
3 KỲ TÀI ĐẤT VIỆT TỪNG KHIẾN CẢ TRUNG
HOA CHẤN ĐỘNG, HỌ LÀ AI?
Trung Hoa luôn nức danh với thế giới là mảnh đất của những kì tài trong
tất cả mọi lĩnh vực. Nhưng ít ai biết rằng có ba người Việt Nam đã từng làm
mảnh đất địa linh nhân kiệt ấy phải ngả mũ kính phục.
Tần Thủy Hoàng phải đúc tượng của Lý Ông Trọng
Sau khi thống nhất đất Trung Hoa, uy danh lừng lẫy, Tần Thủy Hoàng vẫn
phải canh cánh một mối nguy đến từ phương Bắc. Bất chấp sự kiên cố của Vạn Lý
Trường Thành, quân Hung Nô vẫn hung hăng quấy nhiễu vùng biên giới.
Thời bấy giờ, ở nước Tần, có một vị sứ giả có tướng mạo phi phàm, cao hơn
hai thước (một “thước” theo hệ thống đo lường Trung Hoa tương ứng với 3,3m).
Nhìn thấy tướng mạo khác thường cùng bản lĩnh của một tướng quân nơi vị sứ giả
ấy, vua Tần đã ngỏ ý mời ông đi trừ giặc Hung Nô.
Ông được phong làm Vạn Tín Hầu cử đến trấn ở vùng đất Lâm Thao (Tỉnh Cam
Túc ngày nay). Giặc Hung Nô khi tới nơi tận mắt chứng kiến uy danh của ông đã
không đánh mà tan, nháo nhào bỏ chạy.
Vị sứ giả bí ẩn ấy lại chính là một người dân Việt, ông tên thật là Lý
Thân, thường gọi là Lý Ông Trọng, người làng Chèm (nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà
Nội). Theo truyền thuyết trong dân gian, ông vốn tính tình cương trực, lại có
lòng thương dân, phò tá vua Hùng thứ 18 trấn áp biên thùy nên rất được trọng
dụng dưới triều vua An Dương Vương và trở thành sứ giả nước Tần.
Lý Ông Trọng xin được về thăm quê. Trong thời gian đó, giặc Hung Nô lại
quay lại quấy phá phía Bắc, vua Tần cử người sang vời ông về lại vùng biên
giới. Lý Ông Trọng không muốn một lần nữa phải rời bỏ quê hương, nên vua xứ Nam
đã phải dối rằng ông đã qua đời.
Không còn cách nào khác, vua Tần bèn cho đúc một bức tượng của Lý Ông
Trọng, tương truyền, trong bụng của tượng có thể chứa đến hàng chục người.
Giặc Hung Nô trông thấy bức tượng từ xa, ngỡ tưởng Lý Ông Trọng quay trở
lại nên sợ hãi tháo chạy về nước và không dám quay lại thêm lần nào nữa.
Vị tướng đất Nam trở thành ông tổ ѕúᥒɡ thần công Trung Quốc
Trung Quốc vốn là quốc gia đầu tiên chế tạo thành công thuốc ѕúᥒɡ, đưa phát minh này
ứng dụng vào quân sự nhằm nâng cao sức tân cống của các loại ʋũ kһί ᴄһiếᥒ đấᴜ.
Nhưng đến thời kì nhà Minh, Trung Hoa cũng như các nước phương Tây vẫn
đang loay hoay với các thiết kế về ѕúng đạn. Trong khi đó, ở Việt Nam, một kĩ
sư quân sự dưới thời nhà Hồ đã chế tạo thành công một loại ѕúng, sau đó sẽ trở
thành điều bất ngờ vô cùng lớn với quân đội nhà Minh: “Thần cơ sang pһáo”.
Sách sử của nhà Minh có ghi chép lại sự bất ngờ đến khâm phục của quân đội
nhà Minh khi vấp phải sức công phá của loại ʋũ kһί này: Trong cuộc bình Giao
Chỉ, nhà Minh đã bắt được ѕúᥒɡ thần, pháo thần của Giao Chỉ được coi là ʋũ kһί nhất
thiên hạ…
Súᥒɡ “thần công” có được gần đây dùng sắt làm tên, bắn đi bằng lửa, đi xa
ngoài 100 bước, nhanh chóng kỳ diệu như thần, nghe thấy tiếng là lửa đã đến.
Không chỉ có vậy, nhà Minh đã không ngần ngại vận chuyển ѕúᥒɡ Thần cơ này về nước
họ.
Vậy vị tướng ấy là ai? Và loại ʋũ kһί mà ông tạo tại sao lại có uy lực đến
như vậy?
Vị tướng tài giỏi được lịch sử nhà Minh ghi nhận phát minh ấy chính là Hồ
Nguyên Trừng, con trai cả của vua Hồ Quý Ly. Không màng ngôi báu, ông chỉ
nguyện được cống hiến cho quốc gia và trở thành một vị tướng trọng yếu của
triều đình.
Năm 1407, nước Đại Ngu mới hình thành đã đứng trước nguy cơ xâm lược rõ
ràng của nhà Minh, Hồ Nguyên Trừng đã gấp rút cho thành lập các tổ đúc ѕúng đạn,
chế ra các loại ѕúng trang bị cho quân đội, trong trường hợp cần nghênh chiến
với quân Minh.
Tài năng của Hồ Nguyên Trừng đã phát huy ngay từ khi ông là tướng trong
triều của vua Hồ Quý Ly. Không chỉ đúc ѕúng, ông còn là tác giả của chiến
thuyền cổ lâu, của thế trận độc đáo chống giặc Minh.
Nhà Minh sau khi đưa ba cha con Hồ Quý Ly về nước, đã tha tội cho Hồ
Nguyên Trừng và giao cho ông một chức quan trong triều đình. Điều mà nhà Minh
mong muốn chính là dùng tính mạng của cha và em trai ông để có được tài nghệ
đúc ѕúng thần cơ của ông. Khi ấy, để làm trọn đạo nghĩa với cha và em trai, Hồ
Nguyên Trừng đã chấp nhận làm quan dưới triều Minh và ông được sử sách nhà Minh
lưu lại dưới cái tên Lê Trừng.
Người Việt làm khiến cả thế giới thán phục khi xây
dựng Tử Cấm Thành
Khi nhắc đến kiến trúc cổ Trung Hoa, Tử Cấm Thành có lẽ là một trong những
công trình sẽ được nhắc đến đầu tiên và nhiều nhất. Cung điện được cho xây dựng
bởi vua Minh Thành Tổ – Hoàng đế thứ ba của Triều Minh.
Tử Cấm Thành luôn khiến người ta phải choáng ngợp trước sự đồ sộ, nguy
nga, tráng lệ của hệ thống 800 công trình bao gồm cung điện, lầu thành, ngự hoa
viên… trải rộng trên một diện tích lên đến 720.000m2.
Kiến trúc đặc trưng của cung điện cổ này là sự bố trí, sắp xếp, trang trí các
công trình dựa trên những nguyên lý rất đặc trưng của minh triết phương Đông:
Kính Trời, trọng Đạo, Thiên Nhân hợp nhất, Âm dương hòa hợp.
Tử Cấm Thành đối với thế giới giống như một bảo tàng lịch sử – văn hóa –
nghệ thuật có giá trị nghiên cứu vô cùng lớn.
Không ai có thể tưởng tượng rằng vị kiến trúc sư tài năng kiệt xuất đã
thiết kế nên Cố Cung – Tử Cấm Thành lại không phải là người Trung Hoa mà lại là
một người Việt Nam khiêm nhường, luôn tận tâm, tận sức vì công việc.
Người Việt ấy là Nguyễn An (1381-1453), sinh ra ở Hà Đông, nay thuộc ngoại
thành Hà Nội. Tài năng của Nguyễn An đã phát tiết khi ông còn rất trẻ. Năm 16
tuổi, Nguyễn An bắt đầu tham gia vào hiệp thợ xây dựng cung điện nhà Trần để
phát huy tài năng tính toán và biệt tài kiến trúc hiếm có của mình.
Nguyễn An đã bị nhà Minh bắt làm tù binh cùng với rất nhiều những nhân tài
khác của nước Việt. Trớ trêu hơn nữa, ông bị hoạn và trở thành thái giám phục
vụ trong Cung. Vua Minh lúc bấy giờ đang ấp ủ kế hoạch xây dựng lại cung điện
của triều đình tại kinh đô mới ở Bắc Bình (nay là Bắc Kinh).
Minh Thành Tổ nhìn thấy tài năng kiến trúc của Nguyễn An, lại thêm phần
mến phục đức độ liêm khiết, chính trực của ông, đã trao cho ông trọng trách làm
“Tổng đốc công” chỉ huy công trường xây dựng Tử Cấm Thành.
Trong rất nhiều các sách sử khác của Trung Hoa, nhất là của Triều Minh,
Nguyễn An vẫn được nhắc đến như một bậc kì nhân.
Tiếng thơm lưu muôn thuở
Không ai có thể phủ nhận rằng chính những tài năng thiên bẩm của ba nhân
vật ấy đã giúp tên tuổi của họ được lưu truyền đến ngày hôm nay. Nhưng nếu nhìn
nhận một cách toàn diện hơn, nhân cách của ba người con đất Việt ấy cũng chính
là điều khiến người đời sau cảm phục.
Nguyễn An cùng Hồ Nguyên Trừng đều làm quan cho Triều Minh, hưởng
bổng lộc, sống trong giàu sang nhung lụa nơi đất khách nhưng tấm lòng của hai
ông không bao giờ rời khỏi mảnh đất Việt thân thương, dù chỉ có một người có
thể trở về.
Người còn lại chỉ có thể mượn bút để viết nên nỗi lòng của mình với quê
cha đất tổ. Về cuối đời,
Hồ Nguyên Trừng đã lấy bút danh “Nam Ông” (Ông già đất Việt) để viết nên
hồi ký “Nam Ông mộng lục”. Rất nhiều người đã tin tưởng vào tấm lòng với đất
nước của ông sau khi đọc cuốn hồi kí ấy.
Nguyễn An đã vượt qua nỗi nhục của thân phận hoạn quan; Hồ Nguyên Trừng
không để nỗi đau mất nước hủy hoại; họ vẫn cố gắng sống, giữ trọn đức độ và tài
năng của mình. Họ chọn cống hiến để để lại những di sản mà ngày nay đã trở
thành niềm tự hào của người dân đất Việt.
Mặc dù sử sách Việt thời bấy giờ không ghi nhận công trạng của họ, có thể
còn có những nhận xét trái chiều về lựa chọn của họ, nhưng chắc hẳn những người
Việt của hiện tại sẽ đánh giá công tâm những gì mà những “vị quan Trung Hoa bất
đắc dĩ” ấy đã tận tâm kiến tạo.
Đăng Dũng