Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Vượt ung thư giai đoạn cuối nhờ tinh thần lạc quan

 

VƯỢT UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI NHỜ TINH THẦN LẠC QUAN

 

Từng suy sụp khi điều trị ung thư hạch giai đoạn 4 ở tuổi 34, Hà Mạnh Tuấn nỗ lực gượng dậy "chiến đấu", khỏi bệnh sau 7 tháng điều trị.

Cuối tháng 12 năm ngoái, Hà Mạnh Tuấn, sống ở Đống Đa, nhận kết quả khối u ung thư biến mất.

Cụ thể, bác sĩ kết luận khối u của anh có kích thước 42x53 mm, không tăng chuyển hóa FDG (tổn thương ác tính là các tổn thương có sự tăng hấp thu FDG), chỉ còn là khối xơ.

 

Hình ảnh chụp PET/CT cũng tương ứng u lympho đáp ứng tốt với điều trị. Tuấn được xuất viện và hẹn khám lại theo định kỳ 3 tháng/ lần, không cần dùng thêm bất kỳ loại thuốc ung thư nào.

 

Là một người chú trọng chăm sóc sức khỏe chủ động, Tuấn ăn uống khoa học, chăm chỉ luyện tập cả sức bền, cơ bắp và chánh niệm. Anh thường xuyên tham gia các giải chạy và từng chinh phục cột mốc 42 km (full marathon). Ngoài ra, Tuấn còn đi bộ; bơi; tập các bài chống đẩy, HIIT, Tabata, thiền, khí công... để khỏe cả thể chất lẫn tinh thần.

 

Đầu tháng 5 năm ngoái, Tuấn bỗng khó thở tăng dần. Thấy tình trạng ngày càng nghiêm trọng, mẹ giục anh đến viện kiểm tra. Tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, bác sĩ chẩn đoán Tuấn bị tràn dịch màng phổi, u hạch thượng đòn, u hạch trung thất, yêu cầu nhập viện.

Các kết quả sinh thiết cho thấy người đàn ông mắc u Lympho Hodgkin (một trong hai loại chính của ung thư hạch), giai đoạn 4, khối u dài 16 cm.

 

Lympho Hodgkin là một trong những bệnh ung thư đặc trưng bởi sự tăng sinh tế bào ác tính xảy ra trong một hoặc nhiều hạch bạch huyết. Điển hình là u xuất hiện ở một hạch bạch huyết rồi sau đó lan dần theo thứ tự đến các hạch khác, lách, gan và tủy xương. Bệnh có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm và người bệnh đáp ứng tốt với các phương pháp chữa bệnh như hóa trị, xạ trị.

 

"Tôi sốc nhưng chỉ trong 4-5 giây, rồi bình tĩnh lại ngay", Tuấn kể. Anh cho rằng tinh thần chiếm 80% thành công trong cuộc chiến chống bệnh tật, vì thế cần lạc quan, bình thản. Ngoài ra, người đàn ông biết bản thân mắc ung thư, nhưng sau tìm hiểu, anh thấy có nhiều hy vọng do căn bệnh có khả năng chữa khỏi cao. Sức khỏe thể chất và tinh thần của anh cũng tốt hơn so với rất nhiều bệnh nhân ung thư khác.

 

Người đàn ông bắt đầu đợt hóa trị đầu tiên vào chiều 17/6 năm ngoái tại Bệnh viện K - Cơ sở Tân Triều. Tuy nhiên, trong những đợt truyền đầu tiên, Tuấn gặp nhiều tác dụng phụ, buồn nôn, mất ngủ, tê bì chân tay, teo cơ, thối móng, chóng mặt, đau mỏi cơ xương khớp, ốm liên tục.

"Hồi trước, mỗi lần tập, tôi chống đẩy được khoảng 300 cái, khi bệnh thì chống 10 cái còn chật vật", Tuấn kể.

 

Lúc này, những suy nghĩ tiêu cực nhen nhóm xuất hiện, Tuấn dần suy sụp tinh thần. Anh cảm thấy chán nản, u sầu, sợ chết cũng như sợ bị mọi người bỏ rơi và lãng quên. Không chỉ vậy, người đàn ông còn xấu hổ với biệt danh "chiến binh" được mọi người đặt cho. Cảm giác tuyệt vọng gặm nhấm sức mạnh tinh thần của Tuấn từng ngày. Anh bỏ mạng xã hội, thu mình cô độc, từ chối mọi sự quan tâm của mọi người.

 

Nghiên cứu của Bệnh viện Quân y 103 (Hà Nội) thực hiện trong 9 tháng, trên 264 bệnh nhân ở khoa Ung bướu, kết quả gần 58% người bị trầm cảm. Một bệnh nhân có thể cảm thấy mất kiểm soát cuộc sống do những thay đổi trong cơ thể.

Họ đau khổ, lo sợ, nghĩ đến cái chết, hoặc những điều chưa biết phía trước, theo nhóm nghiên cứu của Bệnh viện 103.

 

Do đó, bên cạnh điều trị bằng phẫu thuật, hóa xạ trị, các bác sĩ cho rằng tâm lý lạc quan, tích cực chiếm vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi và khỏi bệnh.

Trong những ngày tuyệt vọng nhất, Tuấn dần nhận ra sự thật "luôn có ánh sáng ở nơi cuối con đường". Anh cảm nhận "không ai cô đơn như họ tưởng tượng", nhờ đó tiếp thêm khả năng vực dậy tinh thần cũng như thể chất.

 

Bên cạnh đó, nhờ đọc và suy ngẫm các tư tưởng tôn giáo, người đàn ông học cách không đổ lỗi bản thân và hoàn cảnh, chấp nhận mọi nghịch cảnh, đau khổ trong bình an.

"Tôi nghĩ bằng mọi giá phải khỏe lại để còn có sức kiến tạo giá trị tốt đẹp và truyền cảm hứng cho nhiều người hơn", người đàn ông kể lại.

 

Hôm 24/12/2024, TS. BS Đỗ Huyền Nga, Trưởng Khoa Nội Hệ Tạo Huyết, bác sĩ điều trị cho Tuấn, thông báo anh đã chính thức khỏi bệnh u lympho Hodgkin giai đoạn 4 và được ra viện.

Nhận được kết quả mới nhất về bệnh tình của Tuấn, người bố Hà Mạnh Thắng, 65 tuổi, không khỏi xúc động.

Theo ông, cột mốc này không chỉ mang lại niềm vui cho gia đình mà còn thắp sáng thêm niềm tin cho cộng đồng, đặc biệt những người có cùng hoàn cảnh với Tuấn.

"Khi một ai đó chẳng may mắc căn bệnh này, hãy dũng cảm đón nhận một cách bình thản với tinh thần lạc quan, tin tưởng vào nền y học hiện đại, trình độ của bác sĩ", ông Thắng nói.

 

Tuấn cho biết sắp tới sẽ dành thời gian nhiều hơn cho những người quan trọng nhất cuộc đời mình. Bởi lẽ trong khoảnh khắc đối diện với thần chết, Tuấn nhận ra một điều: "Hạnh phúc lớn nhất đến từ việc làm cho người khác hạnh phúc, chứ không đến từ vật chất hay danh vọng".

 

Theo Tổ chức Ung thư Toàn cầu, mỗi năm Việt Nam phát hiện thêm 180.000 ca mắc mới và trên 123.000 ca tử vong do ung thư. Tại Việt Nam, ung thư là nguyên nhân gây tử vong xếp thứ hai, sau các bệnh lý về tim mạch. Gánh nặng bệnh tật do ung thư chiếm 10% tổng gánh nặng bệnh tật, lớn nhất trong số các nước ASEAN. Phần lớn người bệnh ung thư phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao.

 

Các bác sĩ khuyến cáo người dân nâng cao ý thức phòng ngừa bằng lối sống lành mạnh, ăn uống hợp lý, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, bỏ thuốc lá, giảm rượu bia, tập luyện thể dục đều đặn... Tiêm vaccine phòng bệnh. Khám sức khỏe định kỳ hàng năm và đi khám ngay khi có các dấu hiệu bất thường. Chủ động tầm soát ung thư sớm theo khuyến cáo về nhóm tuổi và nhóm nguy cơ.

 

Mỹ Ý

 

Những câu chuyện về lòng yêu nước tri ân ngày 2/9

 

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ LÒNG YÊU NƯỚC TRI ÂN NGÀY 2/9

Ngày 2/9 hằng năm là ngày trọng đại của dân tộc Việt Nam – ngày kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945. Đây không chỉ là mốc son trong lịch sử mà còn là dịp để mỗi người dân hướng lòng tri ân về thế hệ cha ông, những người đã hy sinh máu xương, mồ hôi và nước mắt để đất nước được hòa bình, tự do. 

 

Trong ngày lễ lớn này, nhiều câu chuyện về lòng yêu nước, về sự cống hiến thầm lặng của nhân dân Việt Nam vẫn luôn được nhắc lại như một nguồn cảm hứng bất diệt.

 

Ngọn lửa bất diệt

Mỗi câu chuyện, dù lớn lao hay bình dị, đều thắp sáng ngọn lửa yêu nước trong lòng người Việt. Ngọn lửa ấy được truyền từ cha ông sang con cháu, từ Quảng trường Ba Đình năm 1945 đến từng mái nhà Việt Nam hôm nay.


Ngày 2/9, khi nhìn lại lịch sử, chúng ta không chỉ tự hào mà còn tự nhắc nhở: phải sống xứng đáng với những hy sinh ấy. Tri ân không chỉ là tưởng nhớ, mà còn là tiếp nối, là xây dựng một Việt Nam hùng cường, để máu xương của thế hệ trước không trở nên vô nghĩa.

 

Những dòng nhật ký để lại

Trong thời kỳ chống Mỹ, nhiều chiến sĩ trẻ đã để lại những trang nhật ký xúc động. Như liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc, với cuốn “Mãi mãi tuổi 20”, hay liệt sĩ Đặng Thùy Trâm với “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”. Trong đó, họ không chỉ ghi lại nỗi vất vả, gian nan, mà còn bộc lộ tình yêu tha thiết với Tổ quốc.

 

Đặng Thùy Trâm từng viết: “Có phải vì đất nước mà chúng ta sẵn sàng hi sinh tất cả. Vì đất nước mà ta chấp nhận gian khổ, mất mát, kể cả cái chết.” Những trang nhật ký ấy đã làm rơi lệ hàng triệu trái tim, trở thành minh chứng cho lòng yêu nước bất diệt.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Không sinh không diệt trong “Thề non nước”

 

KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT TRONG “THỀ NON NƯỚC”

Bài thơ Thề non nước của nhà thơ Tản Đà là một bài thơ hay và đẹp về lời thề giữa hai người thương nhau (đó có thể là hai cha con, hai mẹ con, hai anh em, hai vợ chồng, hai thầy trò hay thậm chí là giữa con người và quê hương đất nước) với những lý giải hết sự dễ thương của người ra đi với người ở lại.

Tuy nhiên, dưới cái nhìn Phật pháp, những hình ảnh nên thơ đó cũng mang triết lý về giáo lý “bất sinh bất diệt” vô cùng sâu sắc của Phật giáo đại thừa.

Bài thơ tổng cộng có hai mươi hai câu. Trong đó mười bốn câu đầu nói về tình cảnh chờ đợi đến nỗi “xương mai một nấm hao gầy/ tóc mây một mái đã đầy tuyết sương” cũng như là lời than trách, sầu khổ của non khi bị “nước đi đi mãi không về cùng non”.

Tám câu còn lại của bài thơ là lời an ủi và khai thị của nước, rằng thật ra nước không hề xa non chút nào hết mà luôn luôn bên cạnh non, chỉ là dưới những biểu hiện khác nhau mà thôi. Tám câu thơ đó là:

Non xanh đã biết hay chưa?

Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.

Nước non hội ngộ còn luôn,

Bảo cho non chớ có buồn làm chi.

Nước kia dù hãy còn đi,

Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.

Nghìn năm giao ước kết đôi,

Non non nước nước không nguôi lời thề.

Nước đi ra biển nhưng không có nghĩa là vĩnh viễn xa non. Nước trở lại với non với hình thức là những cơn mưa. Nước gặp nắng bốc hơi thành khí. Khí gặp lạnh tụ lại thành mây và mây sẽ hóa thân thành mưa rơi trở xuống mặt đất. Nước mưa ấy có thể sẽ tiếp tục chảy ra biển, nhưng chỉ một phần thôi. Phần còn lại nước thấm vào đất và làm cho “ngàn dâu xanh tốt”.

Nếu không có nước thì không có rừng dâu, dâu sẽ không thể sống, không thể xanh tốt. Và như vậy trong rừng dâu đã có sự hiện diện của nước trong đó. Nước như muốn nói với non rằng: “Non ơi, non hãy nhìn vào rừng dâu để thấy nước trong đó mà đừng có chờ đợi nữa. Xin non đừng có than phiền, đừng có sầu khổ nữa mà hãy vui lên, vì không có sự xa cách đâu”.

Nước ở đây biểu hiện dưới ba hình thức là nước, mưa và ngàn dâu. Đây chỉ là 3 hình thức tiêu biểu. Ngoài ra nước còn tồn tại trong không khí, hoặc những giọt sương đêm… Như vậy nước có bao giờ rời xa non đâu. Nước luôn bên cạnh non bằng nhiều biểu hiện khác nhau. Dù nhiều biểu hiện khác nhau nhưng cũng là nước mà thôi.

Theo giáo lý Duyên sinh thì các pháp chưa từng sinh ra cũng như chưa từng mất đi, bởi vì trong một pháp đã chứa đựng, bao hàm tất cả các pháp khác, một là tất cả và tất cả là một. Khi một hiện tượng xuất hiện không có nghĩa là chúng mới có.

Những yếu tố làm nên hiện tượng đó đã có sẵn bàng bạc trong không gian và thời gian, chỉ chờ nhân duyên đầy đủ thì biểu hiện ra mà thôi. Cũng vậy, khi chúng mất đi không có nghĩa là chúng không còn gì mà chỉ là biến đổi thành dạng khác, dưới dạng vật thể hay năng lượng.

Đối với con người cũng vậy, chúng ta được sinh ra không có nghĩa là chúng ta mới có mà thật ra đã tồn tại từ lâu rồi, dưới dạng nghiệp thức và các mối quan hệ di truyền của dòng họ tổ tiên. Trong quá trình lớn lên, ta lại tiếp tục tiếp nhận những yếu tố của gia đình và xã hội.

Chính vì vậy mà khi cha mẹ chúng ta qua đời, chúng ta không mất họ hoàn toàn mà họ vẫn còn ở bên ta, trong ta dưới dạng gen di truyền và các giá trị tinh thần khác như nhận thức, kinh nghiệm…

Hai câu thơ cuối của bài thơ, Nghìn năm giao ước kết đôi, Non non nước nước không nguôi lời thề, thật đã diễn tả được giáo lý “bất sinh bất diệt” một cách sinh động.

Nghìn năm là chỉ cho thời gian vô tận, từ vô thỉ. Điệp từ “non non nước nước” như muốn nói rằng non và nước không còn là hai thực thể riêng biệt tách rời nhau nữa mà chúng đã hòa quyện vào nhau, “tương tức tương nhập” với nhau.

Trong non có nước, trong nước có non. Non cũng là nước mà nước cũng là non. Và chúng đã tồn tại như vậy từ vô thỉ rồi. Non tồn tại từ khi có nước và nước tồn tại từ khi có non.

Hòa thượng Nhất Hạnh có viết quyển sách tựa là “Không diệt không sinh đừng sợ hãi”. Tôi không rõ Tản Đà có học Phật và biết giáo lý Duyên khởi của Phật giáo hay không, nhưng những gì ông trình bày trong bài thơ Thề non nước này, khi đọc và chiêm nghiệm, ta cũng có cái cảm giác bình yên, không sợ hãi như vậy. 

Thích Trung Hữu