Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Tâm Lý Học Giải Thích Về Sự Hình Thành Tính Cách Con Người

 

TÂM LÝ HỌC GIẢI THÍCH VỀ SỰ HÌNH THÀNH TÍNH CÁCH CON NGƯỜI

 

Tính cách con người không tự sinh ra mà hình thành dựa trên nhiều yếu tố trong sự phát triển xuyên suốt cả cuộc đời của mỗi người. Hiểu được cách mà tính cách chúng ta phát triển như thế nào có thể giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về nền tảng cũng như nắm bắt được những ưu và nhược điểm đằng sau mỗi đặc điểm tính cách con người. 

 

Sự phát triển tính cách (Personality Development) là một thuật ngữ đề cập đến quá trình mà các kiểu suy nghĩ và hành vi của con người được tổ chức tạo nên tính cách độc đáo của cá nhân, trong đó sự tổ chức này sẽ xuất hiện theo thời gian.

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính cách, bao gồm cả yếu tố di truyền và môi trường trong đó có cách chúng ta được nuôi dạy bởi cha mẹ và các biến số xã hội.

 

Điều quan trọng là những yếu tố ảnh hưởng này có sự tác động liên tục để hình thành tính cách con người. Theo đó, tính cách không chỉ liên quan đến những đặc điểm bẩm sinh mà còn gắn với sự phát triển của các khuôn mẫu suy nghĩ và hành vi – yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ và hành động.

 

Sự phát triển những tính cách của con người đã là một chủ đề khoa học về tâm lý đón nhận nhiều sự quan tâm của các nhà tâm lý học. Kể từ khi tâm lý học bắt đầu được ghi nhận là một ngành khoa học riêng biệt, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều ý tưởng khác nhau để giải thích về sự hình thành và phát triển tính cách.

 

Lý Thuyết Của Erikson: Các Giai Đoạn Phát Triển Tâm Lý Xã Hội

Lý thuyết tám giai đoạn phát triển tính cách của Erik Erikson cũng là một trong những lý thuyết nổi tiếng giúp giải thích sự phát triển tính cách của con người. Erikson đã chọn tập trung vào cách các mối quan hệ xã hội, ví dụ như các mối quan hệ trong gia đình, tác động đến sự phát triển tính cách.

Lý thuyết này cũng mở rộng ra ngoài thời thơ ấu để xem xét sự phát triển trong suốt cuộc đời của một cá nhân.

 

Tám giai đoạn theo lý thuyết của Erikson gồm: 

·       Giai đoạn 1: Tin tưởng – không tin tưởng (từ sơ sinh đến 1 tuổi)

·       Giai đoạn 2: Sự tự chủ – xấu hổ và nghi ngờ (1 đến 2 năm)

·       Giai đoạn 3: Trách nhiệm ​​- cảm giác tội lỗi (3 đến 5 năm)

·       Giai đoạn 4: Hiệu quả – kém hiệu quả (6 đến 11 tuổi)

·       Giai đoạn 5: Tính đồng nhất – bản sắc và vai trò (12 đến 18 tuổi)

·       Giai đoạn 6: Sự thân mật đối – sự cô lập (19 đến 40 tuổi)

·       Giai đoạn 7: Sự truyền thừa – sự trì trệ (41 đến 64 tuổi)

·       Giai đoạn 8: Sự thống nhất – sự tuyệt vọng (65 năm cho đến chết)

 

Ở mỗi giai đoạn trong tám giai đoạn trên, mọi người phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng trong đó phải thành thạo một nhiệm vụ. Những người hoàn thành xuất sắc giai đoạn đó xuất hiện với cảm giác làm chủ và hạnh phúc.

Những người không giải quyết được khủng hoảng ở một giai đoạn cụ thể có thể phải vật lộn với những kỹ năng đó trong suốt phần đời còn lại của họ.

 

Hiểu cách tính cách phát triển có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về con người cũng như về tính cách con người. Có nhiều lý thuyết khác nhau về sự hình thành tính cách, và mỗi lý thuyết lại góp phần vào những kiến thức về sự hình thành và phát triển tính cách ngày nay.

 

Nguồn: Verywellmind – The Psychology of Personality Formation

 

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2026

Hiệu ứng đóng khung trong tâm lý học (The Psychology of Framing)

 

HIỆU ỨNG ĐÓNG KHUNG TRONG TÂM LÝ HỌC (THE PSYCHOLOGY OF FRAMING)

 

Chúng ta có thể đã từng nghe đến câu nói ly nước “nửa đầy” hoặc “nửa vơi”. Vẫn cùng là một lượng nước như vậy trong cả hai ly nhưng phản ứng của bạn có thể khác nhau tùy thuộc vào cách mô tả. Hoặc đĩa thịt nguội cắt lát “90% không chất béo” với “10% chất béo”. Lượng thịt là như nhau nhưng bạn cảm thấy khác biệt vì cách sản phẩm được mô tả.

 

“Đóng khung” xuất hiện khi cùng một thông tin được trình bày, hay được “đóng khung” theo những cách khác nhau, thường tạo ra nhiều cảm xúc khác nhau ngay cả khi thông tin không có gì khác biệt. Nhưng con người ta có thể có nhiều ấn tượng khác nhau về cũng nhũng thông tin giống nhau.

 

Đóng khung là một thiên kiến nhận thức, hay một lỗi sai trong tư duy. Theo TS. Regina Lazarovich, nhà tâm lý học lâm sàng và sáng lập viên của Compass CBT, “Con người ta đưa ra hầu hết các lựa chọn…

 

Sẽ rất tốt nếu ta hiểu rõ được hiệu ứng đóng khung vì nó cho phép ta hiểu được các lựa chọn đưa ra bị thao túng như thế nào bởi các thông tin được trình bày, không chỉ bởi bản thân thông tin đó, Tiễn sỹ, nhà tâm lý học Dillon Harper chia sẻ. “Nhận thức này có thể khiến chúng ta cẩn trọng hơn và ít bị rơi vào những cú lừa khiến ta đưa ra những lựa chọn không thức sự phù hợp.”

 

Trong bài viết dưới đây, chúng ta sẽ cùng đào sâu thông tin cơ bản của hiệu ứng đóng khung trong tâm lý học.

Daniel Kahneman và Amos Tversky lần đầu tiên đề xuất hiệu ứng đóng khung trong một phần nội dung của Thuyết Triển Vọng năm 1979.

 

Thuyết Triển Vọng, theo lý giải của GinaMarie Guarino, một tư vấn viên sức khỏe tâm thần tạo PsychPoint, “phát biểu rằng con người ra đưa ra quyết định dựa trên mức độ nguy cơ so với lợi ích thu được.”

 

Điều này đánh vào khuynh hướng “thích được” và “né mất” tự nhiên của chúng ta, cản trở tư duy logic và khiến con người ta đưa ra quyết định dựa trên cảm nhận ta có hơn là thực tế. Cứ xem lại ví dụ ở trên về thịt nguội cắt lát 90% không chất béo với 10% có chất béo.

Lựa chọn của bạn có thể không logic mà lại bị tác động bởi phản ứng cảm xúc với lựa chọn từ ngữ của nhà tiếp thị.

 

Đóng khung tích cực và tác động của nó lên quá trình ra quyết định.

Đóng khung tích cực làm nổi bật lợi ích của bối cảnh. Nó khuyến khích ta tập trung vào mặt lạc quan và khiến ta sẵn lòng hành động, theo Harper chia sẻ. Ông nói, “Ví dụ, nói vaccine này hiệu quả 95% sẽ khiến mọi người muốn tiêm nó hơn.”

 

Đóng khung tiêu cực và tác động của nó lên quá trình ra quyết định.

Đóng khung tiêu cực, mặc khác, lại làm nổi bật những tình huống xấu và cái ta có thể đánh mất nếu ta không thực hiện một hành động nào đó. Dạng đóng khung này khiến con người ra sợ hậu quả của điều sẽ xảy ra nếu họ không đưa ra quyết định nào đó và có thể khiến mọi người sợ đánh liều hơn, theo Harper.

Ông nói, “Ví dụ, nếu bạn nhận được một tin nhắn nói “Nếu bạn không bôi kem chống nắng thì bạn sẽ dễ bị ung thư da”, mọi người sẽ sợ và rồi thực hiện hành động dự phòng này.

 

Đóng khung so sánh và ảnh hưởng của nó lên quá trình ra quyết định.

Đóng khung so sánh, theo Guarino, “tạo ra một so sánh thiên kiến về thông tin chủ quan.” Dạng đóng khung này có thể ảnh hưởng lên những chọn lựa của chúng ta bằng cách so sánh những thông tin khách quan theo hướng ta mong muốn hơn là những hướng khác.

 

Ví dụ, Gurino nói rằng, quảng cáo một con ngựa đua có thể chạy nhanh gấp đôi những con khác sẽ tạo ra một khung nhận thức thiên vị mà một số người thích tin theo mặc cho câu nói này nghe có vẻ không thể nào là khả thi.

 

Ví dụ trong đời sống hằng ngày.

Ví dụ về đóng khung trong đời sống là rất nhiều nhưng lại hay bị giấu giếm đi. Gurino trích dẫn những phiên bản khác nhau của cùng một câu chuyện giữa các đài tin tức khác nhau. Giả sử cả hai kênh tin tức, một kênh bảo thủ như Fox News, và một kênh tự do hơn như MSNBC, đều cùng đưa tin về một câu chuyện, về việc một phía của Quốc Hội đã giết chết một dự luật trước khi thông qua nó.

Trong trường hợp này, các câu chuyện được trình bày – và ai bị phỉ báng hay ủng hộ – đều có thể còn tùy vào mạng thông tin mà bạn đang theo dõi.

 

Một ví dụ thực tế khác, theo Harper, là cách bác sĩ trình bày kết quả phẫu thuật liên quan đến tỷ lệ sống sót hơn là tỷ lệ tử vong. Đóng khung tích cực như thế này khích lệ con người ta chọn phẫu thuật nhiều hơn so với đóng khung tiêu cực.

 

Những ví dụ này minh họa cách những người làm trong chính trị, tin tức, sức khỏe, tiếp thị, v.v… sử dụng hiệu ứng đóng khung để ảnh hưởng lên cách mọi người ra quyết định. Đóng khung có thể ảnh hưởng lên nhận thức của công chúng và định hình hành vi.

 

Ví dụ, “các nhà tiếp thị có thể đóng khung một sản phẩm là “mới và cải tiến” để thu hút người mua, ngay cả khi đó chỉ là những thay đổi nhỏ,” Harper giải thích. “Các chính trị gia sử dụng hiệu ứng đóng khung để ảnh hưởng đến các cử tri bằng cách trình bày các chính sách phù hợp với các giá trị của người nghe, như đóng khung kế hoạch thuế là “công bằng và bình đẳng” hoặc “hủy hoại công việc”, tùy thuộc vào phản ứng họ mong muốn thấy.

 

Ý nghĩa đạo đức của hiệu ứng đóng khung còn tùy thuộc vào liệu nó được sử dụng để thông báo hay thao túng. Khi được sử dụng để thông báo, “nó có thể mang lại lợi ích” theo Harper. Nhưng nếu được dùng để dẫn thông tin sai, nó sẽ làm dấy lên quan ngại về đạo đức liên quan đến tính công bằng và sự rõ ràng trong thông tin được trình bày.”

 

Guarino đồng tình và kết luận rằng “khi thông tin khách quan bị thao túng để trở nên hấp dẫn hơn, ngay cả khi nó che giấu những rủi ro không mong muốn hoặc trình bày thông tin theo hướng lừa dối người tiêu dùng,” thì khía cạnh đạo đức nên cân nhắc, như với các hình thức tiếp thị thao túng hoặc đưa tin hướng thiên vị.

 

Là người tiếp nhận thông tin, bạn cần luôn suy nghĩ về những gì người truyền tải thông điệp đang cố nói với bạn, đặc biệt là nếu họ đang giới thiệu thứ gì đó để bạn mua hoặc một bên nào đó để bạn chọn lựa.

 

Các chiến lược giảm thiểu ảnh hưởng của hiệu ứng đóng khung.

Các chiến lược giúp giảm thiểu ảnh hưởng của hiệu ứng đóng khung bao gồm tự giáo dục bản thân về cách vận hành của hiệu ứng này (chính là điều bạn đang làm – chúc mừng!). Theo Harper, bạn cũng nên “nhận thức cách mà thông tin được trình bày và cân nhắc những góc nhìn thay thế.

 

Việc hỏi bản thân cách mà cùng một thông tin có thể được đóng khung khác nhau có thể giúp bạn nhìn ra được thiên kiến.”

Bạn cũng có thể tự nghiên cứu tính hợp pháp của thông tin được đóng khung, theo Guarino. Harper cũng đồng ý, cho rằng việc dành thời gian tư duy phản biện về thông tin trước khi ra quyết định cũng là một cách để giảm bớt sức mạnh của hiệu ứng đóng khung.

 

Tổng kết. Đóng khung là một chiến thuật tâm lý xuất hiện ở quanh ta. Bạn có thể đã từng sử dụng chúng để trình bày những phát hiện của riêng bạn với bạn đời, con trẻ, cha mẹ, bạn bè hay đồng nghiệp của bạn.

 

Ví dụ, bạn có thể đã từng nói với con mình rằng trẻ con mà đi xe buýt đến trường có khả năng kết bạn cao gấp đôi. Mặc dù ví dụ này khá vô hại nhưng trường hợp những người cố thao túng suy nghĩ của bạn trong chính trị, tiếp thị hoặc những lĩnh vực khác đều cần được phải được cân nhắc.

 

Nguồn: Kahneman D. Thinking, Fast and Slow. Farrar, Straus and Giroux; 2013.