Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Suy nghĩ về vị thế của người thầy và sự tôn nghiêm của nghề giáo

 

SUY NGHĨ VỀ VỊ THẾ CỦA NGƯỜI THẦY VÀ SỰ TÔN NGHIÊM CỦA NGHỀ GIÁO

 

Lịch sử phát triển nhân loại thời hiện đại cho thấy, giáo dục luôn giữ vai trò quyết định đối với sự hưng thịnh của mỗi quốc gia; và các trường đại học được coi là biểu tượng tri thức của một đất nước, là niềm tự hào của một dân tộc; vì giáo dục góp phần tạo nên phẩm cách con người, ‘nếp nhà’ của một gia đình, và giáo dục cũng làm nên tầm vóc của một dân tộc.

 

Nghề nào cũng cao quý và đáng trân trọng, nhưng nghề giáo là một trong số rất ít nghề được cho là cao quí và đáng trân trọng nhất; vì thế, nghề này đòi hỏi sự nghiêm cẩn, trong sáng và mô phạm hơn bất cứ nghề nào khác; điều đó làm nên sự tôn nghiêm của nghề. Các trường học thường được coi là biểu tượng tri thức và văn hóa của một đất nước và là niềm tự hào của một cộng đồng.

 

Khó khăn lớn nhất trong việc được sống xứng đáng như một người Thầy của các nhà giáo hiện nay là chế độ lương. Tổ tiên người Việt cũng dạy "dĩ thực vi tiên", ăn là số một, rồi sau đó mới là ở, mặc, đi lại, rồi mới đến đạo đức, văn hóa, trí tuệ và những điều cao xa khác.

Người Việt lại nói, "đói ăn vụng túng làm liều", nên khi lương người thầy không đủ để lo những nhu cầu sống và làm việc thiết yếu nhất, khiến họ vẫn phải chật vật xoay xở vì miếng cơm manh áo, thì người ta dễ sinh tật, dễ đánh mất mình.

 

Tất nhiên không phải ông giáo nào cũng bị cám dỗ vật chất làm cho tha hóa, hầu hết không người thầy nào muốn lo ‘nồi cơm’ gia đình mình bằng tiền dạy thêm, bằng quà biếu, bằng ăn chặn, bằng tham nhũng. Nhưng rồi số người ‘đầu hàng hoàn cảnh’ cũng đủ lớn, đủ làm cho xã hội thấy mối quan hệ giữa người học và người thầy là mối quan hệ sòng phẳng: người thầy là nhà cung cấp dịch vụ, người học là người trả tiền dịch vụ; chẳng ơn huệ, chẳng nợ nần gì nhau.

 
Tâm lý xem mối quan hệ thầy - trò là quan hệ mua bán sòng phẳng theo qui luật cung cầu, qui luật giá trị là rất đáng lo ngại ở xã hội ta, bởi chính ở các nước nơi là cái ‘nôi’ của nền kinh tế thị trường cũng không có cách nhìn nhận như thế đối với giáo dục.

 

Ở đó, không tồn tại thị trường trong giáo dục mà người ta áp dụng mô hình quản trị đại học linh hoạt như (chứ không phải là) một doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đồng thời vẫn mang đậm hương vị ‘cận thị trường’ (quasi market) nhằm thích ứng với kinh tế thị trường nhưng tránh bị thương mại hóa tuyệt đối, với sự hỗ trợ, giám sát và điều tiết của xã hội và của nhà nước, nên người thầy rất được tôn trọng.

 

Ngay cả ở Mỹ, nơi có hệ số lương trả cho nhà giáo khá thấp so với các ngành nghề khác, vị thế xã hội của nhà giáo cũng rất đàng hoàng. Điều đó chứng tỏ, thang bậc giá trị của xã hội ở các nước đó không căn cứ vào thu nhập của cá nhân.

 

Người thầy chỉ là một thành tố trong nền giáo dục

Muốn lấy lại vị thế của người thầy, ở đó sự liêm chính của thầy và trò được thượng tôn, chỉ cần làm đúng những lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng dạy: thầy ra thầy thì tự khắc trò sẽ ra trò, trường đã ra trường, tự nhiên lớp sẽ ra lớp, tự khắc ở đó sẽ có sự tôn nghiêm của nghề giáo, sẽ có vị thế cao cả, được kính trọng và ngưỡng mộ của nhà giáo.

 
Trước hết là mục tiêu giáo dục: nền giáo dục ấy nhằm đào tạo ra các công dân hay các thần dân trong tương lai?

Từ mục tiêu, chương trình đào tạo được thiết kế vì người học, vì con trẻ hay là vì ‘người lớn’; nếu vì con trẻ, chương trình đào tạo sẽ không còn bị áp đặt từ bên trên, từ bên ngoài nhà trường; nhờ thế, sẽ không còn các chương trình đào tạo được thiết kế quá tải về kiến thức, trong đó có nhiều thứ không thiết thực, người học không cần, không muốn học, nhưng họ buộc phải học đối phó, học để thi, để có mảnh bằng, để được yên thân; nên học thiếu thực chất, thiếu thực lực, thiếu thực học, nên cũng thiếu thực tài.

 

Chương trình đào tạo được thiết kế vì người học sẽ không còn chỗ cho lối giáo dục nặng về điểm số, nặng về thi cử, nặng về thành tích, không quan tâm đến sự hứng thú của người học và tính thực tiễn của các kiến thức.

Muốn làm sạch cầu thang thì phải quét dọn từ trên xuống. Nên trước hết là các lãnh đạo, nhà quản lý của ngành GD&ĐT phải thực tâm và thành tâm coi trọng người thầy, coi trọng người trò; coi người học chứ không phải những thứ khác là trung tâm đã, rồi mới nói và làm đến các việc khác.

Chợt nhớ bài văn sách thi Đình đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ năm 1442 của Nguyễn Trực (1417-1474), đầu bài của vua Lê Thái Tông (1423-1442) nói về việc tìm người tài ra giúp dân và phép trị nước; Nguyễn Trực viết "Vua có nhân, không ai không có nhân; Vua có nghĩa, không ai không có nghĩa; Vua chân chính, không ai không chân chính. Trước hết, vua chân chính rồi thì cả nước sẽ bình yên"!

Nền giáo dục ấy phải thiết kế làm sao để cho quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo là chính, quá trình rèn luyện mang tính áp đặt từ bên ngoài thành quá trình tự tu dưỡng, đảm bảo sự tu dưỡng từ bên trong của mỗi một con người là chủ yếu.

 

Nền giáo dục ấy coi trọng và đề cao trên thực tế và trong thực tiễn các giá trị nhân văn, các quyền tự do cá nhân cơ bản của con người; mỗi con người là một bản thể độc lập nhưng gắn bó máu thịt và biện chứng với cộng đồng, vui với niềm vui của đồng bào mình, buồn lo, yêu thương, căm phẫn cùng với đồng bào mình.


Việc thiết kế một nền giáo dục tiến bộ như vậy vốn không xa lạ với chúng ta, có thể đơn giản được bắt đầu từ việc coi trọng việc truyền thụ và rèn luyện tính trung thực, liêm chính, tự trọng của mỗi con người theo 5 điều Bác Hồ dạy, nhất là về các đức tính Khiêm tốn, Thật thà, Dũng cảm, các đức tính cốt lõi để làm nên phẩm hạnh và tầm vóc một con người.

 

Những công dân thông tuệ và có phẩm hạnh như thế, chắc chắn sẽ cùng nhau xây dựng một đất nước hùng cường và hạnh phúc, tươi đẹp và thịnh vượng.

 

Trần Đức Viên

 

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

Bạn đọc được bao nhiêu cuốn sách?

 

BẠN ĐỌC ĐƯỢC BAO NHIÊU CUỐN SÁCH?

 

Hôm nay, có người nói với tôi: “Những người đọc sách và những người không đọc sách thậm chí không sống trong cùng một thế giới”. Câu nói này khiến tôi nhớ đến cuộc trò chuyện với một người bạn về thói quen đọc sách.

Bạn nói rằng ở nơi bạn sinh sống có một điều khác Việt Nam: ở mỗi giai đoạn cuộc đời, người ta thường phải đọc những cuốn sách nhất định, không chỉ là sách tôn giáo, mà còn bao gồm cả sách văn chương nghệ thuật, sách về cuộc sống… Nhờ vậy mà người đọc có thể đạt được một sự hiểu biết tương đối đa dạng và cân bằng ở nhiều phương diện.

 

Bạn cũng nhận xét rằng, ở Việt Nam, hơi ít sách. Tôi đáp: Không phải là thiếu sách mà là ít người đọc sách mới đúng. Cả hai chúng tôi đều gật đầu tán thành.

Phải chăng đọc sách giờ đã trở thành một thứ gì đó xa lạ? Ngay cả trong các dòng tu, hình ảnh một tu sĩ cầm cuốn sách bên khung cửa sổ dường như cũng đang phai nhạt dần. Văn hoá đọc viết dần bị thay thế bởi văn hóa nghe nhìn. Điều này có thực sự tốt?

 

Khi sử dụng điện thoại trong một thời gian, tôi nhận ra mình đã xa rời sách vở nhiều hơn so với trước đây. Ít đọc sách khiến tâm hồn tôi trở nên khô cằn, vốn liếng văn chương cạn kiệt và kiến thức nông cạn.

Thì ra, nơi chiếc điện thoại “toàn năng” chứa đầy thông tin, nó không làm tôi sâu sắc hơn, mà chỉ lấy đi thời gian quý báu. Nó lấy mất thứ mà trước đây tôi từng đam mê: hàng giờ ngồi miệt mài lật từng trang sách, hấp thụ từng nét tinh hoa.

 

Trong mỗi cuốn sách chứa đựng trí tuệ và tâm hồn của một con người. Ở đó, ta có thể cảm nhận được chính hồn của tác giả. Rene Descartes nói “Đọc được sách hay cũng giống như trò chuyện với các bộ não vĩ đại nhất của những thế kỷ đã trôi qua” hay như Thomas Carlyle đúc kết “Tất cả những gì con người làm, nghĩ hoặc trở thành: được bảo tồn một cách kỳ diệu trên những trang sách”.

 

Một cuốn sách được viết ra với bao tâm huyết, nhưng khi bán có khi chẳng đáng giá là bao. Tôi nghĩ rằng các tác giả, khi viết sách, thường không quá chú trọng đến lợi nhuận mà chỉ quan tâm đến giá trị mà họ để lại.

Giá trị của cuốn sách chính là tâm hồn của tác giả – một tâm hồn quảng đại, muốn chia sẻ những kinh nghiệm sống, cảm nghiệm đạo đức và kiến thức quý giá.

 

Viết sách không phải là điều dễ dàng; không phải ai cũng có thể viết được, và viết sách càng không thể hoàn thành trong một sớm một chiều. Những gì ta lật giở trong từng trang sách khác xa với dòng cảm xúc nhanh chóng trên mạng.

Điều được ghi trong sách là điều tác giả đã thai nghén, ấp ủ và nghiền ngẫm đủ lâu, trong khi những dòng trạng thái trên mạng đôi khi chỉ là cảm xúc thoáng qua, nhất thời.

 

Thế mà, trong thế giới hiện đại, chúng ta lại ưa chuộng sự nhanh chóng mà quên đi cái chiều sâu trong từng trang sách. Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân làm ta nghèo về nhân cách, mất đi sự quảng đại, dẫn đến nhiều xung đột và đổ vỡ trong cuộc sống.

Còn đâu cái thời mà đọc sách được xem như một thói quen, giống như uống nước khi khát hay ăn cơm khi đói.

 

Tôi, tôi muốn đánh thức chính mình, muốn trở lại với những cuốn sách để nhờ đó lĩnh hội bao điều hay lẽ phải. Bạn cũng nói rằng “đọc sách nhiều rồi, nét mặt tự nhiên sẽ thay đổi; có thể nhiều lúc đọc xong không nhớ hết, nhưng thực ra, những kiến thức đó vẫn tiềm ẩn trong khí chất, lời nói, chí hướng và đương nhiên nó cũng có thể lộ rõ trong cuộc sống và câu chữ”.

 

Có lẽ, tôi và bạn nên thử nhìn lại, trong một năm qua, mình đã đọc được bao nhiêu cuốn sách?

 

Hoa cát

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Triết lý giáo dục và sức mạnh của một quốc gia

 

TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VÀ SỨC MẠNH CỦA MỘT QUỐC GIA

 

Từ hàng nghìn năm trước, cha ông ta đã khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Trải qua các giai đoạn lịch sử, từ dựng nước, giữ nước đến đổi mới và hội nhập, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị.

 

Một quốc gia muốn phát triển bền vững không chỉ cần tiềm lực kinh tế hay tài nguyên, mà trước hết phải có những con người có trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và khát vọng cống hiến. Vì vậy, bàn về giáo dục thực chất là bàn về triết lý phát triển con người.

 

Trong bối cảnh hiện nay, việc nghiên cứu và từng bước hình thành một triết lý giáo dục Việt Nam phù hợp với thực tiễn, kế thừa truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa nhân loại là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước.

 

Con người là sản phẩm của nền giáo dục và hệ giá trị của thời đại

Giáo dục không chỉ là hoạt động truyền thụ tri thức mà trước hết là quá trình hình thành con người theo những giá trị mà xã hội hướng tới.

Mỗi nền giáo dục đều phản ánh hệ giá trị của một thời đại, đồng thời định hình phẩm chất, năng lực và trách nhiệm của thế hệ công dân tương lai.

Vì vậy, chất lượng con người luôn là kết quả trực tiếp của chất lượng giáo dục; và đến lượt mình, chất lượng con người sẽ quyết định năng lực phát triển của quốc gia.

 

Lịch sử Việt Nam cho thấy nhận thức nhất quán về vai trò trung tâm của giáo dục trong chiến lược phát triển đất nước. Từ khoa thi đầu tiên năm 1075 đến việc thành lập Quốc Tử Giám năm 1076, các triều đại phong kiến đã coi đào tạo và tuyển chọn nhân tài là nền tảng của quốc gia.

 

Đỉnh cao của tư tưởng ấy được thể hiện dưới thời Lê Thánh Tông qua lời khẳng định của Thân Nhân Trung: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Đây không chỉ là quan điểm về giáo dục mà còn là triết lý phát triển quốc gia, đặt con người ở vị trí trung tâm của sự hưng thịnh và bền vững.

 

Bước sang thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng lấy con người làm gốc tiếp tục được kế thừa và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, đồng thời nhấn mạnh trong thư gửi học sinh ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng tương lai của dân tộc phụ thuộc vào kết quả học tập và rèn luyện của thế hệ trẻ.

 

Những quan điểm đó cho thấy giáo dục không chỉ nhằm nâng cao dân trí mà còn hướng tới xây dựng những con người có đạo đức, bản lĩnh, tinh thần yêu nước và năng lực cống hiến cho đất nước.

 

Triết lý giáo dục – nền tảng định hình tương lai dân tộc

Không có một nền giáo dục phát triển bền vững nếu thiếu một triết lý giáo dục rõ ràng. Triết lý giáo dục không phải là khẩu hiệu hay tập hợp những mục tiêu trước mắt, mà là hệ thống quan điểm nền tảng định hướng toàn bộ hoạt động giáo dục, trả lời câu hỏi cốt lõi: giáo dục đào tạo con người như thế nào và để phục vụ mục tiêu phát triển nào của quốc gia.

 

Khi triết lý giáo dục được xác lập, từ mục tiêu, chương trình, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá đến đào tạo đội ngũ nhà giáo đều vận hành theo một định hướng thống nhất, tạo nên tính ổn định, nhất quán và bền vững của hệ thống giáo dục.

 

Thực tiễn quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình hay triết lý giáo dục chung cho mọi quốc gia. Mỗi nền giáo dục thành công đều được xây dựng trên nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế và mục tiêu phát triển riêng.

 

Nhật Bản lấy kỷ luật, trách nhiệm và tinh thần cộng đồng làm giá trị cốt lõi; Phần Lan đề cao bình đẳng, sáng tạo và năng lực tự học; Singapore hướng tới đào tạo nguồn nhân lực có năng lực cạnh tranh toàn cầu nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc.

Điểm chung của các quốc gia này không phải là sao chép lẫn nhau, mà là xây dựng triết lý giáo dục phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển của chính mình.

 

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và kinh tế tri thức đặt ra đòi hỏi phải nghiên cứu, từng bước hình thành một triết lý giáo dục mang bản sắc Việt Nam.

 

Triết lý đó cần kế thừa truyền thống hiếu học, lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa và đoàn kết của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của giáo dục hiện đại như tư duy phản biện, đổi mới sáng tạo, năng lực số, học tập suốt đời và năng lực hội nhập quốc tế.

 

Mục tiêu xuyên suốt là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, vừa có tri thức, phẩm chất và bản lĩnh, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

 

Thế Nguyễn – Minh Văn