Hiển thị các bài đăng có nhãn Giao tiếp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giao tiếp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

Nói chuyện khiến người khác thoải mái cũng là một dạng trí tuệ

 

NÓI CHUYỆN KHIẾN NGƯỜI KHÁC THOẢI MÁI CŨNG LÀ MỘT DẠNG TRÍ TUỆ

 

Có những người bước vào phòng, không cần nói gì nhiều, chỉ một nụ cười nhẹ và câu chào ấm áp đã làm không khí dịu lại ngay tức thì.

Có những người dù kiến thức uyên thâm, lời lẽ sắc sảo, nhưng chỉ sau vài phút trò chuyện, đối phương đã thấy mệt mỏi, muốn tìm lý do rút lui. Sự khác biệt ấy không nằm ở vốn từ vựng hay khả năng hùng biện, mà nằm ở một loại trí tuệ tinh tế hơn: trí tuệ biết cách nói chuyện để người khác được thoải mái.

 

Trí tuệ này không ồn ào, không phô trương. Nó lặng lẽ quan sát, lắng nghe và chọn lựa. Nó hiểu rằng con người ta không luôn cần lời khuyên sâu sắc, đôi khi chỉ cần một câu “Ừ, mình hiểu mà” chân thành là đủ để trái tim đang co lại được nới lỏng. Nó biết im lặng đúng lúc cũng là nói, biết cười trừ khi câu chuyện chạm vào vết thương cũ và biết chuyển hướng khéo léo khi không khí bắt đầu nặng nề.

 

Người có trí tuệ này không bao giờ dùng lời nói để chứng minh mình đúng, mình giỏi hơn hay mình từng trải hơn. Họ không chen ngang để kể “Hồi đó mình cũng từng…”, không vội vàng đưa giải pháp khi người khác chỉ đang muốn trút bầu tâm sự.

Họ hiểu rằng trong rất nhiều khoảnh khắc, người đối diện không cần một chuyên gia phân tích, mà chỉ cần một người bạn đồng hành thấu cảm.

 

Họ biết dùng giọng điệu để xoa dịu. Cùng một câu nói, người khác có thể thốt ra lạnh lùng, nhưng qua miệng họ lại trở nên ấm áp. Họ biết hạ thấp âm lượng khi kể chuyện vui, biết nhấn nhá khi chia sẻ điều xúc động và biết dừng lại đúng chỗ để người kia có không gian thở, có không gian đáp lại.

 

Họ cũng biết tôn trọng ranh giới, không đào sâu vào những vùng người khác chưa sẵn sàng mở, không hỏi dồn dập, không phán xét ngay cả khi bất đồng. Họ để người khác được là chính mình trong cuộc trò chuyện, không cần đóng vai, không cần phòng thủ.

 

Loại trí tuệ này cần sự nhạy bén của trái tim nhiều hơn là của khối óc. Nó đòi hỏi ta phải gạt cái tôi sang một bên, phải thực sự quan tâm đến cảm xúc của người đối diện thay vì chỉ tập trung vào việc mình muốn nói gì tiếp theo. Nó cần luyện tập: luyện nghe nhiều hơn nói, luyện nhìn vào mắt người kia thay vì nhìn điện thoại, luyện kiên nhẫn khi câu chuyện không đi theo hướng mình mong muốn.

 

Và đẹp thay, khi ta sở hữu được chút trí tuệ ấy, ta không chỉ làm người khác thoải mái mà chính mình cũng nhẹ nhàng hơn. Vì lúc ấy, nói chuyện không còn là sân khấu để biểu diễn, không còn là cuộc thi ai thông minh hơn, mà chỉ đơn giản là một cây cầu nhỏ nối hai tâm hồn. Mỗi lần trò chuyện trở thành một món quà nhỏ trao nhau: người nói được giải tỏa, người nghe được sẻ chia.

 

Cuộc đời vốn đã nhiều góc sắc, nhiều lời nói làm tổn thương vô tình hay cố ý. Vậy nên, nếu ta có thể trở thành một người mà chỉ cần ngồi xuống nói chuyện vài câu thôi, người kia đã thấy lòng mình dịu lại, thì đó đã là một dạng thành công rất đẹp, rất nhân văn.

Nói chuyện khiến người khác thoải mái không phải là kỹ năng phụ, mà là một loại trí tuệ cao cấp, trí tuệ của sự tinh tế, của lòng tốt được mài giũa qua năm tháng. Và có lẽ, trong tất cả các loại thông minh trên đời, đây là loại khiến thế giới quanh ta trở nên dễ chịu hơn một chút, ấm áp hơn một chút.

 

Chỉ cần vậy thôi, cũng đủ rồi.

Trí tuệ trong cách trò chuyện không nằm ở những câu nói dài dòng hay triết lý sâu xa, mà thường hiện lên qua những khoảnh khắc nhỏ, tinh tế đến mức người nghe chỉ cảm nhận được sự dễ chịu mà không kịp nhận ra mình vừa được “chăm sóc” rất khéo.

 

Trí tuệ trò chuyện không chỉ làm người khác thoải mái mà đôi khi còn khiến họ cười nghiêng ngả, quên luôn cả nỗi buồn đang mang theo. Có được chút hài hước ấy, bạn không chỉ làm người khác thoải mái mà còn biến mỗi cuộc trò chuyện thành một liều thuốc bổ vừa chữa lành vừa gây nghiện. Ai mà chẳng muốn nói chuyện mãi với một người vừa thấu hiểu vừa… làm mình cười đau cả bụng!

 

Mỹ Mỹ

 

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2025

Bác Tôn Đức Thắng - bậc thầy của nghệ thuật thuyết phục, cảm hóa

 

BÁC TÔN ĐỨC THẮNG - BẬC THẦY CỦA NGHỆ THUẬT THUYẾT PHỤC, CẢM HÓA

 

Tháng 7/1929, nhân sự kiện vụ án đường Barbier (nay là đường Thạch Thị Thanh, phường Tân Định, quận 1, TP. Hồ Chí Minh), thực dân Pháp mở đợt khủng bố lớn, bắt hội viên Kỳ bộ tại Sài Gòn và Nam bộ, Tôn Đức Thắng bị bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn.

Ngày 25/6/1930, Tòa đại hình Sài Gòn kết án Bác Tôn 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo vì “Can tội tham gia hội kín, âm mưu kích động, chống phá nền an ninh quốc gia, chống lại Chính phủ Pháp và Chính phủ bảo hộ...”.

 

Chúng xác định Tôn Đức Thắng là người tù nguy hiểm nên phải nhốt riêng, không cho liên lạc với ai, Vừa tới Côn Đảo, Bác Tôn bị liệt vào loại tù nguy hiểm, bị giam ở Sở Tẩy (Tải) thuộc Banh I, Xà lim 15, đa số là đối tượng cướp của, giết người, sau đó chúng đưa đến nhiều nơi và Hầm xay lúa, nơi đáng sợ nhất của người tù.

Tuy nhiên, trong lao tù, Bác Tôn luôn tìm cách truyền hơi ấm tình đồng chí, đồng bào, trao lửa cách mạng cho nhiều người và trở thành trung tâm đoàn kết.

 

Hơn 15 năm bị tù đày, bằng tình cảm chân thành, lý tưởng cộng sản cao cả, Bác Tôn đã thuyết phục, cảm hóa nhiều người tù, kể cả người đang hành hạ mình và đồng bào mình.

Cùng ở Côn Đảo với Bác Tôn, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn nhận xét: “Trong tù đày vô cùng khắc nghiệt, vậy mà đồng chí Tôn Đức Thắng luôn luôn lạc quan, giữ lòng tin tưởng, sống với anh em chân tình, ấm áp... Trong ngục tù đế quốc, đồng chí thể hiện đầy đủ tinh thần nhân văn cao cả: Sống chí tình, chí nghĩa, nhân ái, thủy chung với đồng chí, bạn bè và những người cùng cảnh ngộ”.

Còn trong ký ức của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh: “Tôi học ở Bác Tôn lòng thương bạn tù, luôn luôn giáo dục họ. Dù bị tù ngục nhưng Bác Tôn luôn quyết tâm chiến đấu chống lại áp bức của bọn cai ngục. Người đầu tiên gần gũi và giáo dục lý tưởng cộng sản cho tôi chính là Bác Tôn”.

 

Sử nhà tù Côn Đảo ghi lại, mỗi năm có khoảng 15% số người tù bị chết mòn trong ngục thất do ăn gạo hẩm, khô mục, không tắm rửa, thiếu nước uống, chỗ ở không ánh sáng, chật chội, bệnh không thuốc men, bị đánh đập...

Ở chung với tù nhân có tiền sự hung ác, Bác Tôn nói đến tình đồng loại, chỉ ra hành động của Pháp rồi thuyết phục, cảm hóa nên số tù lưu manh không dám hống hách, côn đồ với các tù nhân khác, cùng góp sức đấu tranh đòi công bằng, đòi quyền sống...

Qua đó, Bác không bị “làm khó, kiếm chuyện” để triệt tiêu theo ý muốn của quản lý nhà tù, mà còn được bảo vệ, gọi là “Anh Hai Thắng” như thần tượng.

 

Không “trừ khử” được người tù số 5289.20TF, năm 1930, lấy cớ nhà tù bị bão lớn làm chết 75 tù nhân và hàng trăm người “sống như chết”, Pháp lập danh sách đưa 500 người lưu đày ở đảo Cayen của Nam Mỹ, trong đó có Bác Tôn. Biết đi sẽ không có ngày về, nhiều tù nhân đấu tranh đòi ở lại Côn Đảo nhưng không được.

Trước lúc lên đường, Bác Tôn được bác sĩ của nhà tù Pélisser cho uống thuốc IPK (loại thuốc gây đau bụng cấp tính), cho biết phải ở lại mổ gấp. Sau đó, Bác Tôn đến trạm xá để “mổ cắt dạ dày” và không đi chuyến lưu đày, bảo toàn được tính mạng trong gang tấc.

 

Một năm sau đó, Pháp cho Bác Tôn làm chức “cặp rằn”, muốn để chính bàn tay của tù nhân giết chết. Tuy nhiên, Bác Tôn lại dùng quyền được trao để cải tạo chế độ lao tù, giác ngộ nhóm tù lưu manh, tạo sự đoàn kết, thương yêu, chia sẻ giữa các thành phần tù nhân ở Hầm xay lúa.

Bác còn yêu thương, chăm sóc, tự tay tắm rửa cho tù nhân bị thương. Đồng thời, bác giáo dục, kết nạp vào Đảng một số người đủ điều kiện, tìm cách tổ chức và đưa ra phương pháp đấu tranh của chi bộ nhà tù, tiếp tục giáo dục chính trị cho tù nhân để thương yêu, giúp đỡ, đồng thuận nhau.

 

Bác Tôn nói với tù nhân: “Các anh xay bao nhiêu thì xay, không xay thì thôi, nó đánh tôi hay làm gì tôi thì mặc kệ nó”. Từ đó, Bác Tôn trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết, bệ đỡ của tù nhân mà cái chết từng ngày rình rập. Đến lúc Bác Tôn làm cặp rằn ở Hầm xay lúa, có khoảng 10 cặp rằn bị giết, nhưng không giết được “Anh Hai Thắng”.

 

Nguyễn Rạng báo An Giang

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2025

Muốn giỏi giao tiếp, hãy tập chơi với trẻ con

  

MUỐN GIỎI GIAO TIẾP, HÃY TẬP CHƠI VỚI TRẺ CON

Trẻ con nguy hiểm nhất ở chỗ: chúng không nói dối và cũng không xã giao.

Chỉ nghĩ mình giỏi giao tiếp thôi thì thật dễ dàng, vì bạn có thể nghĩ việc nói chuyện với người lạ và có thể làm tất cả mọi người bật cười là chuyện nhỏ.

Nhưng bạn sẽ phải giật mình nghĩ lại sau khi làm bài kiểm tra nghiêm khắc sau: đơn giản hãy chơi với một đứa trẻ mà bạn không quen. Trên lí thuyết thì điều này quá dễ dàng.

Chúng ta đều từng là trẻ con, hiểu biết rộng hơn chúng bao nhiêu, lại còn – theo chúng thì – nắm trong tay quyền lực để mua một đống bánh quy và chui lên giường ngủ bất cứ khi nào muốn.

 

Nhưng trên thực tế, rất khó để thoải mái khi ở cạnh những đứa trẻ chúng ta chưa từng quen biết. Hãy tưởng tượng ta được mời đến nhà sếp ăn cơm và bị bỏ lại một mình ở căn bếp với bé trai mười tuổi đang ủ rũ; hay được giới thiệu vào một phòng chơi với hai cô bé năm tuổi nhút nhát là con của một người bạn. Chúng ta sẽ nhanh chóng bối rối, chẳng biết phải nói gì và cảm thấy ngốc ngếch.

 

Nguyên nhân nằm ở chỗ, trẻ em không có khả năng xã giao giống như người lớn với nhau. Chúng không lịch sự hỏi ta “dạo này thế nào”, và không có hứng thú gì với cuộc sống hay những điều quan trọng với ta. Chúng không quan tâm đến thời sự hay thời tiết và cũng chưa ý thức được về bản thân và những mối bận tâm của mình.

Nếu hỏi chúng tại sao lại thích đồ chơi này, thích bộ phim kia thì chúng thường sẽ đần mặt ra, và chỉ đơn giản trả lời là “con thích thì con chơi thôi”.

Cùng với sự đáng yêu, trẻ em là hiện thân của rào cản cực lớn với tính lưu động xã hội. Đó là lí do tại sao trẻ em chính là bài kiểm tra về nghệ thuật thu hút và lòng tử tế của người lớn.

 

Qua những trang văn hóa lịch sử, chúng ta có một vài tấm gương về những người vĩ nhân có khả năng vui đùa cùng trẻ con. Montaigne không thể tìm ra điều gì nổi bật trong cuộc sống của Socrates (cha đẻ của triết học phương Tây) hơn là năng khiếu đặc biệt của ông trong việc chơi đùa với trẻ con.

Những năm sau này, Socrates dành rất nhiều thời gian chơi đùa và cõng bọn trẻ trên lưng. Montaigne cũng nói thêm rằng “Điều này hoàn toàn phù hợp với con người ông. Triết học cho rằng tất cả những hành động đó đã giúp hình thành và tôn vinh một nhà thông thái.”

 

Henri IV, vị vua người Pháp trị vì từ năm 1589 đến 1610, được nhớ tới với tư cách là một quốc vương nhân từ nhất, cũng luôn rất dịu dàng với trẻ em. Trong một dịp đặc biệt, đại sứ Tây Ban Nha đến thăm quốc vương và thấy người đang giả làm ngựa cho đứa con cưỡi. Thay vì dừng trò chơi ngay lập tức, Henri để ngài đại sứ chờ một lúc, ám chỉ rằng thỉnh thoảng cũng hợp lý khi trì hoãn sự ưu tiên dành cho người lớn.

 

Điều chạm đến lòng người trong những câu chuyện trên, là người lớn không cố gắng thể hiện quyền năng của mình trước mặt con trẻ. Socrates không chọn truyền tải những bài giảng về siêu hình học, Henri IV cũng không bình thản trên ngai vàng và tranh luận cách cai trị một vương quốc.

Họ đặt đức hạnh và uy thế của mình sang một bên để sống với bản chất dễ bị tổn thương, điều cần làm khi tình bạn bị nguy hại. Họ dám để bản thân mình bị công kích bởi những người có thể coi họ như kẻ “ngốc nghếch” và “chẳng ra sao” và tự ngầm hiểu rằng tình bạn chỉ có thể xuất hiện khi những tâm hồn đồng điệu gặp nhau, mỏng manh, chân thật nhất và không chút giả tạo.

 

Hơn nữa, hai người đàn ông xuất chúng này còn biết cách tìm ra điểm chung với những người hoàn toàn xa lạ trong nhiều lĩnh vực. Những người hiểu biết rộng về thế giới luôn tìm kiếm cách thống nhất chứ không chia rẽ mọi người, và luôn có khả năng tạo ra niềm vui thích và hứng khởi trong một đứa trẻ chỉ mới vài tuổi.  

Những người thạo đời biết rằng chúng ta (thậm chí từ trong hình hài phôi thai) đã chứa tất cả năng lực của loài người trong mình, từ đó họ có thể đồng cảm với quan điểm và nhu cầu của người khác.

 

Vì vậy dù trở nên tự tin thì những người đó vẫn biết cách kết nối với phiên bản nhút nhát của mình. Thậm chí khi đã ổn định về tài chính, họ vẫn đồng cảm được với mối lo của những người mang gánh nặng cơm áo gạo tiền. Hay khi sự nghiệp không tiến triển tốt, họ vẫn không hề cay cú mà có thể tìm ra một phần khao khát thịnh vượng làm động lực cho bản thân, và dùng nó để kết nối chân tình với người có sự nghiệp thật sự phát đạt.

 

Cách ứng xử với trẻ em của những người xuất chúng là những hành động mà chúng ta nên học hỏi để cư xử với bất cứ ai, không kể tuổi tác, khi bạn muốn gắn kết hơn với họ. đó là lúc những con người vĩ đại nhất cũng cúi đầu cong lưng làm ngựa cho trẻ con cưỡi lên, nên nó có sức ảnh hưởng đặc biệt.

Lẽ thường, ta luôn thầm tha thiết được gần gũi với những người xung quanh, nhưng nỗi sợ đánh mất tự trọng đã khiến ta trở nên lạnh lùng xa cách. Tình bạn bắt đầu và nỗi cô đơn chấm dứt khi chúng ngừng cố gắng gây ấn tượng, có can đảm để bước ra ngoài vùng an toàn và thỉnh thoảng dám cư xử ngốc nghếch một chút.

 

Theo The book of life