Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

Hiệu ứng đóng khung trong tâm lý học (The Psychology of Framing)

 

HIỆU ỨNG ĐÓNG KHUNG TRONG TÂM LÝ HỌC (THE PSYCHOLOGY OF FRAMING)

 

Chúng ta có thể đã từng nghe đến câu nói ly nước “nửa đầy” hoặc “nửa vơi”. Vẫn cùng là một lượng nước như vậy trong cả hai ly nhưng phản ứng của bạn có thể khác nhau tùy thuộc vào cách mô tả. Hoặc đĩa thịt nguội cắt lát “90% không chất béo” với “10% chất béo”. Lượng thịt là như nhau nhưng bạn cảm thấy khác biệt vì cách sản phẩm được mô tả.

 

“Đóng khung” xuất hiện khi cùng một thông tin được trình bày, hay được “đóng khung” theo những cách khác nhau, thường tạo ra nhiều cảm xúc khác nhau ngay cả khi thông tin không có gì khác biệt. Nhưng con người ta có thể có nhiều ấn tượng khác nhau về cũng nhũng thông tin giống nhau.

 

Đóng khung là một thiên kiến nhận thức, hay một lỗi sai trong tư duy. Theo TS. Regina Lazarovich, nhà tâm lý học lâm sàng và sáng lập viên của Compass CBT, “Con người ta đưa ra hầu hết các lựa chọn…

 

Sẽ rất tốt nếu ta hiểu rõ được hiệu ứng đóng khung vì nó cho phép ta hiểu được các lựa chọn đưa ra bị thao túng như thế nào bởi các thông tin được trình bày, không chỉ bởi bản thân thông tin đó, Tiễn sỹ, nhà tâm lý học Dillon Harper chia sẻ. “Nhận thức này có thể khiến chúng ta cẩn trọng hơn và ít bị rơi vào những cú lừa khiến ta đưa ra những lựa chọn không thức sự phù hợp.”

 

Trong bài viết dưới đây, chúng ta sẽ cùng đào sâu thông tin cơ bản của hiệu ứng đóng khung trong tâm lý học.

Daniel Kahneman và Amos Tversky lần đầu tiên đề xuất hiệu ứng đóng khung trong một phần nội dung của Thuyết Triển Vọng năm 1979.

 

Thuyết Triển Vọng, theo lý giải của GinaMarie Guarino, một tư vấn viên sức khỏe tâm thần tạo PsychPoint, “phát biểu rằng con người ra đưa ra quyết định dựa trên mức độ nguy cơ so với lợi ích thu được.”

 

Điều này đánh vào khuynh hướng “thích được” và “né mất” tự nhiên của chúng ta, cản trở tư duy logic và khiến con người ta đưa ra quyết định dựa trên cảm nhận ta có hơn là thực tế. Cứ xem lại ví dụ ở trên về thịt nguội cắt lát 90% không chất béo với 10% có chất béo.

Lựa chọn của bạn có thể không logic mà lại bị tác động bởi phản ứng cảm xúc với lựa chọn từ ngữ của nhà tiếp thị.

 

Đóng khung tích cực và tác động của nó lên quá trình ra quyết định.

Đóng khung tích cực làm nổi bật lợi ích của bối cảnh. Nó khuyến khích ta tập trung vào mặt lạc quan và khiến ta sẵn lòng hành động, theo Harper chia sẻ. Ông nói, “Ví dụ, nói vaccine này hiệu quả 95% sẽ khiến mọi người muốn tiêm nó hơn.”

 

Đóng khung tiêu cực và tác động của nó lên quá trình ra quyết định.

Đóng khung tiêu cực, mặc khác, lại làm nổi bật những tình huống xấu và cái ta có thể đánh mất nếu ta không thực hiện một hành động nào đó. Dạng đóng khung này khiến con người ra sợ hậu quả của điều sẽ xảy ra nếu họ không đưa ra quyết định nào đó và có thể khiến mọi người sợ đánh liều hơn, theo Harper.

Ông nói, “Ví dụ, nếu bạn nhận được một tin nhắn nói “Nếu bạn không bôi kem chống nắng thì bạn sẽ dễ bị ung thư da”, mọi người sẽ sợ và rồi thực hiện hành động dự phòng này.

 

Đóng khung so sánh và ảnh hưởng của nó lên quá trình ra quyết định.

Đóng khung so sánh, theo Guarino, “tạo ra một so sánh thiên kiến về thông tin chủ quan.” Dạng đóng khung này có thể ảnh hưởng lên những chọn lựa của chúng ta bằng cách so sánh những thông tin khách quan theo hướng ta mong muốn hơn là những hướng khác.

 

Ví dụ, Gurino nói rằng, quảng cáo một con ngựa đua có thể chạy nhanh gấp đôi những con khác sẽ tạo ra một khung nhận thức thiên vị mà một số người thích tin theo mặc cho câu nói này nghe có vẻ không thể nào là khả thi.

 

Ví dụ trong đời sống hằng ngày.

Ví dụ về đóng khung trong đời sống là rất nhiều nhưng lại hay bị giấu giếm đi. Gurino trích dẫn những phiên bản khác nhau của cùng một câu chuyện giữa các đài tin tức khác nhau. Giả sử cả hai kênh tin tức, một kênh bảo thủ như Fox News, và một kênh tự do hơn như MSNBC, đều cùng đưa tin về một câu chuyện, về việc một phía của Quốc Hội đã giết chết một dự luật trước khi thông qua nó.

Trong trường hợp này, các câu chuyện được trình bày – và ai bị phỉ báng hay ủng hộ – đều có thể còn tùy vào mạng thông tin mà bạn đang theo dõi.

 

Một ví dụ thực tế khác, theo Harper, là cách bác sĩ trình bày kết quả phẫu thuật liên quan đến tỷ lệ sống sót hơn là tỷ lệ tử vong. Đóng khung tích cực như thế này khích lệ con người ta chọn phẫu thuật nhiều hơn so với đóng khung tiêu cực.

 

Những ví dụ này minh họa cách những người làm trong chính trị, tin tức, sức khỏe, tiếp thị, v.v… sử dụng hiệu ứng đóng khung để ảnh hưởng lên cách mọi người ra quyết định. Đóng khung có thể ảnh hưởng lên nhận thức của công chúng và định hình hành vi.

 

Ví dụ, “các nhà tiếp thị có thể đóng khung một sản phẩm là “mới và cải tiến” để thu hút người mua, ngay cả khi đó chỉ là những thay đổi nhỏ,” Harper giải thích. “Các chính trị gia sử dụng hiệu ứng đóng khung để ảnh hưởng đến các cử tri bằng cách trình bày các chính sách phù hợp với các giá trị của người nghe, như đóng khung kế hoạch thuế là “công bằng và bình đẳng” hoặc “hủy hoại công việc”, tùy thuộc vào phản ứng họ mong muốn thấy.

 

Ý nghĩa đạo đức của hiệu ứng đóng khung còn tùy thuộc vào liệu nó được sử dụng để thông báo hay thao túng. Khi được sử dụng để thông báo, “nó có thể mang lại lợi ích” theo Harper. Nhưng nếu được dùng để dẫn thông tin sai, nó sẽ làm dấy lên quan ngại về đạo đức liên quan đến tính công bằng và sự rõ ràng trong thông tin được trình bày.”

 

Guarino đồng tình và kết luận rằng “khi thông tin khách quan bị thao túng để trở nên hấp dẫn hơn, ngay cả khi nó che giấu những rủi ro không mong muốn hoặc trình bày thông tin theo hướng lừa dối người tiêu dùng,” thì khía cạnh đạo đức nên cân nhắc, như với các hình thức tiếp thị thao túng hoặc đưa tin hướng thiên vị.

 

Là người tiếp nhận thông tin, bạn cần luôn suy nghĩ về những gì người truyền tải thông điệp đang cố nói với bạn, đặc biệt là nếu họ đang giới thiệu thứ gì đó để bạn mua hoặc một bên nào đó để bạn chọn lựa.

 

Các chiến lược giảm thiểu ảnh hưởng của hiệu ứng đóng khung.

Các chiến lược giúp giảm thiểu ảnh hưởng của hiệu ứng đóng khung bao gồm tự giáo dục bản thân về cách vận hành của hiệu ứng này (chính là điều bạn đang làm – chúc mừng!). Theo Harper, bạn cũng nên “nhận thức cách mà thông tin được trình bày và cân nhắc những góc nhìn thay thế.

 

Việc hỏi bản thân cách mà cùng một thông tin có thể được đóng khung khác nhau có thể giúp bạn nhìn ra được thiên kiến.”

Bạn cũng có thể tự nghiên cứu tính hợp pháp của thông tin được đóng khung, theo Guarino. Harper cũng đồng ý, cho rằng việc dành thời gian tư duy phản biện về thông tin trước khi ra quyết định cũng là một cách để giảm bớt sức mạnh của hiệu ứng đóng khung.

 

Tổng kết. Đóng khung là một chiến thuật tâm lý xuất hiện ở quanh ta. Bạn có thể đã từng sử dụng chúng để trình bày những phát hiện của riêng bạn với bạn đời, con trẻ, cha mẹ, bạn bè hay đồng nghiệp của bạn.

 

Ví dụ, bạn có thể đã từng nói với con mình rằng trẻ con mà đi xe buýt đến trường có khả năng kết bạn cao gấp đôi. Mặc dù ví dụ này khá vô hại nhưng trường hợp những người cố thao túng suy nghĩ của bạn trong chính trị, tiếp thị hoặc những lĩnh vực khác đều cần được phải được cân nhắc.

 

Nguồn: Kahneman D. Thinking, Fast and Slow. Farrar, Straus and Giroux; 2013.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Tâm lý học: Tìm hiểu hành vi và suy nghĩ con người

 

TÂM LÝ HỌC: TÌM HIỂU HÀNH VI VÀ SUY NGHĨ CON NGƯỜI

Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi của con người. Nó khám phá cách chúng ta suy nghĩ, cảm nhận, học hỏi, tương tác với người khác và phản ứng với môi trường xung quanh.

Nghiên cứu tâm lý học giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân, người khác, và các vấn đề xã hội phức tạp. Đây là một lĩnh vực rộng lớn với nhiều chuyên ngành khác nhau, từ tâm lý học lâm sàng đến tâm lý học xã hội và tâm lý học nhận thức.

 

Ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày

Hiểu biết về tâm lý học có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực trong cuộc sống hàng ngày. Nó giúp chúng ta cải thiện kỹ năng giao tiếp, giải quyết xung đột hiệu quả hơn và xây dựng các mối quan hệ lành mạnh.

 

Ví dụ, hiểu về tâm lý học nhận thức có thể giúp bạn đưa ra quyết định tốt hơn, trong khi hiểu về tâm lý học xã hội có thể giúp bạn hòa nhập và làm việc nhóm hiệu quả hơn. Kiến thức này cũng hỗ trợ trong việc quản lý căng thẳng và cải thiện sức khỏe tinh thần.

 

Tâm lý học và sức khỏe tinh thần

Một trong những ứng dụng quan trọng nhất của tâm lý học là trong lĩnh vực sức khỏe tinh thần. Các nhà tâm lý học lâm sàng và nhà trị liệu sử dụng các nguyên tắc và kỹ thuật tâm lý học để chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa các rối loạn tâm thần.

Họ giúp bệnh nhân đối phó với lo âu, trầm cảm, căng thẳng, và các vấn đề tâm lý khác, hướng dẫn họ phát triển các kỹ năng đối phó và cải thiện chất lượng cuộc sống.

 

Tâm lý học và kinh doanh

Tâm lý học cũng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh và tiếp thị. Hiểu biết về tâm lý học người tiêu dùng giúp các doanh nghiệp thiết kế sản phẩm, dịch vụ và chiến dịch quảng cáo hiệu quả hơn.

 

Tâm lý học tổ chức giúp cải thiện môi trường làm việc, tăng cường động lực và năng suất của nhân viên. Các nguyên tắc tâm lý học được áp dụng để hiểu hành vi mua hàng, xây dựng thương hiệu và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng.

 

Các lĩnh vực liên quan

Ngoài tâm lý học, các lĩnh vực như xã hội học, thần kinh học và giáo dục học cũng nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của hành vi và tâm trí con người. Xã hội học tập trung vào cấu trúc xã hội và tương tác nhóm, trong khi thần kinh học nghiên cứu cơ sở sinh học của tâm trí và hành vi. Giáo dục học tập trung vào quá trình học tập và phát triển. Cả ba lĩnh vực này thường giao thoa và bổ trợ cho tâm lý học, cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về con người.

 

St

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Yêu Cơ Thể Hay Là Chấp Nhận Cơ Thể

 

YÊU CƠ THỂ HAY LÀ CHẤP NHẬN CƠ THỂ

 

Một cuộc khảo sát cho thấy 83% phụ nữ và 74% nam giới không hài lòng với ngoại hình của họ vào lúc này hay lúc khác, và sự không hài lòng này xảy ra thường xuyên nhất khi soi gương, mặc đồ tắm hoặc khi đi mua sắm quần áo.

 

Khi bạn không chấp nhận cơ thể của mình, nó có thể dẫn đến nhiều cảm xúc tiêu cực hơn và thậm chí có thể góp phần phát triển chứng rối loạn ăn uống. Cả hai cách tiếp cận đều nhằm giúp bạn chấp nhận cơ thể mình nhiều hơn — kể cả những sự không hoàn hảo — đó là yêu cơ thể và chấp nhận cơ thể.

 

Yêu cơ thể và chuyển sang chấp nhận cơ thể. Mặc dù mỗi cách đều có giá trị riêng, nhưng việc áp dụng cả hai phương pháp này có thể giúp bạn chấp nhận cơ thể của mình nhiều hơn và những gì nó có thể mang lại cho bạn.

 

Lịch sử về khái niệm yêu cơ thể và chấp nhận cơ thể

Việc thúc đẩy sự chấp nhận nhiều hơn đối với cơ thể vật lý của chúng ta không có gì là mới. Nó bắt đầu với chuyển hướng tích cực vào việc yêu cơ thể, sau đó chuyển hướng đến việc chấp nhận cơ thể.

 

Phong Trào Yêu Cơ Thể

Phong trào có cái nhìn tích cực hóa về cơ thể bắt nguồn từ những năm 1960 như một hình thức "hoạt động chống phân biệt đối xử với người béo phì". Mục tiêu của nó là phá vỡ mối liên hệ tồn tại giữa cân nặng và giá trị cá nhân, củng cố rằng mọi người đều xứng đáng có phẩm giá, sự tôn trọng và đối xử công bằng bất kể hình dạng và kích thước cơ thể. .

 

Phong trào yêu cơ thể tìm kiếm những thay đổi trong trường học, nơi làm việc và ngành quảng cáo. Nó cũng có tác dụng thay đổi kiểu suy nghĩ tiêu cực trong cộng đồng y tế, thách thức quan điểm cho rằng cân nặng của một người vốn gắn liền với sức khỏe của họ hoặc đó là dấu hiệu của việc vệ sinh kém hoặc không tuân thủ.

 

Ngoài ra, thực tế không thể mong đợi mọi người luôn yêu thích mọi thứ trên cơ thể của họ. Làm thế nào để bạn khắc phục những nhược điểm này để yêu cơ thể? Thay vào đó, bạn hướng tới việc chấp nhận cơ thể.

 

Phong Trào Chấp Nhận Cơ Thể

Phong trào chấp nhận cơ thể xuất hiện vào khoảng năm 2015, càng trở nên phổ biến hơn khi một chuyên gia tư vấn ăn uống trực quan được chứng nhận và chuyên gia về rối loạn ăn uống tên là Anne Poirier bắt đầu sử dụng cụm từ "chấp nhận cơ thể" để giúp bệnh nhân phát triển sự cân bằng lành mạnh giữa chế độ ăn uống và tập thể dục.

 

Ý nghĩ đằng sau cách tiếp cận này là chúng ta không chỉ là một cơ thể. Chúng ta là những con người phức tạp với nhiều chiều kích khác nhau. Thêm vào đó, một phần lớn các thuộc tính thể chất của chúng ta nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta vì chúng được xác định, phần lớn là do di truyền học.

 

Lợi Ích Của Phương Pháp Tiếp Cận Kép

Mặc dù phương pháp chấp nhận cơ thể được thiết kế để giúp vượt qua những thách thức của phương pháp yêu cơ thể, nhưng có những lợi ích của việc phát triển quan điểm về cơ thể dựa trên hai cách tiếp cận. Loại phương pháp tiếp cận kép này cho phép bạn tận hưởng những lợi ích của mỗi phương pháp.

 

Những Lợi Ích Này Bao Gồm:

Yêu cơ thể có thể giúp cải thiện tâm trạng đồng thời giảm những suy nghĩ tiêu cực. Nó cũng cho phép chúng ta hạnh phúc với cơ thể của mình bất kể xã hội nói gì về chúng hoặc bất chấp những thông điệp tiêu cực mà chúng ta có thể đã nhận được trong thời thơ ấu.

 

Chấp nhận cơ thể là một cách tiếp cận tốt khi bạn không cảm thấy tích cực hoặc quá khó để thực hiện. Nó loại bỏ áp lực phải yêu cơ thể của bạn khi bạn có thể không yêu, nó chỉ yêu cầu bạn chấp nhận nó như hiện tại và đánh giá cao nó vì những gì nó có thể làm cho bạn.

 

Chúng ta là những con người luôn thay đổi, có nghĩa là một số ngày chúng ta sẽ yêu cơ thể của mình trong khi những ngày khác, tình yêu bản thân có thể cảm thấy hơi quá đáng để yêu cầu.

Bằng cách kết hợp cả phương pháp yêu cơ thể và chấp nhận cơ thể vào cuộc sống của mình, chúng ta có thể chọn cách tiếp cận phù hợp nhất với suy nghĩ của mình vào bất kỳ thời gian nào.

 

Kết luận

Mặc dù yêu cơ thể của bạn mọi lúc có thể không thực tế, nhưng bạn vẫn có thể đánh giá cao nó vì tất cả những gì nó có thể làm. Hãy tập yêu bản thân khi bạn có thể và chấp nhận bản thân vào những ngày bạn cảm thấy yêu cơ thể của mình quá nhiều.

Cả hai đều có những mục đích có giá trị, cho phép bạn chọn cái mà bạn cảm thấy thích hợp nhất vào một thời điểm đó.

 

Kristen Fuller