Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Kỳ lạ viên đá hút nọc độc rắn ở Thái Bình

 

KỲ LẠ VIÊN ĐÁ HÚT NỌC ĐỘC RẮN Ở THÁI BÌNH

 

Chủ nhân hiện đang sở hữu viên đá kỳ lạ này là ông Vũ Văn Khản, ở thôn Dương Cước, xã Hồng Thái, (Kiến Xương, Thái Bình). Ông được cha ông truyền lại cho viên đá này và hơn 50 năm qua, ông Khản không sử dụng viên đa với mục đích thương mại mà chỉ dùng để cứu người lúc nguy nan.

 

Khi nghe kể về viên đá có khả năng hút nọc của các loại rắn độc, nhiều người dân tỏ ra nghi ngờ và lấy làm lạ, nhưng qua tìm hiểu thực tế tại địa phương được biết, nhiều người bị rắn cắn đã được chữa khỏi nhờ phương pháp đặc biệt này.

 

Ông Nguyễn Quang Vịnh, Trạm trưởng trạm y tế xã Hồng Thái khẳng định: “Không những người dân thôn Dương Cước mà nhiều người bị rắn độc cắn ở nơi khác đến nhà ông Khản chữa trị đều khỏi hoàn toàn và không hề có bất cứ tai biến gì”.

 

Ông Vịnh cho cho biết, ông Khản không phải là bác sĩ nhưng có viên đá rất kỳ lạ có thể hút được nọc độc của các loại rắn độc. Phương pháp chữa của ông Khản không dùng thuốc mà dùng viên đá đặt vào vết cắn. Nếu là rắn độc, viên đã tự động dính chặt vào vết cắn. Sau khi hút hết độc thì viên đá tự động rơi ra ngoài.

 

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà cấp 4 đơn sơ nằm cuối thôn, ông Khản không giấu giếm khi chia sẻ về viên đá này.

Nhẹ nhàng lấy viên đá được bảo quản cẩn thận trong một chiếc hộp kín, ông Khản kể, từ thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, ông nội ông có nuôi giấu cán bộ trong nhà và cất giấu tài liệu bí mật cho cách mạng. Trong số các cán bộ nương nhờ tại gia đình, có một cán bộ người gốc Thanh Hóa, trước khi di chuyển, người cán bộ này tặng lại gia đình một viên đá làm vật kỷ niệm và có dặn dò là viên đá có tác dụng hút nọc mỗi khi bị rắn cắn.

 

Khi ông nội qua đời, viên đá được truyền lại cho cha ông là cụ Vũ Văn Vần. Theo ông Khản, hồi còn trẻ, nhiều lần được chứng kiến cha sử dụng viên đã để cứu người bị rắn cắn.

Ông tâm sự: “Bản thân tôi cũng không biết bên trong viên đá này có năng lượng gì, nhưng qua nhiều lần áp dụng cứu chữa cho người bệnh, tôi phát hiện ra viên đá có khả năng hút nọc độc rắn trong tức thì.

Rõ nhất là sau khi hút độc, vết thương do rắn cắn không bị sưng tấy mà hồng hào trở lại, người bệnh cũng không còn cảm giác tê buốt”.

 

Hút nọc như nam châm.

Theo quan sát bằng mắt thường, viên đá hình vuông, màu đen xám, kích thước khoảng 2,5 cm, dày 1cm, nặng khoảng 50gram. Đặc biệt, trên hai bề mặt viên đá có một lỗ tròn, bên trong lỗ tròn có khắc hình chữ U.

Theo lời ông Khản, khi có người bị rắn cắn đến nhờ chữa trị, chỉ cần lấy viên đá ra đặt lên vết cắn. Thời gian chữa trị tùy theo vết cắn sâu hay nông. Nếu vết cắn còn mới, thì chỉ cần 1 giờ đồng hồ, lâu hơn thì cũng chỉ 2 giờ đồng hồ là viên đá sẽ hút hết nọc độc,

 

Điều kì lạ là nếu vết cắn do rắn độc, viên đá sẽ dính chặt vào vết cắn, hút cho đến khi hết độc mới tự động nhả ra. "Nếu là rắn thường, không có độc tố, viên đá sẽ không dính vào da thịt mà tự động nhả ra ngoài”, ông khẳng định.

 

Mặc dù chưa được kiểm chứng khoa học, nhưng viên đá kỳ lạ mà ông Khản đang lưu giữ đã cứu sống được nhiều người thoát khỏi “thần chết”. Không những người dân trong thôn, mà các xã, tỉnh thành lân cận, khi hay tin ông có viên đá có thể chữa rắn cắn, nhiều người đã tìm đến nhà chữa trị và đều được chữa khỏi.

 

Ông Nguyễn Văn Cậy nhà ở thôn Xuân Cước (xã Hồng Thái) từng bị rắn hổ mang phì cắn vào bắp chân khi đang dọn vườn nhớ lại: “Khi bị rắn cắn, lúc đó bắp chân sưng to và đau nhức, các con cháu tôi đưa đến nhà ông Khản. Sau hơn 40 phút hút nọc bằng viên đá, tôi có thể đi lại bình thường và không còn cảm giác sưng tấy hay đau đớn”.

 

Hay như trường hợp của bà Lê Thị Thẹo ở thôn Xuân Cước trong khi đi cắt lúa bị rắn hổ mang cắn vào ngón tay. Sau khi được chuyển đến trạm y tế xã, sơ cứu, người nhà đưa bà đến nhà ông Khản, nhờ viên đá mà bà được cứu sống.

 

Trong cuốn ghi nhật ký bệnh nhân dày cả trăm trang, ông Khản kể về trường hợp một cháu bé tên Mai ở (Quỳnh Côi, Thái Bình). Ngày đó, cháu Mai bị rắn cạp nong cắn khi ra đồng cùng mẹ. Do ở xa nên khi người nhà đưa tới nơi, cháu đã mê man. Nhưng nhờ viên đá hút độc, ông Khản đã cứu sống ca bệnh thập tử nhất sinh này.

 

Một vài lý giải khoa học

Trao đổi với PV báo Công lý, Tiến sỹ Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng UIA cho biết, việc một người dân ở Thái bình có viên đá chữa rắn cắn tuy chưa giải thích được căn nguyên, nhưng về mặt khoa học thì đó là sự thực không thể phủ nhận.

 

Ông Khanh lý giải, trong thế giới tự nhiên có những chất tương sinh tương khắc nhau, có thể làm tăng hoặc giảm, thậm chí là khử hẳn (hoặc triệt tiêu) đặc tính lý hóa của nhau.

Trong thế giới động vật, có những thứ rất kỵ nhau: như khi bị rết cắn, lấy nước dãi của con gà hoặc nhựa của con ốc sên bôi vào chỗ rết cắn để chữa thì rất hiệu quả. Hay khi bị lông bọ róm thì rất ngứa rát, nhưng chỉ cần lấy ruột của chính con bọ róm đó bôi vào thì dịu ngay bởi các chất trong ruột của con bọ róm đó chính là chất “khắc tinh” với chất độc của lông bọ róm.

 

Ông Khanh lấy dẫn chứng, trên thế giới, cũng có nhiều bộ lạc chữa rắn độc hoặc các loại trùng thú cắn bằng các loại lá cây, và đặc biệt có những bộ lạc cũng dùng những viên đá để hút nọc độc. Các viên đá này có tính năng đặc biệt, có thể tương khắc với nọc độc của rắn hoặc nọc độc của trùng thú.

 

Vốn xã hội như nền tảng đạo đức của phát triển

 

VỐN XÃ HỘI NHƯ NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHÁT TRIỂN

Điều đáng chú ý là trong các khủng hoảng (dịch bệnh, thiên tai), chính vốn xã hội - chứ không phải tài sản vật chất - trở thành lực chống đỡ đầu tiên: từ “ATM gạo”, “siêu thị 0 đồng”, đến các nhóm thiện nguyện tự phát. Điều này chứng minh rằng, vốn xã hội không chỉ là công cụ kinh tế, mà còn là “hạ tầng đạo đức” giữ xã hội khỏi đổ vỡ.

Habermas cho rằng, xã hội chỉ tồn tại bền vững nếu giữa người với người có khả năng đạt đến đồng thuận qua giao tiếp, chứ không chỉ bằng cưỡng chế hay lợi ích. Do đó, hiện đại hóa không có nghĩa là từ bỏ truyền thống, mà là nâng cấp các giá trị truyền thống (tương trợ, tín nghĩa) lên tầm lý tính và pháp lý.

Sự chuyển hóa của vốn xã hội trong bối cảnh hiện đại, xét kỹ hơn, không phải chỉ là thay đổi hình thức kết nối, mà còn là thay đổi cách con người hiểu về chính mình trong tương quan với người khác.

Trong xã hội truyền thống, cá nhân thường coi mình như một phần của gia đình, dòng họ, làng xã; còn trong xã hội hiện đại, cá nhân vừa được giải phóng, nhưng đồng thời cũng phải tự chịu trách nhiệm về lựa chọn, uy tín và các mối quan hệ xã hội. Điều này khiến vốn xã hội trở thành thước đo phẩm chất đạo đức - không phải áp đặt từ bên ngoài, mà được lựa chọn một cách tự nguyện dựa trên lý trí.

Nếu trước đây một người giúp đỡ họ hàng như nghĩa vụ, thì ngày nay sự giúp đỡ cần đi kèm với chuẩn mực minh bạch, chia sẻ lợi ích và tôn trọng cam kết.

Đây chính là bước chuyển từ đoàn kết cảm tính (solidarity of sentiment) sang đoàn kết lý tính (solidarity of responsibility). Nói cách khác, vốn xã hội hiện đại không chỉ dựa vào cảm tình, mà dựa vào niềm tin có cơ sở

Điều này dễ thấy trong thực tế: một hợp tác xã nông nghiệp không còn hoạt động theo kiểu “ai cũng như ai”, mà yêu cầu từng thành viên tuân thủ quy trình, kỹ thuật, chất lượng sản phẩm. Nếu một hộ làm sai chuẩn, ảnh hưởng đến thương hiệu chung, họ có thể bị loại khỏi hệ thống. Như vậy, vốn xã hội hiện đại không loại bỏ tự do cá nhân, nhưng đặt tự do đó trong khuôn khổ trách nhiệm với cộng đồng.

Một chiều cạnh khác của sự chuyển hóa vốn xã hội là sự trỗi dậy của tinh thần công dân (citizenship) thay cho tư duy “làng xã - họ tộc”. Người dân không còn chỉ tìm đến trưởng họ, trưởng làng để giải quyết tranh chấp, mà tin vào pháp luật, chính quyền, các tổ chức nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội…

Điều này thể hiện quá trình chuyển dịch từ niềm tin cá nhân sang niềm tin hệ thống, đồng thời cho thấy vốn xã hội không biến mất, mà mở rộng sang không gian thể chế hóa.

Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra một nghịch lý: khi con người càng dựa vào hệ thống pháp luật, sự tin cậy trực tiếp giữa người với người có thể giảm. Xã hội càng hiện đại, tình trạng cô lập nội tâm càng tăng - con người có thể kết nối kỹ thuật số với hàng nghìn người, nhưng lại khó tìm kiếm một mối quan hệ thực sự tin cậy.

Điều này đặt ra một câu hỏi triết học quan trọng: liệu vốn xã hội hiện đại có thể duy trì chiều sâu nhân văn nếu chỉ dựa trên hợp đồng và lợi ích?

Câu trả lời nằm ở chỗ, vốn xã hội chỉ thực sự bền vững nếu nó kết hợp được giữa đạo lý truyền thống và lý tính hiện đại; giữa tình nghĩa và pháp luật; giữa tự do cá nhân và trách nhiệm chung.

Khi đó, phát triển kinh tế không làm mất đi tính người, mà ngược lại, trở thành điều kiện để khẳng định phẩm giá và tính cộng đồng của con người.

 

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

Ưu nhã chính là khí chất giúp người ta đẹp mãi cùng năm tháng

 

ƯU NHÃ CHÍNH LÀ KHÍ CHẤT GIÚP NGƯỜI TA ĐẸP MÃI CÙNG NĂM THÁNG

Một người ưu nhã, nhất định là một người hòa ái và khoan dung. Trong xã hội ồn ào náo nhiệt này, như một làn gió mát khiến lòng người vui vẻ thoải mái. Bởi trong lòng có non có nước, lúc nào nơi nào họ cũng đều sẽ thể hiện ra một dung nhan thanh tú, một phong thái trang nhã say đắm lòng người.


Ưu nhã, là một loại khí chất vĩnh hằng đi cùng năm tháng. Nó là sự từng trải các loại trên đường đời của sinh mệnh mà thể hiện ra một loại phong thái điềm đạm thản nhiên, trút bỏ đi vẻ ngoài non nớt ấu trĩ của tuổi thanh xuân, mà trình hiện ra một loại khí chất chín chắn chững chạc.

Một người ưu nhã, nhất định có kèm theo một sức hút đặc biệt, và một tâm hồn sung mãn phong phú không màng danh lợi.

 

Ưu nhã không phải là loại khí chất thanh cao không nhiễm mùi đồng tiền, cũng không phải là coi giữ phong hoa tuyết nguyệt ngâm xướng một mình, càng không phải là loại tư thái cố gắng tô vẽ bản thân, thời khắc bảo trì vạt áo đoan trang ngồi ngay ngắn người, để người khác đến tán thưởng.

Thật ra ưu nhã trước nay không phải là làm cho người khác xem, ưu nhã thật sự, là tu dưỡng trong tâm, bắt đầu từ hình sắc biểu hiện ra bên ngoài.

 

Ưu nhã vốn không phải là khi sinh mang theo đến, nó là một loại kết hợp hoàn mĩ giữa trí huệ và tâm hồn.

Ưu nhã của một người là đến từ việc học hỏi tri thức, trái nghiệm đời người và đắp nặn của cuộc sống; là tượng trưng của sự tự tin, tự lập và tao nhã; loại phẩm chất này là đến từ lĩnh ngộ về sinh mệnh, và là sự lắng đọng và tích lũy của đời người.

 

Người ưu nhã, nhất định là có một đôi mắt biết cảm thụ cái đẹp, có một tâm hồn thiện lương, là trí huệ nơi sâu thẳm trong tâm hồn mà năm tháng nặn đắp ra. Ưu nhã, toát ra một loại phong vận tự nhiên mà thành, là một vẻ đẹp thâm thúy.

Ưu nhã cũng có lẽ có liên quan với tuổi tác, nhưng càng liên quan hơn với sự nỗ lực không ngừng của tự thân.

 

Một người ưu nhã, nhất định là hiểu được tự yêu thương mình, tự tin tự lập, trí huệ một cách vững chắc, ăn nói bình tĩnh, diện mạo thanh thoát và một trái tim thiện lương.

Lincoln nói: 30 tuổi, tướng mạo là cha mẹ ban cho, 40 tuổi thì phải tự mình chịu trách nhiệm với tướng mạo của chính mình.

 

Một người có nội tâm ưu nhã, dù cho tướng mạo thế nào, đều mang theo một vẻ đẹp mê đắm lòng người. Vẻ đẹp thật sự, là một loại khí chất từ trong ra đến ngoài. Thích một người, bắt đầu bởi dung nhan, chìm vào trong tài hoa, và trung thành bởi nhân phẩm.

 

An Nhiên