mọi vật thể, đều không thực sự bền vững hay tồn tại mãi mãi.

Chúng chỉ là những biểu hiện tạm thời, giống như những giấc mơ thoáng qua trong đêm.

Khi ta thức dậy, mọi giấc mơ đều tan biến, để lại một thực tại khác. Cuộc sống cũng vậy, mọi thứ đều vô thường, luôn thay đổi và không có gì là vĩnh cửu.

 

Quán chiếu vô thường trong từng tâm niệm

Cuộc sống hàng ngày cũng giống như vậy. Cơ thể của chúng ta, những vật thể quanh ta, và ngay cả những cảm xúc và suy nghĩ của ta đều chỉ là những hiện tượng tạm thời, không tồn tại mãi mãi.

 

Cơ thể ta, được cấu thành từ tứ đại – đất, nước, gió và lửa – sẽ theo thời gian mà thay đổi và cuối cùng cũng sẽ tan rã. Những vật thể xung quanh ta, dù là nhà cửa, xe cộ hay những tài sản quý giá, cũng đều chịu ảnh hưởng của sự vô thường, sẽ hỏng hóc, mất đi hay thay đổi.

 

Nhận thức được rằng mọi thứ đều vô thường giúp ta sống một cuộc đời tự tại và nhẹ nhàng hơn. Khi ta biết rằng không có gì là vĩnh cửu, ta không còn quá bám víu vào những điều tạm bợ. Những niềm vui, nỗi buồn, thành công hay thất bại đều chỉ là những khoảnh khắc thoáng qua, giống như những giấc mơ trong đêm.

 

Chúng đến rồi đi, để lại không gian cho những trải nghiệm mới. Sự hiểu biết này giúp ta giữ được sự bình tĩnh và sáng suốt trước những biến đổi không ngừng của cuộc sống.

Khi ta nhận ra bản chất vô thường của mọi hiện tượng, ta học được cách sống hài hòa và chấp nhận mọi thay đổi. Ta không còn sợ hãi trước những mất mát hay biến đổi, bởi ta hiểu rằng đó là quy luật tự nhiên của cuộc sống.

 

Thay vì lo lắng và bám víu vào những điều không thể kiểm soát, ta tập trung vào việc sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc hiện tại, tận hưởng và trân trọng những điều tốt đẹp mà cuộc sống mang lại.

 

Sự hiểu biết về tính vô thường còn giúp ta trở nên từ bi và cảm thông hơn với những người xung quanh. Khi ta nhận ra rằng mọi người đều phải đối mặt với những biến đổi và khó khăn giống như mình, ta dễ dàng chia sẻ, giúp đỡ và đồng cảm với họ hơn.

Sự từ bi này không chỉ làm cho cuộc sống của ta trở nên ý nghĩa hơn, mà còn tạo ra những mối quan hệ sâu sắc và bền vững.

 

Khi ta biết tứ đại như mộng huyễn, ta nhận ra rằng mọi thứ xung quanh ta đều không thực sự bền vững hay tồn tại mãi mãi. Chúng chỉ là những biểu hiện tạm thời, giống như những giấc mơ thoáng qua trong đêm.

Sự nhận thức này giúp ta sống một cuộc đời an nhiên, tự tại, không bị chi phối bởi những biến đổi của cuộc sống, mang lại sự bình yên và hạnh phúc đích thực.

 

St

 

Lưỡng quốc trạng nguyên Đào Sư Tích – Người khiến vua Minh phải e sợ

 

LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH – NGƯỜI KHIẾN VUA MINH PHẢI E SỢ

 

Một trong những vị trạng nguyên của Đại Việt khiến phong kiến phương Bắc khâm phục và nể sợ là trạng nguyên Đào Sư Tích (1350- 1396) – quê ở xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Khi đi sứ phương Bắc, Đào Sư Tích đã chứng tỏ được trí tuệ uyên bác của mình. Khâm phục tài trí của ông, vua Minh phong ông làm Lưỡng quốc trạng nguyên nhưng sau đó lại có dã tâm sai người ngầm sát hại. 

Thần đồng Đào Sư Tích

Trạng nguyên Đào Sư Tích sinh trưởng tại vùng đất địa linh nhân kiệt, vùng đất nổi tiếng khoa bảng thuộc xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

 

Cha ông - Tiến sĩ Đào Toàn Bân được triều đình bổ nhiệm làm quan tại phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định nên cậu bé Đào Sư Tích theo cha về Nam Định sinh sống để được cha dạy dỗ học hành. Từ nhỏ Đào Sư Tích đã bộc lộ trí tuệ phi phàm, bảy tuổi ông nổi tiếng là Thần đồng của nước Đại Việt. 

 

Ở khoa thi Hương, Đào Sư Tích đỗ danh sách thứ nhất (Hương nguyên). Vào thi Hội, thi Đình ông đều đỗ thứ nhất: Đình Nguyên, Trạng nguyên nên ông được phong là vị Tam nguyên đầu tiên và duy nhất đời Trần. Không chỉ là một vị quan thanh liêm của Đại Việt, Đào Sư Tích còn là một nhà ngoại giao đại tài khi đi sứ phương Bắc khiến vua Minh e sợ.

 

Vào những năm 1380, quan hệ giữa nhà Minh và Đại Việt rất xấu. Nhà Minh tạo nhiều sức ép nhằm có cớ để xâm chiếm Đại Việt. Tháng 9 năm 1384, nhà Minh yêu cầu Đại Việt phải cung cấp lương thực cho quân Minh đang ở Vân Nam.

 

Tháng 3 năm 1385, nhà Minh lại yêu cầu phải nộp 20 tăng nhân. Tháng 2 năm 1386, nhà Minh lại đòi phải nộp các loại cây ăn quả quý, cấp 50 thớt voi để đánh Chiêm Thành.

Tháng 6 năm 1395, quân Minh tiến đánh quân phản loạn ở Quảng Tây, yêu cầu Đại Việt phải cung cấp 5 vạn quân, 50 vạn thạch lương, 50 thớt voi.

 

Về yêu cầu này, nhà Trần chỉ nộp lương thực, quân Minh yêu cầu phải nộp tiếp tăng nhân, thanh niên và phụ nữ phục vụ chiến trường.

Các yêu cầu của nhà Minh ngày càng vô độ nên triều đình cần người tài giỏi đi sứ nhằm xoay chuyển tình thế. Bấy giờ nhà Trần ở vào thời mạt, quyền lực trong triều dần bị Hồ Quý Ly nắm lấy.

 

Hồ Quý Ly khi tìm người thì thấy chỉ có mình Đào Sư Tích từng đỗ trạng nguyên là có thể đáp ứng được yêu cầu này. Tuy nhiên lúc này Đào Sư Tích chán cảnh Hồ Quý chuyên quyền nên đã cáo quan về quê bốc thuốc và dạy học.

 

Dù không ưa gì Đào Sư Tích nhưng vì không thể có ai thay thế, Hồ Qúy Ly đành phải xin vua Trần cho Đào Sư Tích đi sứ. Khi Hồ Quý Ly triệu Đào Sư Tích vào triều có ra lệnh nếu Đào Sư Tích không hồi triều đi sứ sẽ bị tru di tam tộc.

 

Để đề phòng dòng họ bị sát hại, Đào Sư Tích đã đổi con cháu sang họ Phạm rồi mới về triều. Sau này lại có người đổi từ họ Phạm sang họ Dương. Vì thế mà ngày nay từ đường họ Đào ở Cổ Lễ (quê của Đào Sư Tích) có bức đại tự ghi là Đào – Phạm – Dương. Bên cạnh đó, có một nhánh con cháu họ Đào đổi sang họ Nguyễn.

 

Vị trạng nguyên khiến vua Minh e sợ

Chuyến đi sứ này Đào Sư Tích đã thuyết phục nhà Minh bỏ và giảm nhẹ nhiều lệ cống nạp hàng năm, trong đó bỏ hẳn được việc cống nạp tăng nhân, góp phần quan trọng kéo dài thời gian hòa hoãn cho Đại Việt.

 

Tài năng, trí tuệ của Đào Sư Tích khiến triều đình nhà Minh cũng phải e ngại, trong dân gian còn lưu truyền lại một giai thoại về chuyến đi sứ cuối cùng và sự việc khiến ông qua đời.

Khi thời hạn đi sứ sắp hết, vua Minh có hỏi Đào Sư Tích rằng: “Nếu Bắc đánh Nam thì ai thắng?”

Đào Sư Tích bèn ngâm hai câu thơ trả lời:

 

Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng

Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.

 

Câu trả lời của Đào Sư Tích khiến các quan võ cười khoái trá nhưng vua Minh và các quan văn thì không thể cười được, bởi hai câu thơ này có đến 5 chữ “thắng”, 5 chữ “thua”. Ngụ ý nhà Minh tiến đánh Đại Việt thì 5 thắng 5 thua tức không thể thắng được.

 

Câu trả lời lời của Đào Sư Tích thể hiện được ý chí của nước Nam lại cũng không làm phật lòng vua Minh, giúp kéo dài thời gian hỏa hoãn giữa hai nước, có lợi cho Đại Việt.

Vua Minh lại hỏi tiếp: “Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng dân ly tán, tại sao ta không thắng?”

 

Đào Sư Tích cũng lại đáp bằng hai câu thơ: “Trần thực, Hồ hư, hư hư thực/ Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư”. Nghĩa là: “Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư là hư thực/ Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư.”

 

Biết không dễ gì khuất phục được một người giỏi như Đào Sư Tích, vua Minh liền nghĩ cách phải triệt hạ ông. Vua trao cho vị quan chuyên tiếp đón Đào Sư Tích bốn phong thư và dặn rằng phải mở theo thứ tự.

 

Viên quan này mở phong thư thứ nhất thấy có câu “thượng văn vấn, hạ tri vương” nhưng không hiểu ý là gì bèn hỏi Đào Sư Tích.

Đào Sư Tích trả lời rằng: “Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ (耳). Vấn là hỏi, hỏi là khẩu (口). Bên dưới có chữ vương (王). Hợp ba chữ: nhĩ, khẩu, vương thành chữ thánh (聖).

 

Vua Minh có ý bảo ta là thánh nhân đó mà. Vua Minh quá khen, cho ta là bậc thánh hiền. Ta đâu dám nhận lời khen đó.” Sau đó vị quan mở phong thư thứ 2, đây chính là đáp án giải nghĩa cho phong thư thứ nhất, đúng như những gì Đào Sư Tích đã giải nghĩa khiến viên quan kinh ngạc và thán phục. 

 

Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm lưỡng quốc trạng nguyên, tức trạng nguyên của cả Trung Hoa lẫn Đại Việt.

 

Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:

"Hậu hoạ

Nhất dược nhị đao". 

 

Vị quan này hiểu rằng đây là mệnh lệnh phải giết Đào Sư Tích bằng đao hoặc độc dược nên ông rất buồn bã. Nhìn vẻ mặt của vị quan này, Đào Sư Tích đoán được sự việc liền an ủi rằng: “Thánh thì thoát tục. Ông chẳng nên quá buồn rầu. Chỉ xin cho được chết bằng thuốc độc để ông khỏi phải khổ tâm khi phải trực tiếp giết ta”.

 

Sau đó, Trạng nguyên Đào Sư Tích qua đời khi đi sứ xứ người. Thi hài ông được đưa về nước mai táng tại phủ Thiên Trường – Nam Định. Sau khi mất, ông đã được người dân lập đền thờ tại nhiều nơi, hiện đền thờ Đào Sư Tích có ở Bắc Giang, Nam Định đều được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. 

 

Cuộc đời của Đào Sư Tích đã đi vào tâm thức dân gian, ca dao cũng như lời hát ru con của người dân nơi quê ông trong đó có những câu ngợi ca tài đức của ông: “Bảy tuổi đắc phong thần đồng/Hữu tài thành chủ hàm công rõ rành./ Thi Hương, thi Hội, thi Đình, Đứng đầu Đại Việt, anh minh sáng ngời…”

 

Theo báo PLVN

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

Con người cần lý tính hay trực giác

 

CON NGƯỜI CẦN LÝ TÍNH HAY TRỰC GIÁC

Roger Sperry được xem là người tiên phong khám phá chức năng của não bộ và đã đoạt giải nobel Y Khoa 1981. Ông đã khám phá ra chức năng của 2 bán cầu não là não trái và não phải như sau: 

- Não trái - Logic, phân tích và ngôn ngữ

Ngôn ngữ: nói, viết, đọc, hiểu ngôn ngữ

Toán học: tư duy số học, tính toán, phân tích logic

Lập luận: suy nghĩ có tổ chức, giải quyết vấn đề theo từng bước

Chi tiết: chú ý đến phần nhỏ, phân tích từng phần

Kiểm soát bên phải cơ thể (vì mỗi bán cầu điều khiển bên đối diện)

* Người thiên về não trái thường: lý trí, cẩn thận, giỏi lập kế hoạch, học tốt các môn như toán, khoa học, luật.

- Não phải - Trực giác, sáng tạo và cảm xúc

* Người thiên về não phải thường: sáng tạo, mơ mộng, cảm xúc, thích nghệ thuật và có khả năng tư duy hình ảnh tốt.

Mặc dù não bộ có hai bán cầu phần đông con người có thiên hướng suy tư về một phía nhiều hơn bên kia. Nghĩa là có người thích lý tính (não trái), trong khi người kia thiên về trực giác (não phải).

Trong thực tế lý tính và trực giác luôn làm việc với nhau. Bình thường thì não trái phân tích và đặt câu hỏi nhưng tìm được đáp án là não phải. Và chỉ khi lý tính bất động thì trực giác mới xuất hiện cho lý tính biết đường để tìm giải pháp cho vấn đề.

Điều này các truyền thông huyền học đều biết rõ. Osho đã từng nói: “Mỗi khi bạn có vấn đề mà logic không giải quyết được, đừng tuyệt vọng, đừng thất vọng. Những khoảnh khắc đó là phước lớn nhất trong cuộc đời bạn. Đó là khoảnh khắc mà lý trí nhường cho trực giác.”

Albert Einstein cũng đã từng nói: “Trực giác là một món quà thiêng liêng và lý tính là một đầy tớ trung thành. Chúng ta đã tạo ra một xã hội tôn vinh người hầu (lý tính) và quên mất món quà (trực giác).”

Nhiều nghiên cứu cho thấy đại đa số trẻ em lớp vỡ lòng đều có khả năng sáng tạo cao độ nhưng đến khi trưởng thành khả năng đó đã suy giảm đáng kể.

Lý do là hệ thống giáo dục của chúng ta chỉ chú trọng đến chức năng của não trái như toán học, khoa học.

- Trí năng (não trái) cần cho nhà khoa học, trí năng cũng cần trong thương trường, nhưng trí năng có giới hạn, có những thứ tốt đẹp mà trí năng không thể chạm đến. Nếu bạn dẹp trí năng sang một bên thì có thứ gì đó nằm sâu trong bạn được kích hoạt. Trí năng sẽ hoạt động tốt nếu nó đóng vai trò là người hầu theo Albert Einstein.

Bởi vì có sự khác biệt giữa tri thức và sự hiểu biết. Tri thức là những kiến thức chúng ta góp nhặt được còn hiểu biết là sự trải nghiệm.

Một thí dụ về những người sống bằng não trái luôn luôn sợ chết là Sigmund Freud, tổ sư của Phân Tâm Học, khi nghe đệ tử của ông Carl Jung nói về xác ướp Ai Cập ông đã ngã xuống sàn bất tỉnh.

Sợ chết và thiếu quyết đoán là đặc thù của các triết gia. Các khoa học gia, triết gia, thương gia sống trong thế giới của iPad, Iphone, xe hơi nhà cao,…Họ đã chinh phục được thế giới nhưng đánh mất chính mình.

Vì bán cầu não trái là sự cản trở cho tâm linh. Thế thì phải bỏ bán cầu não trái (lý tính) mà quay về bán cầu não phải (trực giác) đó là thế giới của các nghệ nhân và các thiền sư.

- Trực giác (não phải): Napoleon Hill là một tác giả người Mỹ, một trong những người sáng lập nên một thể loại văn học hiện đại đó là môn "thành công học". Ông cho rằng trực giác tức là giác quan thứ 6, cánh cửa dẫn vào ngôi đền thông thái.

“Thông qua trực giác trí tuệ vô hạn sẽ giao tiếp một cách tự nguyện mà không cần con người phải bỏ ra nhiều nỗ lực hay yêu cầu nào. Trực giác giống như nơi trung gian giữa trí tuệ hữu hạn của con người và trí tuệ vô hạn của vũ trụ.”

Tất cả những thành tựu về khoa học, nghệ thuật hội họa, kiến trúc, âm nhạc đều xuất phát từ bán cầu não phải (trực giác) nơi mà trí tưởng tưởng không còn bị ngăn cản nữa. Não phải (trực giác) là đường vào tam muội, là hướng của những người tầm đạo.

Những người luôn quan tâm đến vấn đề nội tâm của mình, đến bình an nội tâm mà không quan tâm nhiều đến các thứ xung quanh.

Bên phương Tây đã bắt đầu quan tâm đến thiền và thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày vì nghiên cứu của khoa học cho rằng: các hoạt động thư giãn và thiền định làm tăng hoạt động ở vùng não phải (trực giác), thúc đẩy khả năng sáng tạo và xử lý cảm xúc.

St