Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Nhân vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Người Anh hùng truyền cảm hứng cho giới trẻ

 

NGƯỜI ANH HÙNG TRUYỀN CẢM HỨNG CHO GIỚI TRẺ

Nguyên Bí thư T.Ư Đoàn, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Trịnh Tố Tâm trở thành người truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, bởi những chiến công hiển hách. Ông là người được tặng nhiều Huân, Huy chương và 53 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ.

 

Người anh hùng đặc biệt

Anh hùng Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945, tại thôn Mỹ Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông cũ (nay là TP Hà Nội), nơi giàu truyền thống cách mạng. Ứng Hòa cũng là quê hương của chiếc gậy Trường Sơn đi vào huyền thoại, góp phần cùng quân dân cả nước viết nên trang sử hào hùng trong kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê giàu truyền thống cách mạng, năm 1965, khi quân đội Mỹ ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam, lúc này Trịnh Tố Tâm đang là học sinh đã tình nguyện tham gia phong trào “Ba sẵn sàng” (một phong trào thi đua yêu nước của Đoàn Thanh niên trong thời kỳ chống Mỹ: Sẵn sàng chiến đấu; Sẵn sàng nhập ngũ; Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần đến). Sau đó chàng trai trẻ Trịnh Tố Tâm viết đơn xin gia nhập quân ngũ, tình nguyện vào chiến đấu tại chiến trường miền Nam, và được điều động vào chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên.

 

Từ năm 1967 đến năm 1970, ông tham gia chiến đấu ở chiến trường Trị Thiên, chỉ huy đơn vị đánh 58 trận, diệt 1.500 tên địch, phá hủy 61 xe quân sự, đánh bật 19 đoàn tầu hỏa... Riêng ông đã tiêu diệt được 272 tên địch, bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng.

 

Với những chiến công hiển hách trên, ngày 20/9/1971, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND khi mới 26 tuổi. Ông là Anh hùng đặc biệt, bởi là người có nhiều Huân, Huy chương nhất trong toàn quân. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất; 13 Huân chương chiến công hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương giải phóng hạng Nhất; 53 lần được phong tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ.

 

Truyền cảm hứng về lòng yêu nước

Chiến tranh kết thúc, đất nước được hoàn toàn giải phóng, Anh hùng Trịnh Tố Tâm đảm nhiệm nhiều chức vụ công tác quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Bí thư T.Ư Đoàn, Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

 

Trong vai trò Bí thư T.Ư Đoàn, Anh hùng Trịnh Tố Tâm trở thành người truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ về sự năng động, nhiệt huyết, tận tụy trong công việc, đặc biệt là lòng yêu nước. Anh hùng Trịnh Tố Tâm mất vì bệnh hiểm nghèo năm 51 tuổi.

 

Sáng 4/9, bức tượng Anh hùng Trịnh Tố Tâm được hoàn thiện đặt tại sân trường THPT Ứng Hòa B (Hà Nội). Tham gia dự lễ khánh thành có Thứ trưởng Bộ LĐ,TB&XH Nguyễn Thị Hà cùng các vị anh hùng: Phạm Tuân, Lê Mã Lương; nhà thơ Trần Đăng Khoa và gia đình Anh hùng Trịnh Tố Tâm. 

 

Nhà điêu khắc Nguyễn Phú Cường chia sẻ: “Khi tạc tượng Anh hùng Trịnh Tố Tâm, tôi chọn hình tượng lúc anh còn trẻ, với nụ cười tươi rạng rỡ, ánh mắt thông minh, và không thể thiếu những tấm Huân, Huy chương trên ngực. Với hình tượng đó, tôi muốn các cháu học sinh, thế hệ trẻ đến đây, khi nhìn hình tượng này sẽ được truyền cảm hứng về sự nỗ lực vươn lên, tinh thần kiên cường, bất khuất và lòng yêu nước nồng nàn”.

 

Lưu Trinh

 

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2026

Hoàng Xuân Hãn một học giả uyên bác Việt Nam

 

HOÀNG XUÂN HÃN MỘT HỌC GIẢ UYÊN BÁC VIỆT NAM

 Trí tuệ và lòng yêu nước đã đưa giáo sư Hoàng Xuân Hãn từ phong trào cách mạng đến đỉnh cao học thuật, trở thành học giả uyên bác của Việt Nam thế kỷ 20.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908 trong gia đình có truyền thống Nho học ở xã Đức Nhân, huyện Đức Thọ, nay là xã Đức Quang.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại Vinh (Nghệ An), sau đó chuyển ra Hà Nội thi vào Trường Bưởi, một năm sau chuyển sang học chuyên Toán ở Trường Trung học Albert Sarraut. Năm 1929, sau khi đỗ tú tài toàn phần và sang Pháp du học, ông lần lượt thi đỗ vào nhiều trường danh tiếng như: Sư phạm, Bách khoa, Sorbonne.

Năm 1936, ở tuổi 28, ông trở về nước với hai bằng kỹ sư cầu đường và thạc sĩ Toán.

Ông chọn dạy học ở Trường Bưởi để "được làm người Việt Nam, đào tạo thanh niên Việt Nam".

Ngoài giảng dạy ở Trường Bưởi, giáo sư Hoàng Xuân Hãn còn được mời giảng môn Toán ở các Trường Đại học Công chính, Canh nông và Đại học Hà Nội.

Năm 1942, ông cùng với một số bạn bè như GS Nguyễn Xiển, Tạ Quang Bửu sáng lập báo Khoa học, tờ báo khoa học có trình độ tương đối cao. Giáo sư Hãn là biên tập viên kiêm tác giả, thường giải các bài toán vui liên quan đến đời sống thực tiễn, thiên văn, địa lý, lịch sử, văn hóa của phương Đông và Việt Nam.

Trong những bài báo xuất bản trên Tạp chí Khoa học Sài Gòn (ông giữ mục Toán học của tạp chí này) ông đã kết hợp truyền thống dân gian và tính chặt chẽ tuyệt đối của toán học, những bài báo đó là những hình mẫu về sư phạm. Như vậy, qua thực hành, ông đã làm rạng rỡ những phương tiện tiếng Việt sử dụng trong lĩnh vực khoa học, vì thế mà mở một con đường cho sự "Việt Nam hóa" giáo dục

Năm 1942, ông cùng với một số bạn bè như GS Nguyễn Xiển, Tạ Quang Bửu sáng lập báo Khoa học, tờ báo khoa học có trình độ tương đối cao. Giáo sư Hãn là biên tập viên kiêm tác giả, thường giải các bài toán vui liên quan đến đời sống thực tiễn, thiên văn, địa lý, lịch sử, văn hóa của phương Đông và Việt Nam.

Cũng trong năm 1943, khi Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ thành lập, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đảm nhiệm chức Trưởng ban Tu thư và cùng một số người công bố cuốn sách Phương pháp học i tờ, đổi mới cách học chữ Quốc ngữ, một phương pháp sử dụng cùng lúc cả ngữ âm hiện đại và truyền thống truyền miệng của đất nước không theo lối đánh vần a, b, c như trước, giúp người học nắm được chữ nhanh chóng.

Khi phong trào "Diệt giặc dốt" do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động và được hưởng ứng trong cả nước, phương pháp học chữ Quốc ngữ của giáo sư Hoàng Xuân Hãn trở thành chủ đạo, giúp hàng triệu người có thể thoát nạn mù chữ chỉ trong ba đến sáu tháng.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

3 kỳ tài đất Việt từng khiến cả Trung Hoa chấn động, họ là ai?

 

3 KỲ TÀI ĐẤT VIỆT TỪNG KHIẾN CẢ TRUNG HOA CHẤN ĐỘNG, HỌ LÀ AI?

 

Trung Hoa luôn nức danh với thế giới là mảnh đất của những kì tài trong tất cả mọi lĩnh vực. Nhưng ít ai biết rằng có ba người Việt Nam đã từng làm mảnh đất địa linh nhân kiệt ấy phải ngả mũ kính phục. 

 

Tần Thủy Hoàng phải đúc tượng của Lý Ông Trọng

Sau khi thống nhất đất Trung Hoa, uy danh lừng lẫy, Tần Thủy Hoàng vẫn phải canh cánh một mối nguy đến từ phương Bắc. Bất chấp sự kiên cố của Vạn Lý Trường Thành, quân Hung Nô vẫn hung hăng quấy nhiễu vùng biên giới.

Thời bấy giờ, ở nước Tần, có một vị sứ giả có tướng mạo phi phàm, cao hơn hai thước (một “thước” theo hệ thống đo lường Trung Hoa tương ứng với 3,3m). Nhìn thấy tướng mạo khác thường cùng bản lĩnh của một tướng quân nơi vị sứ giả ấy, vua Tần đã ngỏ ý mời ông đi trừ giặc Hung Nô.

 

Ông được phong làm Vạn Tín Hầu cử đến trấn ở vùng đất Lâm Thao (Tỉnh Cam Túc ngày nay). Giặc Hung Nô khi tới nơi tận mắt chứng kiến uy danh của ông đã không đánh mà tan, nháo nhào bỏ chạy.

Vị sứ giả bí ẩn ấy lại chính là một người dân Việt, ông tên thật là Lý Thân, thường gọi là Lý Ông Trọng, người làng Chèm (nay thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội). Theo truyền thuyết trong dân gian, ông vốn tính tình cương trực, lại có lòng thương dân, phò tá vua Hùng thứ 18 trấn áp biên thùy nên rất được trọng dụng dưới triều vua An Dương Vương và trở thành sứ giả nước Tần.

 

Lý Ông Trọng xin được về thăm quê. Trong thời gian đó, giặc Hung Nô lại quay lại quấy phá phía Bắc, vua Tần cử người sang vời ông về lại vùng biên giới. Lý Ông Trọng không muốn một lần nữa phải rời bỏ quê hương, nên vua xứ Nam đã phải dối rằng ông đã qua đời.

Không còn cách nào khác, vua Tần bèn cho đúc một bức tượng của Lý Ông Trọng, tương truyền, trong bụng của tượng có thể chứa đến hàng chục người.

Giặc Hung Nô trông thấy bức tượng từ xa, ngỡ tưởng Lý Ông Trọng quay trở lại nên sợ hãi tháo chạy về nước và không dám quay lại thêm lần nào nữa.

 

Vị tướng đất Nam trở thành ông tổ ѕúɡ thần công Trung Quốc

Trung Quốc vốn là quốc gia đầu tiên chế tạo thành công thuốc ѕúɡ, đưa phát minh này ứng dụng vào quân sự nhằm nâng cao sức tân cống của các loại ʋũ kһί ᴄһiế đấᴜ.

Nhưng đến thời kì nhà Minh, Trung Hoa cũng như các nước phương Tây vẫn đang loay hoay với các thiết kế về ѕúng đạn. Trong khi đó, ở Việt Nam, một kĩ sư quân sự dưới thời nhà Hồ đã chế tạo thành công một loại ѕúng, sau đó sẽ trở thành điều bất ngờ vô cùng lớn với quân đội nhà Minh: “Thần cơ sang pһáo”.

 

Sách sử của nhà Minh có ghi chép lại sự bất ngờ đến khâm phục của quân đội nhà Minh khi vấp phải sức công phá của loại ʋũ kһί này: Trong cuộc bình Giao Chỉ, nhà Minh đã bắt được ѕúɡ thần, pháo thần của Giao Chỉ được coi là ʋũ kһί nhất thiên hạ…

ɡ “thần công” có được gần đây dùng sắt làm tên, bắn đi bằng lửa, đi xa ngoài 100 bước, nhanh chóng kỳ diệu như thần, nghe thấy tiếng là lửa đã đến. Không chỉ có vậy, nhà Minh đã không ngần ngại vận chuyển ѕúɡ Thần cơ này về nước họ.

Vậy vị tướng ấy là ai? Và loại ʋũ kһί mà ông tạo tại sao lại có uy lực đến như vậy?

 

Vị tướng tài giỏi được lịch sử nhà Minh ghi nhận phát minh ấy chính là Hồ Nguyên Trừng, con trai cả của vua Hồ Quý Ly. Không màng ngôi báu, ông chỉ nguyện được cống hiến cho quốc gia và trở thành một vị tướng trọng yếu của triều đình.

Năm 1407, nước Đại Ngu mới hình thành đã đứng trước nguy cơ xâm lược rõ ràng của nhà Minh, Hồ Nguyên Trừng đã gấp rút cho thành lập các tổ đúc ѕúng đạn, chế ra các loại ѕúng trang bị cho quân đội, trong trường hợp cần nghênh chiến với quân Minh.

 

Tài năng của Hồ Nguyên Trừng đã phát huy ngay từ khi ông là tướng trong triều của vua Hồ Quý Ly. Không chỉ đúc ѕúng, ông còn là tác giả của chiến thuyền cổ lâu, của thế trận độc đáo chống giặc Minh.

Nhà Minh sau khi đưa ba cha con Hồ Quý Ly về nước, đã tha tội cho Hồ Nguyên Trừng và giao cho ông một chức quan trong triều đình. Điều mà nhà Minh mong muốn chính là dùng tính mạng của cha và em trai ông để có được tài nghệ đúc ѕúng thần cơ của ông. Khi ấy, để làm trọn đạo nghĩa với cha và em trai, Hồ Nguyên Trừng đã chấp nhận làm quan dưới triều Minh và ông được sử sách nhà Minh lưu lại dưới cái tên Lê Trừng.

 

Người Việt làm khiến cả thế giới thán phục khi xây dựng Tử Cấm Thành

Khi nhắc đến kiến trúc cổ Trung Hoa, Tử Cấm Thành có lẽ là một trong những công trình sẽ được nhắc đến đầu tiên và nhiều nhất. Cung điện được cho xây dựng bởi vua Minh Thành Tổ – Hoàng đế thứ ba của Triều Minh.

Tử Cấm Thành luôn khiến người ta phải choáng ngợp trước sự đồ sộ, nguy nga, tráng lệ của hệ thống 800 công trình bao gồm cung điện, lầu thành, ngự hoa viên… trải rộng trên một diện tích lên đến 720.000m2.

 

Kiến trúc đặc trưng của cung điện cổ này là sự bố trí, sắp xếp, trang trí các công trình dựa trên những nguyên lý rất đặc trưng của minh triết phương Đông: Kính Trời, trọng Đạo, Thiên Nhân hợp nhất, Âm dương hòa hợp.

Tử Cấm Thành đối với thế giới giống như một bảo tàng lịch sử – văn hóa – nghệ thuật có giá trị nghiên cứu vô cùng lớn.

Không ai có thể tưởng tượng rằng vị kiến trúc sư tài năng kiệt xuất đã thiết kế nên Cố Cung – Tử Cấm Thành lại không phải là người Trung Hoa mà lại là một người Việt Nam khiêm nhường, luôn tận tâm, tận sức vì công việc.

 

Người Việt ấy là Nguyễn An (1381-1453), sinh ra ở Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Tài năng của Nguyễn An đã phát tiết khi ông còn rất trẻ. Năm 16 tuổi, Nguyễn An bắt đầu tham gia vào hiệp thợ xây dựng cung điện nhà Trần để phát huy tài năng tính toán và biệt tài kiến trúc hiếm có của mình.

 

Nguyễn An đã bị nhà Minh bắt làm tù binh cùng với rất nhiều những nhân tài khác của nước Việt. Trớ trêu hơn nữa, ông bị hoạn và trở thành thái giám phục vụ trong Cung. Vua Minh lúc bấy giờ đang ấp ủ kế hoạch xây dựng lại cung điện của triều đình tại kinh đô mới ở Bắc Bình (nay là Bắc Kinh).

 

Minh Thành Tổ nhìn thấy tài năng kiến trúc của Nguyễn An, lại thêm phần mến phục đức độ liêm khiết, chính trực của ông, đã trao cho ông trọng trách làm “Tổng đốc công” chỉ huy công trường xây dựng Tử Cấm Thành.

Trong rất nhiều các sách sử khác của Trung Hoa, nhất là của Triều Minh, Nguyễn An vẫn được nhắc đến như một bậc kì nhân.

 

Tiếng thơm lưu muôn thuở

Không ai có thể phủ nhận rằng chính những tài năng thiên bẩm của ba nhân vật ấy đã giúp tên tuổi của họ được lưu truyền đến ngày hôm nay. Nhưng nếu nhìn nhận một cách toàn diện hơn, nhân cách của ba người con đất Việt ấy cũng chính là điều khiến người đời sau cảm phục.

 

Nguyễn An cùng Hồ Nguyên Trừng đều làm quan cho Triều Minh, hưởng bổng lộc, sống trong giàu sang nhung lụa nơi đất khách nhưng tấm lòng của hai ông không bao giờ rời khỏi mảnh đất Việt thân thương, dù chỉ có một người có thể trở về.

Người còn lại chỉ có thể mượn bút để viết nên nỗi lòng của mình với quê cha đất tổ. Về cuối đời,

 

Hồ Nguyên Trừng đã lấy bút danh “Nam Ông” (Ông già đất Việt) để viết nên hồi ký “Nam Ông mộng lục”. Rất nhiều người đã tin tưởng vào tấm lòng với đất nước của ông sau khi đọc cuốn hồi kí ấy.

Nguyễn An đã vượt qua nỗi nhục của thân phận hoạn quan; Hồ Nguyên Trừng không để nỗi đau mất nước hủy hoại; họ vẫn cố gắng sống, giữ trọn đức độ và tài năng của mình. Họ chọn cống hiến để để lại những di sản mà ngày nay đã trở thành niềm tự hào của người dân đất Việt.

 

Mặc dù sử sách Việt thời bấy giờ không ghi nhận công trạng của họ, có thể còn có những nhận xét trái chiều về lựa chọn của họ, nhưng chắc hẳn những người Việt của hiện tại sẽ đánh giá công tâm những gì mà những “vị quan Trung Hoa bất đắc dĩ” ấy đã tận tâm kiến tạo.

 

Đăng Dũng