Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Triết lý giáo dục và sức mạnh của một quốc gia

 

TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VÀ SỨC MẠNH CỦA MỘT QUỐC GIA

 

Từ hàng nghìn năm trước, cha ông ta đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Trải qua các giai đoạn lịch sử, từ dựng nước, giữ nước đến đổi mới và hội nhập, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị.

 

Một quốc gia muốn phát triển bền vững không chỉ cần tiềm lực kinh tế hay tài nguyên, mà trước hết phải có những con người có trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và khát vọng cống hiến. Vì vậy, bàn về giáo dục thực chất là bàn về triết lý phát triển con người.

 

Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và từng bước hình thành một triết lý giáo dục Việt Nam phù hợp với thực tiễn, kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa nhân loại là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước.

 

Con người là sản phẩm của nền giáo dục và hệ giá trị của thời đại

Giáo dục không chỉ là hoạt động truyền thụ tri thức mà trước hết là quá trình hình thành con người theo những giá trị mà xã hội hướng tới.

Mỗi nền giáo dục đều phản ánh hệ giá trị của một thời đại, đồng thời định hình phẩm chất, năng lực và trách nhiệm của thế hệ công dân tương lai.

Vì vậy, chất lượng con người luôn là kết quả trực tiếp của chất lượng giáo dục; và đến lượt mình, chất lượng con người sẽ quyết định năng lực phát triển của quốc gia.

 

Lịch sử Việt Nam cho thấy nhận thức nhất quán về vai trò trung tâm của giáo dục trong chiến lược phát triển đất nước. Từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến việc thành lập Quốc Tử Giám năm 1076, các triều đại phong kiến đã coi đào tạo và tuyển chọn nhân tài là nền tảng của quốc gia.

 

Đỉnh cao của tư tưởng ấy được thể hiện dưới thời Lê Thánh Tông qua lời khẳng định của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Đây không chỉ là quan điểm về giáo dục mà còn là triết lý phát triển quốc gia, đặt con người ở vị trí trung tâm của sự hưng thịnh và bền vững.

 

Bước sang thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng lấy con người làm gốc tiếp tục được kế thừa và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, đồng thời nhấn mạnh trong thư gửi học sinh ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng tương lai của dân tộc phụ thuộc vào kết quả học tập và rèn luyện của thế hệ trẻ.

 

Những quan điểm đó cho thấy giáo dục không chỉ nhằm nâng cao dân trí mà còn hướng tới xây dựng những con người có đạo đức, bản lĩnh, tinh thần yêu nước và năng lực cống hiến cho đất nước.

 

Triết lý giáo dục – nền tảng định hình tương lai dân tộc

Không có một nền giáo dục phát triển bền vững nếu thiếu một triết lý giáo dục rõ ràng. Triết lý giáo dục không phải là khẩu hiệu hay tập hợp những mục tiêu trước mắt, mà là hệ thống quan điểm nền tảng định hướng toàn bộ hoạt động giáo dục, trả lời câu hỏi cốt lõi: giáo dục đào tạo con người như thế nào và để phục vụ mục tiêu phát triển nào của quốc gia.

 

Khi triết lý giáo dục được xác lập, từ mục tiêu, chương trình, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá đến đào tạo đội ngũ nhà giáo đều vận hành theo một định hướng thống nhất, tạo nên tính ổn định, nhất quán và bền vững của hệ thống giáo dục.

 

Thực tiễn quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình hay triết lý giáo dục chung cho mọi quốc gia. Mỗi nền giáo dục thành công đều được xây dựng trên nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế và mục tiêu phát triển riêng.

 

Nhật Bản lấy kỷ luật, trách nhiệm và tinh thần cộng đồng làm giá trị cốt lõi; Phần Lan đề cao bình đẳng, sáng tạo và năng lực tự học; Singapore hướng tới đào tạo nguồn nhân lực có năng lực cạnh tranh toàn cầu nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc.

Điểm chung của các quốc gia này không phải là sao chép lẫn nhau, mà là xây dựng triết lý giáo dục phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển của chính mình.

 

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và kinh tế tri thức đặt ra đòi hỏi phải nghiên cứu, từng bước hình thành một triết lý giáo dục mang bản sắc Việt Nam.

 

Triết lý đó cần kế thừa truyền thống hiếu học, lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và đoàn kết của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của giáo dục hiện đại như tư duy phản biện, đổi mới sáng tạo, năng lực số, học tập suốt đời và năng lực hội nhập quốc tế.

 

Mục tiêu xuyên suốt là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, vừa có tri thức, phẩm chất và bản lĩnh, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

 

Thế Nguyễn – Minh Văn

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

Cơ hội 'dân số vàng' của Việt Nam sắp hết, dân số già đến nhanh hơn

 

CƠ HỘI 'DÂN SỐ VÀNG' CỦA VIỆT NAM SẮP HẾT, DÂN SỐ GIÀ ĐẾN NHANH HƠN

 

Những biến động dân số không còn là câu chuyện của tương lai xa mà đang hiện hữu trong từng gia đình, từng địa phương và sẽ tác động sâu sắc đến tăng trưởng kinh tế - xã hội của Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.

 

Từ báo cáo "Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074" do Cục Thống kê chủ trì xây dựng với sự hỗ trợ của UNFPA, phân tích ba xu hướng lớn đang định hình tương lai đất nước: mất cân bằng giới tính khi sinh và hệ lụy với hôn nhân; sự đảo chiều tăng trưởng dân số tại nhiều địa phương; cơ hội dân số vàng đang dần khép lại khi già hóa dân số diễn ra nhanh hơn dự báo.

 

Việt Nam kết thúc thời kỳ 'dân số vàng' sớm 3 năm so với dự báo

Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu "dân số vàng" từ năm 2007 khi tỷ trọng dân số trẻ em (từ 0-14 tuổi) nhỏ hơn 30%, tỷ trọng dân số người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) nhỏ hơn 15%. Lúc này, cứ hai người trong độ tuổi lao động (từ 15-64 tuổi) gánh một người ở độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 hoặc từ 65 trở lên).

 

Trong suốt giai đoạn 2024-2035, dân số trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) duy trì ở mức rất cao, từ 67,4% năm 2024 xuống 66,9% năm 2035. Các chuyên gia nhận định, lực lượng đông đảo này tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phát triển nguồn nhân lực.

 

Đến năm 2036, tỷ trọng người cao tuổi tăng lên 15%, lần đầu tiên vượt ngưỡng để xác định thời kỳ "dân số vàng". Đây được xem là thời điểm Việt Nam chính thức bước ra khỏi giai đoạn "dân số vàng". Như vậy, so với dự báo năm 2019, thời kỳ dân số vàng của Việt Nam sẽ kết thúc sớm hơn 3 năm. 

 

GS.TS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội), đánh giá cơ hội này chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử mỗi quốc gia và thường kéo dài 30-45 năm. Việt Nam đã tận dụng được 20 năm và hiện còn khoảng 10 năm. 

 

Ông Cử nhấn mạnh đây là giai đoạn then chốt để Việt Nam tạo ra kỳ tích kinh tế tương tự như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã làm được. Vị chuyên gia cho rằng tận dụng cơ cấu dân số vàng này, chúng ta phải cấp bách nâng cao năng suất, thu nhập tốt. Song song đó, cần tăng tốc đầu tư sức khỏe thể chất, chiều cao cho nam nữ thanh niên.

 

Khi nào người cao tuổi nhiều hơn trẻ em?

Năm 2024, chỉ số già hóa đạt 60,2%, cứ 100 trẻ em có khoảng 60 người cao tuổi. Đến năm 2034, số người cao tuổi sẽ vượt số trẻ em. Đây được xem là ngưỡng dân số quan trọng, là mốc đánh dấu dự báo Việt Nam bắt đầu thời kỳ dân số già, theo phương án trung bình.

 

Nếu năm 2024, cứ 2 trẻ em có khoảng 1 người cao tuổi, thì 50 năm sau đó, cứ 2 trẻ em có khoảng 4 người cao tuổi. Khi đó, áp lực già hóa ngày càng lớn đối với lực lượng trong độ tuổi lao động và hệ thống an sinh xã hội.

 

Thời kỳ dân số già của Việt Nam sẽ kéo dài 15 năm, từ năm 2034 đến năm 2049. Sau giai đoạn này, từ năm 2050 đến 2074, Việt Nam sẽ có cơ cấu dân số rất già tương ứng với tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm trên 21%. Đến năm 2074, con số này đạt 27,3% tổng dân số, xấp xỉ mức mà Nhật Bản đang đối mặt hiện nay.

 

Tuổi thọ bình quân từ lúc sinh của Việt Nam không ngừng tăng qua các năm, đạt 74,7 tuổi vào năm 2024. So với năm 2019, tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của Việt Nam đã tăng lên 1,1 năm sau giai đoạn 5 năm.

Theo dự báo, từ giai đoạn 2024- 2064, mỗi 5 năm, tuổi thọ người dân nước ta sẽ tăng thêm 0,5 - 0,6 năm. Tốc độ này sẽ giảm dần vào cuối thời kỳ dự báo.

 

Võ Thu

Cách bạn nói quan trọng hơn những gì bạn nói

 

CÁCH BẠN NÓI QUAN TRỌNG HƠN NHỮNG GÌ BẠN NÓI

 

Thành thật mà nói, hầu hết các vấn đề cách bạn thể hiện trong các cuộc trò chuyện, cách bạn lắng nghe, cách bạn phản ứng dưới áp lực và cách thông điệp của bạn rơi xuống phía bên kia. Và cho dù bạn có nhận ra điều đó hay không, Phong cách giao tiếp của bạn đang định hình danh tiếng của bạn mỗi ngày.

Phong cách giao tiếp của bạn là cách độc đáo bạn thể hiện bản thân khi bạn nói, viết, nghe hoặc thậm chí chỉ phản ứng. Đó là giọng điệu, tốc độ, năng lượng, ngôn ngữ cơ thể, và vâng - cả lời nói.

 

Hầu hết mọi người rơi vào một trong bốn phong cách chủ đạo:

  • Thụ động – Bạn tránh xung đột, không lên tiếng và để người khác dẫn đầu.
  • Tích cực – Bạn trực tiếp đến một lỗi lầm – thường thẳng thừng, đối đầu hoặc quá thống trị.
  • Thụ động-Tích cực – Bạn dường như dễ chịu nhưng giao tiếp thông qua mỉa mai, vấp ngã tội lỗi hoặc những cú đâm tinh tế.
  • Quyết đoán – Bạn nói lên suy nghĩ của mình một cách rõ ràng, tự tin và tôn trọng. Đây thường được coi là phong cách cân bằng và hiệu quả nhất.

Trong bất kỳ mối quan hệ nào, đặc biệt là trong công việc, cách bạn giao tiếp đều ảnh hưởng sự tin tưởng, rõ ràng, hợp tác và ảnh hưởng. Thông tin sai lệch rất tốn kém. Nó dẫn đến hiểu lầm, bỏ lỡ thời hạn, các mối quan hệ bị tổn thương và thậm chí mất khách hàng.

 

Đây là cách phong cách của bạn có thể tạo ra hoặc phá vỡ thành công của bạn:

  • Các nhà lãnh đạo giao tiếp rõ ràng Xây dựng sự liên kết và truyền cảm hứng hành động.
  • Nhân viên thể hiện bản thân một cách quyết đoán được coi là tự tin, có năng lực và có thể thăng tiến.
  • Giao tiếp kém dẫn đến căng thẳng, nhầm lẫn tại nơi làm việc và động lực nhóm bị phá vỡ.

Bạn có thể có những ý tưởng tốt nhất trong phòng - nhưng nếu bạn không thể truyền đạt chúng tốt, chúng sẽ không đi đến đâu.

Cải thiện cách bạn giao tiếp không phải là thay đổi con người của bạn. Đó là về hiểu cách bạn bắt gặp và có chủ ý về nó.

 

  • Biết phong cách mặc định của bạn. Bạn có xu hướng đóng cửa trong xung đột? Nói quá nhiều khi bạn lo lắng? Nhận thức đó là bước một.
  • Thực hành tính quyết đoán. Nói điều bạn muốn nói - rõ ràng, tôn trọng và tự tin. Đó là cách niềm tin được xây dựng.
  • Đọc phòng. Giao tiếp không chỉ là về bạn mà còn là về khán giả của bạn. Chú ý đến cách mọi người phản ứng và điều chỉnh nếu cần.
  • Lắng nghe để hiểu, không phải trả lời. Những người giao tiếp giỏi nhất cũng là những người lắng nghe tốt nhất.
  • Yêu cầu phản hồi. Đừng cho rằng bạn đang rõ ràng - hãy kiểm tra với nhóm hoặc đồng nghiệp của bạn. Những gì bạn suy nghĩ bạn đang nói và họ là gì thính giác có thể cách nhau hàng dặm.

Kết luận:

Phong cách giao tiếp không chỉ là một kỹ năng mềm mà còn là một kỹ năng nghề nghiệp.

Nếu bạn muốn lãnh đạo tốt hơn, làm việc tốt hơn và xây dựng các mối quan hệ tốt hơn, hãy bắt đầu với cách bạn giao tiếp.

Lời nói rất mạnh mẽ. Nhưng Cách Bạn sử dụng chúng? Đó là điều thực sự khiến bạn khác biệt.

 

Meghna Khan