Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026

Hoàng Xuân Hãn một học giả uyên bác Việt Nam

 

HOÀNG XUÂN HÃN MỘT HỌC GIẢ UYÊN BÁC VIỆT NAM

 Trí tuệ và lòng yêu nước đã đưa giáo sư Hoàng Xuân Hãn từ phong trào cách mạng đến đỉnh cao học thuật, trở thành học giả uyên bác của Việt Nam thế kỷ 20.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908 trong gia đình có truyền thống Nho học ở xã Đức Nhân, huyện Đức Thọ, nay là xã Đức Quang.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại Vinh (Nghệ An), sau đó chuyển ra Hà Nội thi vào Trường Bưởi, một năm sau chuyển sang học chuyên Toán ở Trường Trung học Albert Sarraut. Năm 1929, sau khi đỗ tú tài toàn phần và sang Pháp du học, ông lần lượt thi đỗ vào nhiều trường danh tiếng như: Sư phạm, Bách khoa, Sorbonne.

Năm 1936, ở tuổi 28, ông trở về nước với hai bằng kỹ sư cầu đường và thạc sĩ Toán.

Ông chọn dạy học ở Trường Bưởi để "được làm người Việt Nam, đào tạo thanh niên Việt Nam".

Ngoài giảng dạy ở Trường Bưởi, giáo sư Hoàng Xuân Hãn còn được mời giảng môn Toán ở các Trường Đại học Công chính, Canh nông và Đại học Hà Nội.

Năm 1942, ông cùng với một số bạn bè như GS Nguyễn Xiển, Tạ Quang Bửu sáng lập báo Khoa học, tờ báo khoa học có trình độ tương đối cao. Giáo sư Hãn là biên tập viên kiêm tác giả, thường giải các bài toán vui liên quan đến đời sống thực tiễn, thiên văn, địa lý, lịch sử, văn hóa của phương Đông và Việt Nam.

Trong những bài báo xuất bản trên Tạp chí Khoa học Sài Gòn (ông giữ mục Toán học của tạp chí này) ông đã kết hợp truyền thống dân gian và tính chặt chẽ tuyệt đối của toán học, những bài báo đó là những hình mẫu về sư phạm. Như vậy, qua thực hành, ông đã làm rạng rỡ những phương tiện tiếng Việt sử dụng trong lĩnh vực khoa học, vì thế mà mở một con đường cho sự "Việt Nam hóa" giáo dục

Năm 1942, ông cùng với một số bạn bè như GS Nguyễn Xiển, Tạ Quang Bửu sáng lập báo Khoa học, tờ báo khoa học có trình độ tương đối cao. Giáo sư Hãn là biên tập viên kiêm tác giả, thường giải các bài toán vui liên quan đến đời sống thực tiễn, thiên văn, địa lý, lịch sử, văn hóa của phương Đông và Việt Nam.

Cũng trong năm 1943, khi Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ thành lập, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đảm nhiệm chức Trưởng ban Tu thư và cùng một số người công bố cuốn sách Phương pháp học i tờ, đổi mới cách học chữ Quốc ngữ, một phương pháp sử dụng cùng lúc cả ngữ âm hiện đại và truyền thống truyền miệng của đất nước không theo lối đánh vần a, b, c như trước, giúp người học nắm được chữ nhanh chóng.

Khi phong trào "Diệt giặc dốt" do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và được hưởng ứng trong cả nước, phương pháp học chữ Quốc ngữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn trở thành chủ đạo, giúp hàng triệu người có thể thoát nạn mù chữ chỉ trong ba đến sáu tháng.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

3 kỳ tài đất Việt từng khiến cả Trung Hoa chấn động, họ là ai?

 

3 KỲ TÀI ĐẤT VIỆT TỪNG KHIẾN CẢ TRUNG HOA CHẤN ĐỘNG, HỌ LÀ AI?

 

Trung Hoa luôn nức danh với thế giới là mảnh đất của những kì tài trong tất cả mọi lĩnh vực. Nhưng ít ai biết rằng có ba người Việt Nam đã từng làm mảnh đất địa linh nhân kiệt ấy phải ngả mũ kính phục. 

 

Tần Thủy Hoàng phải đúc tượng của Lý Ông Trọng

Sau khi thống nhất đất Trung Hoa, uy danh lừng lẫy, Tần Thủy Hoàng vẫn phải canh cánh một mối nguy đến từ phương Bắc. Bất chấp sự kiên cố của Vạn Lý Trường Thành, quân Hung Nô vẫn hung hăng quấy nhiễu vùng biên giới.

Thời bấy giờ, ở nước Tần, có một vị sứ giả có tướng mạo phi phàm, cao hơn hai thước (một “thước” theo hệ thống đo lường Trung Hoa tương ứng với 3,3m). Nhìn thấy tướng mạo khác thường cùng bản lĩnh của một tướng quân nơi vị sứ giả ấy, vua Tần đã ngỏ ý mời ông đi trừ giặc Hung Nô.

 

Ông được phong làm Vạn Tín Hầu cử đến trấn ở vùng đất Lâm Thao (Tỉnh Cam Túc ngày nay). Giặc Hung Nô khi tới nơi tận mắt chứng kiến uy danh của ông đã không đánh mà tan, nháo nhào bỏ chạy.

Vị sứ giả bí ẩn ấy lại chính là một người dân Việt, ông tên thật là Lý Thân, thường gọi là Lý Ông Trọng, người làng Chèm (nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội). Theo truyền thuyết trong dân gian, ông vốn tính tình cương trực, lại có lòng thương dân, phò tá vua Hùng thứ 18 trấn áp biên thùy nên rất được trọng dụng dưới triều vua An Dương Vương và trở thành sứ giả nước Tần.

 

Lý Ông Trọng xin được về thăm quê. Trong thời gian đó, giặc Hung Nô lại quay lại quấy phá phía Bắc, vua Tần cử người sang vời ông về lại vùng biên giới. Lý Ông Trọng không muốn một lần nữa phải rời bỏ quê hương, nên vua xứ Nam đã phải dối rằng ông đã qua đời.

Không còn cách nào khác, vua Tần bèn cho đúc một bức tượng của Lý Ông Trọng, tương truyền, trong bụng của tượng có thể chứa đến hàng chục người.

Giặc Hung Nô trông thấy bức tượng từ xa, ngỡ tưởng Lý Ông Trọng quay trở lại nên sợ hãi tháo chạy về nước và không dám quay lại thêm lần nào nữa.

 

Vị tướng đất Nam trở thành ông tổ ѕúɡ thần công Trung Quốc

Trung Quốc vốn là quốc gia đầu tiên chế tạo thành công thuốc ѕúɡ, đưa phát minh này ứng dụng vào quân sự nhằm nâng cao sức tân cống của các loại ʋũ kһί ᴄһiế đấᴜ.

Nhưng đến thời kì nhà Minh, Trung Hoa cũng như các nước phương Tây vẫn đang loay hoay với các thiết kế về ѕúng đạn. Trong khi đó, ở Việt Nam, một kĩ sư quân sự dưới thời nhà Hồ đã chế tạo thành công một loại ѕúng, sau đó sẽ trở thành điều bất ngờ vô cùng lớn với quân đội nhà Minh: “Thần cơ sang pһáo”.

 

Sách sử của nhà Minh có ghi chép lại sự bất ngờ đến khâm phục của quân đội nhà Minh khi vấp phải sức công phá của loại ʋũ kһί này: Trong cuộc bình Giao Chỉ, nhà Minh đã bắt được ѕúɡ thần, pháo thần của Giao Chỉ được coi là ʋũ kһί nhất thiên hạ…

ɡ “thần công” có được gần đây dùng sắt làm tên, bắn đi bằng lửa, đi xa ngoài 100 bước, nhanh chóng kỳ diệu như thần, nghe thấy tiếng là lửa đã đến. Không chỉ có vậy, nhà Minh đã không ngần ngại vận chuyển ѕúɡ Thần cơ này về nước họ.

Vậy vị tướng ấy là ai? Và loại ʋũ kһί mà ông tạo tại sao lại có uy lực đến như vậy?

 

Vị tướng tài giỏi được lịch sử nhà Minh ghi nhận phát minh ấy chính là Hồ Nguyên Trừng, con trai cả của vua Hồ Quý Ly. Không màng ngôi báu, ông chỉ nguyện được cống hiến cho quốc gia và trở thành một vị tướng trọng yếu của triều đình.

Năm 1407, nước Đại Ngu mới hình thành đã đứng trước nguy cơ xâm lược rõ ràng của nhà Minh, Hồ Nguyên Trừng đã gấp rút cho thành lập các tổ đúc ѕúng đạn, chế ra các loại ѕúng trang bị cho quân đội, trong trường hợp cần nghênh chiến với quân Minh.

 

Tài năng của Hồ Nguyên Trừng đã phát huy ngay từ khi ông là tướng trong triều của vua Hồ Quý Ly. Không chỉ đúc ѕúng, ông còn là tác giả của chiến thuyền cổ lâu, của thế trận độc đáo chống giặc Minh.

Nhà Minh sau khi đưa ba cha con Hồ Quý Ly về nước, đã tha tội cho Hồ Nguyên Trừng và giao cho ông một chức quan trong triều đình. Điều mà nhà Minh mong muốn chính là dùng tính mạng của cha và em trai ông để có được tài nghệ đúc ѕúng thần cơ của ông. Khi ấy, để làm trọn đạo nghĩa với cha và em trai, Hồ Nguyên Trừng đã chấp nhận làm quan dưới triều Minh và ông được sử sách nhà Minh lưu lại dưới cái tên Lê Trừng.

 

Người Việt làm khiến cả thế giới thán phục khi xây dựng Tử Cấm Thành

Khi nhắc đến kiến trúc cổ Trung Hoa, Tử Cấm Thành có lẽ là một trong những công trình sẽ được nhắc đến đầu tiên và nhiều nhất. Cung điện được cho xây dựng bởi vua Minh Thành Tổ – Hoàng đế thứ ba của Triều Minh.

Tử Cấm Thành luôn khiến người ta phải choáng ngợp trước sự đồ sộ, nguy nga, tráng lệ của hệ thống 800 công trình bao gồm cung điện, lầu thành, ngự hoa viên… trải rộng trên một diện tích lên đến 720.000m2.

 

Kiến trúc đặc trưng của cung điện cổ này là sự bố trí, sắp xếp, trang trí các công trình dựa trên những nguyên lý rất đặc trưng của minh triết phương Đông: Kính Trời, trọng Đạo, Thiên Nhân hợp nhất, Âm dương hòa hợp.

Tử Cấm Thành đối với thế giới giống như một bảo tàng lịch sử – văn hóa – nghệ thuật có giá trị nghiên cứu vô cùng lớn.

Không ai có thể tưởng tượng rằng vị kiến trúc sư tài năng kiệt xuất đã thiết kế nên Cố Cung – Tử Cấm Thành lại không phải là người Trung Hoa mà lại là một người Việt Nam khiêm nhường, luôn tận tâm, tận sức vì công việc.

 

Người Việt ấy là Nguyễn An (1381-1453), sinh ra ở Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Tài năng của Nguyễn An đã phát tiết khi ông còn rất trẻ. Năm 16 tuổi, Nguyễn An bắt đầu tham gia vào hiệp thợ xây dựng cung điện nhà Trần để phát huy tài năng tính toán và biệt tài kiến trúc hiếm có của mình.

 

Nguyễn An đã bị nhà Minh bắt làm tù binh cùng với rất nhiều những nhân tài khác của nước Việt. Trớ trêu hơn nữa, ông bị hoạn và trở thành thái giám phục vụ trong Cung. Vua Minh lúc bấy giờ đang ấp ủ kế hoạch xây dựng lại cung điện của triều đình tại kinh đô mới ở Bắc Bình (nay là Bắc Kinh).

 

Minh Thành Tổ nhìn thấy tài năng kiến trúc của Nguyễn An, lại thêm phần mến phục đức độ liêm khiết, chính trực của ông, đã trao cho ông trọng trách làm “Tổng đốc công” chỉ huy công trường xây dựng Tử Cấm Thành.

Trong rất nhiều các sách sử khác của Trung Hoa, nhất là của Triều Minh, Nguyễn An vẫn được nhắc đến như một bậc kì nhân.

 

Tiếng thơm lưu muôn thuở

Không ai có thể phủ nhận rằng chính những tài năng thiên bẩm của ba nhân vật ấy đã giúp tên tuổi của họ được lưu truyền đến ngày hôm nay. Nhưng nếu nhìn nhận một cách toàn diện hơn, nhân cách của ba người con đất Việt ấy cũng chính là điều khiến người đời sau cảm phục.

 

Nguyễn An cùng Hồ Nguyên Trừng đều làm quan cho Triều Minh, hưởng bổng lộc, sống trong giàu sang nhung lụa nơi đất khách nhưng tấm lòng của hai ông không bao giờ rời khỏi mảnh đất Việt thân thương, dù chỉ có một người có thể trở về.

Người còn lại chỉ có thể mượn bút để viết nên nỗi lòng của mình với quê cha đất tổ. Về cuối đời,

 

Hồ Nguyên Trừng đã lấy bút danh “Nam Ông” (Ông già đất Việt) để viết nên hồi ký “Nam Ông mộng lục”. Rất nhiều người đã tin tưởng vào tấm lòng với đất nước của ông sau khi đọc cuốn hồi kí ấy.

Nguyễn An đã vượt qua nỗi nhục của thân phận hoạn quan; Hồ Nguyên Trừng không để nỗi đau mất nước hủy hoại; họ vẫn cố gắng sống, giữ trọn đức độ và tài năng của mình. Họ chọn cống hiến để để lại những di sản mà ngày nay đã trở thành niềm tự hào của người dân đất Việt.

 

Mặc dù sử sách Việt thời bấy giờ không ghi nhận công trạng của họ, có thể còn có những nhận xét trái chiều về lựa chọn của họ, nhưng chắc hẳn những người Việt của hiện tại sẽ đánh giá công tâm những gì mà những “vị quan Trung Hoa bất đắc dĩ” ấy đã tận tâm kiến tạo.

 

Đăng Dũng

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

Đoàn thân nhân nhà chí sĩ yêu nước Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm về thăm quê hương Việt Nam

 

ĐOÀN THÂN NHÂN NHÀ CHÍ SĨ YÊU NƯỚC KỲ ĐỒNG NGUYỄN VĂN CẨM VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM

 

Từ ngày 20-26/02, gia đình cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm gồm 14 người từ đảo Tahiti (Polynesia thuộc Cộng hòa Pháp) thực hiện chuyến trở về thăm quê hương Việt Nam.

Nhân dịp trở về Việt Nam lần này, gia đình cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm bày tỏ mong muốn đưa di cốt cụ trở về, an táng tại quê hương theo di nguyện khi còn sống của Cụ.

Cụ Kỳ Đồng (1875- 1929) là một chí sĩ yêu nước, sống lưu vong ở Polynésia trong 30 năm. Ông là người có đóng góp to lớn trong phong trào yêu nước giải phóng dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn Hoàng Hoa Thám lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1884- 1913).

 

Ngày 21/02 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về NVNONN Lê Thị Thu Hằng tiếp đoàn gia đình cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm do ông do ông Van Cam Charles (77 tuổi - cháu nội cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm) làm trưởng đoàn. Đón tiếp gia đình gồm các thành viên 4 thế hệ là con cháu của cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm về thăm Việt Nam, tìm hiểu về cội nguồn, Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng bày tỏ niềm xúc động và trân trọng đối với những cống hiến của cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm cho phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam.

 

Dịp này, đoàn 4 thế hệ gia đình cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm đã về Yên Thế, Bắc Giang thăm, dâng hương tại Khu di tích Kỳ Đồng và gặp gỡ bà con nơi đây – địa danh gắn liền với những năm tháng Cụ hoạt động ủng hộ phong trào Khởi nghĩa Yên Thế.

Sau đó, Đoàn cũng về thăm quê hương Thái Bình - nơi cụ Kỳ Đồng cất tiếng khóc chào đời. Tham gia cùng Đoàn có đại diện của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao.

 

*Các thế hệ con cháu cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm đang sinh sống tại đảo Tahiti thuộc Polynésie, Công hòa Pháp. Các thế hệ con cháu trong gia đình Cụ hiện nay đều mang chữ “Van Cam” trong họ tên. Trong suốt 20 năm, sau lần trở về thăm quê hương lần thứ 1 (năm 2004), con cháu gia đình cjụ Kỳ Đồng luôn nỗ lực tìm hiểu về quê hương, cội nguồn Việt Nam.

 

Thân thế và sự nghiệp của cụ Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm

Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm là nhân vật lịch sử có đóng góp to lớn trong phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt trong giai đoạn Hoàng Hoa Thám lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế.

Ông tên thật là Nguyễn Văn Cẩm, sinh ngày 8/10/1875 tại làng Ngọc Đình, tổng Hà Lý, huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, nay là xã Văn Cẩm - Hưng Hà - Thái Bình, trong gia đình có cha là thầy đồ dạy học và đan rổ rá, đóng cối xay.

 

Năm 6 tuổi, Nguyễn Văn Cẩm đã được học chữ Nho. Năm 8 tuổi, với tư chất thông minh, khả năng sáng tác thơ phú và làm câu đối ứng khẩu, Nguyễn Văn Cẩm nổi tiếng khắp vùng, được cha dẫn lên tỉnh dự kỳ khảo khóa để năm sau thi hương ở trường Nam Định và đã đạt loại ưu.

 

Theo lời đồn trong dân gian, năm 9 tuổi, Kỳ Đồng đã soạn bài hịch kêu gọi nhân dân chống Pháp, năm 11 tuổi sáng tác bài thơ Xích Bích phân tích thế mạnh của dân tộc. Ảnh hưởng của Kỳ Đồng đến dân chúng ngày một lớn, một rộng để rồi đỉnh điểm là sự kiện rước cờ vào thành Nam Định ngày 27/3/1887.

 

Hôm ấy, một đám rước quy tụ khoảng 100 người với khăn áo chỉnh tề, giương lá cờ “Thiên binh thần tướng” đem theo kiếm gỗ, giáo gỗ rước Kỳ Đồng từ chùa Vị Xuyên, nơi Kỳ Đồng nghỉ qua đêm đi qua các phố rồi tiến về thành Nam Định.

Sau cuộc diễu hành ấy, Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm bị người Pháp bắt và lưu đày sang Phi châu xa xôi để tách rời cậu bé với phong trào yêu nước Việt Nam, đồng thời những mong đào tạo Kỳ Đồng phục vụ cho nước Pháp.

Ở Algeria, Kỳ Đồng học tại trường trung học Louis Legrand trong 9 năm, từ tháng 10 năm 1887 đến tháng 9 năm 1896 tốt nghiệp tú tài khoa học và văn chương. có lẽ ông là người Việt Nam đầu tiên đỗ tú tài Pháp.

Năm 1896, Pháp đưa ông về nước làm công chức cho chính quyền bảo hộ, nhưng ông vẫn nuôi chí chống Pháp.

 

Ông xin đi khai hoang ở Yên Thế (Bắc Giang), lập ra một khu đồn điền lớn thuộc xã Đồng Kỳ và Hồng Kỳ ngày nay, lấy tên là “Thất diệu đồn điền”. Tại đây, Nguyễn Văn Cẩm đã sáng tác nhiều thơ, văn để huấn truyền, cổ vũ lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, ý chí triệt để chống Pháp giành độc lập dân tộc đến các nghĩa sĩ và những người đồng chí.

 

Trong thời gian xây dựng đồn điền, Kỳ Đồng bắt liên lạc với Hoàng Hoa Thám - thủ lĩnh phong trào Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế, giúp Hoàng Hoa Thám và nghĩa quân về người, tiền của và cả tinh thần. Nhưng vì Thiên Thai nằm gần trung tâm Phồn Xương, một vị trí nhạy cảm nên thực dân đã theo dõi rất sát sao hoạt động của Kỳ Đồng.

 

Chỉ sau hơn một năm Kỳ Đồng lại bị thực dân Pháp bắt và đi đày biệt xứ ở đảo Tahiti thuộc Polynésie (thuộc địa của Pháp ở Thái Bình Dương).

Ông lấy vợ người bản địa và sinh sống tại quần đảo này trong hơn 30 năm. Ông qua đời vào ngày 17/7/1929.

 

Khi còn sống nhà chí sĩ yêu nước Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm vẫn mang trong lòng niềm ái quốc, đau đáu muốn trở về quê hương Việt Nam.

Tại Bắc Giang, sau khi Kỳ Đồng mất, đệ tử cùng nhân dân địa phương đã xây dựng ngôi đền thờ ông ở động Thiên Thai, nơi từng làm trại trung tâm trong thời gian ông lập cứ tại đây.