Thứ Năm, 2 tháng 7, 2026

Vì sao cha ông ta luôn nhắc đến “nam tả, nữ hữu”?

 

VÌ SAO CHA ÔNG TA LUÔN NHẮC ĐẾN “NAM TẢ, NỮ HỮU”?

 

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta không khó để bắt gặp quy tắc “nam tả, nữ hữu”. Khi chụp ảnh gia đình, người lớn thường nhắc con cháu: “Nam đứng bên trái, nữ đứng bên phải”. Trong các lễ cưới truyền thống, nghi thức cúng gia tiên hay nhiều dịp trang trọng khác, cách sắp xếp này cũng xuất hiện khá phổ biến.

Phần lớn mọi người làm theo thói quen mà ít khi tự hỏi: Vì sao lại có quy tắc “nam tả, nữ hữu”? Liệu đây chỉ là một phong tục truyền miệng hay ẩn chứa những quan niệm văn hóa sâu xa mà cha ông đã lưu truyền qua nhiều thế hệ?

 

Bắt nguồn từ triết lý Âm – Dương

Quan niệm “nam tả, nữ hữu” được cho là xuất phát từ học thuyết Âm – Dương trong văn hóa truyền thống Á Đông.

Theo cách nhìn của người xưa, vạn vật trong vũ trụ đều tồn tại và vận hành dựa trên hai yếu tố Âm và Dương: trời thuộc Dương, đất thuộc Âm; mặt trời thuộc Dương, mặt trăng thuộc Âm. Khi áp dụng vào con người, nam giới thường được quy về Dương, còn nữ giới được quy về Âm.

 

Trong quan niệm phương vị cổ truyền, bên trái tượng trưng cho Dương, bên phải tượng trưng cho Âm. Từ đó hình thành cách sắp xếp nam đứng bên trái, nữ đứng bên phải nhằm thể hiện sự cân bằng và hài hòa giữa hai mặt đối lập nhưng bổ trợ lẫn nhau.

 

Ngoài ra, nhiều nghi lễ thời cổ đại còn chịu ảnh hưởng của nguyên tắc “tả tôn, hữu thứ”, trong đó vị trí bên trái thường được xem là vị trí trang trọng hơn trong một số bối cảnh lễ nghi. Chính những quan niệm này đã góp phần hình thành và duy trì quy tắc “nam tả, nữ hữu” trong đời sống truyền thống.

 

Vì sao người xưa đặc biệt coi trọng vị trí đứng?

Đối với xã hội hiện đại, vị trí đứng hay chỗ ngồi đôi khi chỉ mang tính thuận tiện. Nhưng trong xã hội xưa, đó lại là một phần của phép tắc và lễ nghi.

Trong các buổi yến tiệc, chỗ ngồi của quan lại hay khách quý được sắp xếp theo thứ bậc rất rõ ràng. Khi tế lễ tổ tiên hoặc đón tiếp những vị khách quan trọng, đội hình và vị trí của từng người đều phản ánh vai vế cũng như sự tôn trọng dành cho nhau.

 

Ngay cả ngày nay, trong nhiều gia đình, việc sắp xếp vị trí khi chụp ảnh đại gia đình hay tổ chức các nghi lễ truyền thống vẫn phần nào kế thừa tư duy ấy. Với người xưa, vị trí không đơn thuần là chỗ đứng mà còn là một “ngôn ngữ không lời”, thể hiện phép tắc, trật tự và sự kính trọng trong các mối quan hệ.

 

Đừng vội cho rằng “nam tả, nữ hữu” là tư tưởng trọng nam khinh nữ

Khi nhìn từ góc độ hiện đại, không ít người cho rằng quy tắc này phản ánh sự bất bình đẳng giữa nam và nữ.

Tuy nhiên, nếu xét về nguồn gốc, “nam tả, nữ hữu” chủ yếu bắt nguồn từ quan niệm Âm – Dương và hệ thống lễ nghi của xã hội cổ truyền hơn là nhằm khẳng định sự hơn kém giữa hai giới.

 

Trong triết lý Á Đông, Âm và Dương là hai mặt tồn tại song song, bổ sung và cân bằng lẫn nhau để tạo nên sự hài hòa của vạn vật. Chúng không nhất thiết mang ý nghĩa bên nào cao quý hơn hay bên nào thấp kém hơn.

Dĩ nhiên, xã hội cổ đại có những đặc điểm và quan niệm riêng về vai trò của nam giới và nữ giới.

 

Tuy vậy, không nên vì thế mà quy toàn bộ ý nghĩa của “nam tả, nữ hữu” thành biểu hiện của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Hiểu đúng bối cảnh lịch sử sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về phong tục này.

 

Điều đáng gìn giữ không phải là vị trí đứng, mà là sự tôn trọng

Trong cuộc sống ngày nay, không ai cần phải cứng nhắc áp dụng quy tắc “nam tả, nữ hữu” trong mọi tình huống. Khi đi chơi cùng bạn bè, chụp ảnh kỷ niệm hay tham gia những buổi gặp gỡ thân mật, việc đứng ở đâu chủ yếu phụ thuộc vào sự thoải mái và tự nhiên của mỗi người.

 

Tuy nhiên, trong các dịp mang tính truyền thống như lễ cúng gia tiên, hôn lễ theo nghi thức cổ truyền hay chụp ảnh đại gia đình với nhiều thế hệ, việc hiểu và vận dụng linh hoạt quy tắc này vẫn có thể thể hiện sự tinh tế, tôn trọng phong tục và quan tâm đến cảm nhận của những người lớn tuổi.

 

Quan trọng hơn cả, giá trị cốt lõi của lễ nghi không nằm ở việc bạn đứng bên trái hay bên phải. Một người có thể đứng đúng vị trí theo phong tục nhưng cư xử thiếu lễ phép thì quy tắc ấy cũng mất đi ý nghĩa.

Ngược lại, một người biết kính trên nhường dưới, cư xử chân thành và đúng mực vẫn luôn nhận được sự tôn trọng, dù họ đứng ở bất kỳ vị trí nào.

 

Kết luận

“Nam tả, nữ hữu” không chỉ là một cách sắp xếp vị trí, mà còn phản ánh một phần tư duy văn hóa và quan niệm về trật tự, lễ nghi của người xưa. Hiểu về phong tục này giúp chúng ta thêm trân trọng những giá trị truyền thống đã được lưu giữ qua nhiều thế hệ.

 

Trong xã hội hiện đại, điều cần thiết không phải là áp dụng máy móc mọi quy tắc cũ, cũng không phải phủ nhận hoàn toàn chúng. Điều quan trọng là biết chọn lọc những giá trị phù hợp, giữ lại tinh thần tôn trọng và ứng xử văn minh mà cha ông muốn gửi gắm.

Bởi sau tất cả, phép tắc chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng sự chân thành, hiểu biết và lòng tôn trọng dành cho người khác.

 

Bạn nghĩ sao về quan niệm “nam tả, nữ hữu”? Gia đình bạn có còn duy trì phong tục này trong những dịp đặc biệt không?

 

Tú Uyên 

 

Triết lý: Buôn có bạn, bán có phường

 

TRIẾT LÝ: BUÔN CÓ BẠN, BÁN CÓ PHƯỜNG

 

Người xưa nói “Buôn có bạn, bán có phường” không chỉ để nhắc chuyện kết giao, mà còn gửi gắm một triết lý làm ăn còn nguyên giá trị đến hôm nay: Muốn đi đường dài trên thương trường, đôi khi thứ quyết định không chỉ là vốn liếng, mà còn là người đồng hành.

 

Không phải ngẫu nhiên mà người xưa đặt chuyện làm ăn bên cạnh chuyện bằng hữu. Trong thương trường, một người có thể giỏi xoay xở, nhanh nhạy và nhiều tham vọng, nhưng nếu đi một mình quá lâu thì sớm muộn cũng chạm trần. “Buôn có bạn, bán có phường” vì thế không chỉ là một lời khuyên về cách sống, mà còn là một triết lý rất sâu về vốn xã hội trong kinh doanh.

 

Người xưa làm ăn trong những phiên chợ nhỏ, gánh hàng đi sớm về khuya, vốn liếng không nhiều, đường sá chẳng thuận tiện như bây giờ. Thế nhưng họ đã sớm hiểu một điều mà đến nay giới kinh doanh hiện đại vẫn phải học lại: thương mại chưa bao giờ là cuộc chơi của kẻ đơn độc.

Càng ra chợ lớn, càng cần người đồng hành. Càng bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt, càng cần một cộng đồng để nương tựa, chia sẻ, bảo vệ và nâng nhau cùng đi.

 

Câu nói “Buôn có bạn, bán có phường” nghe qua tưởng chỉ là chuyện kết hội, lập nhóm, nhưng thực ra hàm ý sâu hơn nhiều. “Bạn” ở đây không chỉ là người quen biết. Đó có thể là người góp vốn, người cùng vận chuyển, người chia sẻ thông tin, người giới thiệu khách hàng, thậm chí là người cùng giữ uy tín cho nhau trong một khu chợ. “Phường” cũng không chỉ là một đám đông tụ họp cho vui.

Đó là một mạng lưới làm ăn có luật ngầm, có sự ràng buộc, có danh dự và có cả áp lực để mỗi người phải giữ chữ tín nếu muốn còn đường mà sống.

 

Trong thời buổi này, khi kinh doanh đã bước sang những nền tảng số, thị trường đã mở rộng khỏi lũy tre làng, bài học ấy vẫn không hề cũ. Một doanh nghiệp có thể có sản phẩm tốt, nhưng nếu đứng ngoài chuỗi cung ứng thì khó lớn.

Một cửa hàng có thể bán hàng tử tế, nhưng nếu không có cộng đồng khách hàng trung thành thì khó bền.

 

Một nhà đầu tư có thể có tiền, nhưng nếu chỉ hành động bằng cảm xúc cá nhân, thiếu người phản biện, thiếu nguồn tin kiểm chứng, thiếu sự kết nối với hệ sinh thái xung quanh, thì rất dễ trả giá cho những quyết định tưởng là nhanh mà hóa ra lại vội.

 

Đi một mình dễ tạo cảm giác tự do, nhưng đi cùng nhau mới tạo ra sức mạnh thật sự. Trong kinh doanh, sự liên kết không làm mất đi bản sắc của mỗi người, trái lại còn giúp năng lực riêng được phát huy đúng chỗ. Người giỏi bán hàng có thể đứng cùng người giỏi vận hành.

 

Người có vốn có thể kết hợp với người có nghề. Người có công nghệ có thể bắt tay với người hiểu thị trường. Khi đó, lợi nhuận không còn là câu chuyện của một cú đánh nhanh thắng nhanh, mà trở thành kết quả của sự phân công và bổ trợ lẫn nhau.

 

Một cửa hàng nhỏ muốn tồn tại không chỉ cần hàng hóa tốt, mà còn cần nguồn hàng ổn định, người quen giới thiệu, khách cũ quay lại và người xung quanh sẵn sàng nói một lời tốt đẹp về mình.

Một doanh nghiệp muốn lớn không chỉ cần chiến lược, mà còn cần niềm tin thị trường, sự đồng hành của đối tác và khả năng tạo ra lợi ích hài hòa cho nhiều bên. Không ai có thể dựng cơ đồ lâu dài trên một nền đất mà xung quanh toàn là sự nghi ngại.

 

Nói cách khác, “bạn” và “phường” trong câu nói xưa chính là thứ tài sản vô hình mà ngày nay người ta gọi bằng nhiều cái tên mới: hệ sinh thái, mạng lưới, cộng đồng, liên minh hay chuỗi giá trị. Tên gọi có thể khác, nhưng cốt lõi không đổi.

Người làm ăn biết cách giữ quan hệ, biết tôn trọng người cùng nghề, biết chia phần hợp lý và biết cùng nhau bảo vệ thị trường thì cơ hội tồn tại luôn cao hơn kẻ chỉ chăm chăm giành phần hơn về mình.

 

Cũng vì thế, câu vốn cổ này còn là một lời nhắc về giới hạn của sự khôn lỏi. Có những người khi mới làm ăn thì tìm mọi cách chen chân vào mạng lưới của người khác, nhưng khi có chút thành công lại muốn tách ra, cắt phần, giành khách, phá giá, chơi một mình để hưởng trọn.

Họ có thể thắng trong một vài cuộc mua bán, nhưng thường khó đi xa. Bởi thương trường rốt cuộc vẫn là nơi người ta nhớ rất lâu cách một người kiếm tiền, chứ không chỉ nhớ họ kiếm được bao nhiêu.

 

Giữ được người đồng hành cũng là giữ cho mình một lối ra

Người xưa khôn ở chỗ không chỉ nghĩ đến lúc thuận lợi, mà đã lo cả khi khó khăn chưa tới. “Buôn có bạn, bán có phường” không đơn thuần là để dễ bán hơn, mà còn để khi rủi ro ập đến thì không ai bị bỏ lại một mình.

Một người làm ăn tử tế trong cộng đồng sẽ có người nhắc khi thị trường đổi chiều, có người đỡ cho một tay khi hàng hóa ứ đọng, có người kéo lại khi đi quá nhanh và có người mở cho một cánh cửa khác khi lối cũ đã hẹp.

 

Trong đầu tư cũng vậy. Một người chỉ nghe chính mình rất dễ biến sự tự tin thành chủ quan. Một người biết lắng nghe, biết trao đổi với cộng đồng, biết kiểm chứng thông tin từ nhiều phía sẽ đỡ mắc sai lầm hơn.

Không phải cứ đông người là đúng, nhưng người biết đứng trong một mạng lưới lành mạnh thường có thêm cơ hội nhìn thấy điều mình bỏ sót.

 

Đằng sau câu nói dân dã ấy là một triết lý làm giàu không cực đoan. Người xưa không dạy phải thắng bằng mọi giá. Người xưa dạy phải sống được với nghề, đi được đường dài và giữ được người cùng đi với mình.

Làm ăn, suy cho cùng, không chỉ là kiếm tiền. Đó còn là nghệ thuật gây dựng sự tin cậy, giữ lấy tình nghĩa và biết rằng muốn bán một món hàng cho hôm nay thì trước hết phải giữ được một mối quan hệ cho ngày mai.

 

Linh Đan

 

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Hạnh phúc là số phận hay kết quả của sự lựa chọn?

 

HẠNH PHÚC LÀ SỐ PHẬN HAY KẾT QUẢ CỦA SỰ LỰA CHỌN?

 

Khi được hỏi đang mong mỏi điều gì nhất, câu trả lời của mọi người thường là hạnh phúc. Nhưng nhiều người vẫn đang loay hoay tự hỏi liệu hạnh phúc là sự chọn lựa hay là sự an bài của số phận. Nếu nó nằm ở quyết định của mỗi người, sao phần nhiều trong chúng ta vẫn còn chìm đắm trong khổ đau, bất hạnh?

 

Chuẩn mực của hạnh phúc là do mỗi cá nhân đặt định nhưng nhìn chung, đạt được hạnh phúc thật sự là điều không hề dễ dàng. Nếu bạn muốn hạnh phúc là một dạng thức của quá trình chọn lựa thì trước tiên, phải biết được điều gì ngăn cản bạn đến với sự chọn lựa ấy và làm thế nào chúng ta có thể khắc phục những trở ngại này.

Hạnh phúc có phải là một dạng cảm xúc?

Hạnh phúc là một phạm trù của cảm xúc nhưng lại không thể lý giải chính xác một cách dễ dàng. Nó không phải là một cảm xúc độc lập mà là phức hợp của những trạng thái tích cực, thỏa mãn, từ vui thích, phấn khích cực độ cho đến hài lòng, mãn nguyện từ những điều nhỏ nhặt. Và một khi nhận định rõ từng loại cảm xúc riêng biệt ấy, chúng ta sẽ có thể gỡ rối nếu rơi vào bế tắc trong cuộc sống.

 

Một điều nữa cần phải được khẳng định là cảm xúc mang tính nhất thời. Những điều chúng ta cho là mãi mãi thực chất được hình thành từ chuỗi những cảm xúc nối dài, tạo cho con người ảo tưởng rằng có một thứ cảm giác trường tồn như yêu, hận, buồn, vui… Nếu sáng suốt nhìn lại, hẳn mỗi người sẽ nhận ra rằng không hề có một loại cảm xúc nào trong bạn có thể duy trì suốt ngày cả.

 

Một ngày của bất kỳ ai trong chúng ta cũng đều là đan xen của những xúc cảm buồn vui lẫn lộn, thích thú có mà chán nản cũng len lỏi đâu đó. Giả chăng, điều làm con người ta lầm tưởng việc ai đó vui vẻ hay buồn chán cả ngày là hệ quả của việc duy trì sắc thái những cảm xúc ấy tương đối liên tục.

 

Thế nên, để biến hạnh phúc thành một nhân tố có thể chọn lựa, chúng ta cần học cách nhận biết và thấu hiểu dấu hiệu của những cảm xúc thuộc phạm trù của hạnh phúc. Niềm vui, sự ham thích, mức độ hài lòng, cảm giác phấn chấn chỉ đến một khi chính chúng ta ý thức được mình đang trải qua cảm giác ấy.

Chính ý thức là thứ quyết định việc bản thân mình có hạnh phúc hay không chứ không phải là do người khác xác định thay bạn hoặc số phận an bài.

Có phải ai cũng có thể quyết định hạnh phúc?

Hạnh phúc được cảm nhận qua cách mà chúng ta ý thức về nó. Tuy nhiên, phải chăng ai cũng có thể tự nhận biết các xúc cảm của mình để đi đến quyết định hạnh phúc hay không? Thực tế đã chứng minh có rất nhiều người không thể kết nối mình với phạm trù của hạnh phúc cũng như duy trì cảm giác hạnh phúc của riêng mình một cách đều đặn.

 

Vậy thì điều gì đã cản bước bạn trên con đường đi đến cánh cổng mở ra cảm xúc mà mọi người vẫn mong muốn đạt được ấy?

Đầu tiên, chính là sự suy giảm của thể chất và tinh thần. Đối với những ai đang và có nguy cơ rơi vào trầm cảm, bạn sẽ khó khăn trong việc liên kết những cảm xúc đang có với trạng thái của hạnh phúc.

 

Một lần nữa, chúng ta sẽ phải khẳng định rằng vai trò của nhận thức và sự thấu hiểu cảm xúc chính là chìa khóa để mở ra cánh cửa của sự làm chủ và kiểm soát hạnh phúc. Vì lẽ ấy, hiển nhiên, hạnh phúc cũng sẽ do bạn quyết định và chọn lựa. Sức mạnh của con người đến từ sự hiểu biết. Ý thức rõ bản thân thấu đáo sẽ giúp bạn đưa ra lựa chọn một cách sáng suốt. Chẳng phải hạnh phúc chính là khi bạn đạt được trạng thái cảm xúc mà mình mong muốn đó sao.

Điều đó cho thấy não chúng ta có vẻ dễ kích động và phản ứng mạnh mẽ khi đối diện với những cảm xúc tiêu cực hơn là phần cảm xúc dễ chịu, yên bình. Theo thời gian, nó có thể trở thành thói quen và tất nhiên là một thói quen không tốt chút nào. Nhưng đừng lo, bạn vẫn có thể điều chỉnh phản ứng này bằng cách tập cho não bộ chúng ta hướng đến những điều tích cực. Bằng cách xoay chiều hướng suy nghĩ, lặp lại những tư tưởng tốt đẹp nhuần nhuyễn dù là nhỏ nhặt sẽ giúp chúng ta phấn chấn hơn và “phản kích”, trở thành người có thiên hướng suy nghĩ tích cực.

Hạnh phúc có là định mệnh hay không, bạn sẽ là người quyết định. Nếu bạn cho đó là định mệnh, hẳn suy nghĩ ấy sẽ khiến mọi bất hạnh hay hạnh phúc của bản thân đều trở thành lý lẽ của số phận. Còn nếu như tỉnh táo nhận định và sáng suốt trong cảm xúc, khi ấy, chính bạn đã cho mình quyền lựa chọn hạnh phúc.

Diễm Ái