Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

Tương tác xã hội giúp hình thành trí nhớ dài hạn

 

TƯƠNG TÁC XÃ HỘI GIÚP HÌNH THÀNH TRÍ NHỚ DÀI HẠN

 

Một nghiên cứu mới cho thấy các tương tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành trí nhớ dài hạn.

 

Mới đây, các nhà nghiên cứu ở Trường Y Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore (NUS Medicine), đã khám phá một vai trò từng bị bỏ qua của hồi hải mã trong việc hình thành trí nhớ, cho thấy những tương tác xã hội có thể tăng cường khả năng chuyển đổi những trải nghiệm thoáng qua thành trí nhớ dài hạn của não bộ.

 

Hồi hải mã thường được coi là “trung tâm trí nhớ” của não, giữ vai trò chủ chốt trong việc quyết định những gì chúng ta ghi nhớ hoặc lãng quên. Bên trong cấu trúc phức tạp của hồi hải mã, có một vùng ít được nghiên cứu gọi là CA2. Giờ đây, các nhà nghiên cứu tại NUS Medicine đã chứng minh vùng này có chức năng như một “bộ phận đánh lửa xã hội”.

 

Kết quả đã được công bố trên Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia (PNAS). Nhóm nghiên cứu nhận thấy hoạt động của CA2 trong quá trình tương tác xã hội kích hoạt các tín hiệu tăng cường trí nhớ đến một vùng khác của hồi hải mã, CA1 – “bộ chuyển đổi trí nhớ” của não.

 

“Tương tác xã hội không chỉ là một hoạt động mang lại cảm giác dễ chịu”, Phó Giáo sư Sreedharan Sajikumar ở Khoa Sinh lý học và Chương trình Nghiên cứu chuyển dịch tuổi thọ khỏe mạnh (TRP), NUS Medicine, nghiên cứu viên chính của công trình này, cho biết.

“Đây là một nhu cầu sinh học trực tiếp thay đổi cách thức hoạt động của não bộ.

 

Những quá trình này không chỉ tạo ra những ký ức mà chúng ta trân trọng, nó còn tạo ra sự gắn kết ý nghĩa định hình con người chúng ta. Có thể thấy, hoạt động xã hội đã ăn sâu vào mạch thần kinh của chúng ta”.

Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng các phương pháp hóa di truyền học (chemogenetics) – một kỹ thuật giúp các nhà nghiên cứu tạm thời “tắt” một số tế bào não.

Họ phát hiện việc ức chế hoạt động của vùng CA2 trong não đã ngăn chặn quá trình tăng cường trí nhớ thường diễn ra nhờ các tương tác xã hội.

 

Nghiên cứu sâu hơn cho thấy các tế bào thần kinh CA2 tăng cường khả năng hình thành trí nhớ dài hạn của CA1 thông qua cơ chế siêu mềm dẻo (metaplasticity: sự thay đổi tính dẻo dai của khớp thần kinh phụ thuộc vào hoạt động thần kinh trước đó) – quá trình góp phần củng cố các “protein trí nhớ” của não.

 

Tuy nhiên, hiệu ứng tăng cường trí nhớ này gặp giới hạn về mặt thời gian – qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tương tác xã hội thường xuyên. Điều này góp phần giải thích tại sao sự cô đơn và cô lập xã hội kéo dài liên quan chặt chẽ đến tình trạng suy giảm trí nhớ và các vấn đề khác như sa sút trí tuệ, cũng như làm sáng tỏ lý do suy giảm trí nhớ và suy giảm khả năng giao tiếp xã hội thường diễn ra đồng thời trong các rối loạn tâm thần.

 

Nghiên cứu cho thấy việc củng cố kết nối CA2-CA1 có thể mang lại những giải pháp cải thiện trí nhớ ở những nhóm dễ bị tổn thương, chẳng hạn như người cao tuổi, và thúc đẩy khả năng phục hồi chống lại chứng sa sút trí tuệ và các tình trạng liên quan đến trí nhớ khác.

 

“Những phát hiện của chúng tôi góp phần giải thích lý do tại sao sự cô đơn và thiếu giao tiếp xã hội kéo dài liên quan đến tình trạng suy giảm trí nhớ. Thông qua việc nghiên cứu các trải nghiệm xã hội định hình hồi hải mã như thế nào, chúng ta có thể thiết kế các liệu pháp để cứu vãn trí nhớ của những nhóm dễ bị tổn thương, thậm chí thúc đẩy khả năng phục hồi.

 

Các liệu pháp này có thể là những loại thuốc mới, phương pháp kích thích não bộ hoặc các giải pháp can thiệp dựa trên lối sống giúp duy trì kết nối CA2-CA1 cũng như hoạt động của cả não bộ”, TS. Mohammad Zaki Bin Ibrahim nói.

 

Thanh Bình

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

Triết lý 5 chiếc kính

 

TRIẾT LÝ 5 CHIẾC KÍNH

Trong đời sống, có 5 chiếc kính có thể đại diện cho những triết lý đời thường

1. Kính viễn vọng: Nhìn xa trông rộng

Khi nhìn bầu trời thông qua kính viễn vọng, trong tầm mắt chúng ta sẽ là những thiên thể khổng lồ cách rất xa. Nhưng nếu ngước lên bầu trời và nhìn bằng con mắt bình thường này thì thiên thể kia chỉ là một chấm sáng rất nhỏ.

Cuộc sống của chúng ta cũng như thế, bạn muốn thành công thì bạn phải có một tầm nhìn chiến lược. Một người có khả năng nhìn xa trông rộng thường là người có cảnh giới cao, tâm hồn khoáng đạt. Họ sẽ không bị che mờ bởi những thị phi hay lợi ích trước mắt. Ngược lại những người với tâm địa hẹp hòi, ích kỷ, tham lam thì những lợi ích nhỏ nhoi hay thị phi kia sẽ cuốn họ lại không để họ nhìn thấy điều chân thực ở phía trước.

Tự ước chế bản thân khỏi những dục vọng, loại bỏ sự tham lam, mở rộng cánh cửa tâm hồn thì lúc đó “chiếc kính viễn vọng” của riêng bạn sẽ tự được khai mở. Khi đó bạn sẽ vượt qua được rất nhiều “lớp mây, tầng trời, vượt qua hằng bao nhiêu khoảng cách” và cuối cùng nhìn thấy được “thiên thể khổng lồ kia.”

2. Kính lúp: Tâm trí rộng mở

Kính lúp có tác dụng phóng đại, chúng ta hãy sống dựa theo nguyên lý đó: Nhìn sự vật, sự việc với một tâm trí rộng mở. Ngược lại khi nhìn mọi thứ với một tư tưởng chật hẹp thì chúng ta chỉ nhìn được một góc nhỏ của sự vật hiện tượng.

Bảo vệ ý kiến bản thân nhưng đừng quá bảo thủ. Thế giới này quá rộng lớn và phức tạp. Hãy mở toang cánh cửa tâm trí của mình để tiếp thu những cái mới một cách có chọn lọc – đó cũng chính là điều mà chúng ta sẽ làm suốt đời: Học tập

3. Kính mát: Dù mâu thuẫn có gay gắt thế nào ta vẫn ung dung

Với một chiếc kính mát, ánh sáng chói cũng sẽ trở nên nên mờ nhạt. Cuộc sống của mỗi người không thiếu những mâu thuẫn; nỗi khổ mà những mâu thuẫn đó mang lại khiến chúng ta chết dần chết mòn đi hàng ngày. Hãy coi những mâu thuẫn đó như ánh sáng mặt trời gay gắt và tưởng tượng tâm hồn của bạn giống như một chiếc kính râm, nhìn những mâu thuẫn đó giống như chẳng có gì ung dung tự tại. Muốn làm được điều đó thì cần phải có sự tu dưỡng.

4. Kính hiển vi: Không quên tiểu tiết

Trong một trận chiến khi 2 kỵ sĩ đấu thương, một người trong số đó có thể thua chỉ vì móng ngựa của anh ta không được tốt. Một việc lớn có thể thất bại chỉ vì chúng ta không chú ý đến những sai lầm nhỏ, “tích tiểu thành đại” – khi nhiều sai lầm nhỏ chồng chất lên nhau sẽ thành một sai lầm mang tính đại cục và không thể vãn hồi.

 

Thực tế, để làm một việc gì đó được hoàn hảo quả thực rất khó, nhưng không có nghĩa là chúng ta sẽ buông lơi một việc dù nhỏ nhất. Chú ý đến những tiểu tiết cũng chính là đang rèn luyện tính nghiêm khắc của bản thân. Thử hỏi nếu ngay cả những việc nhỏ như vậy mà ta không làm được thì liệu bản thân có thể gánh vác việc lớn? Đạt được điều đó thì chúng ta cũng đã có thể mỉm cười vì dù kết quả không được hoàn hảo như chúng ta mong đợi nhưng có thể nói rằng việc chúng ta làm đã là “trọn vẹn.”

5. ​​Gương phẳng: Sống chân thành

Không giống như kính viễn vọng, kính lúp, kính mát hay kính hiển vi, những gì phản ánh lên gương phẳng luôn là chính nó, từ kích thước, hình dáng, màu sắc; rất chân thật, không giả dối. Giống như câu chuyện “Nàng bạch tuyết và bảy chú lùn” mụ phù thủy hỏi chiếc gương của mình xem ai đẹp nhất và câu trả là bạch tuyết – đó là sự thật không hề thay đổi.

 

Cho dù bạn có mong muốn mình sẽ trở thành người xinh đẹp như thế nào, cao quý ra sao thì đứng trước tấm gương kia, điều bạn nhìn thấy mãi mãi vẫn chính là bản thân. Hãy giống như chiếc gương phẳng, luôn sống với chính mình, chân thành không gian trá. Và đó cũng chính là điều mà khiến cho chiếc gương kia luôn luôn sáng trong, nhẵn mịn và thuần khiết như vậy.

 

Trong cuộc sống hối hả vận động không ngừng nghỉ như thế này, tìm một chút an lành cho bản thân thật khó. Phần lớn không phải là chúng ta không thể tìm thấy hạnh phúc mà thực ra chúng ta đã quên hạnh phúc là gì.

 

Có người khi nghĩ đến danh vọng là ăn không ngon ngủ không yên, làm sao để có thể đạt được nó. Khi đạt được rồi thì lo lắng, sợ hãi làm sao để có thể giữ được nó bây giờ. Có người hễ nói đến tiền là mệt, kiếm mãi mà vẫn nghèo. Có người thì tiền chất thành đống những kiếm bao nhiêu tiêu bấy nhiêu cho các vấn đề: Sức khỏe, con cái v.v… Có người rất phấn đấu trong công việc nhưng người được thăng chức lại không phải anh ta; uất ức, đau khổ. Nhưng khi anh ta được thăng chức thì chính bản thân lại bị cuốn vào danh vọng và tiền.

 

Thế giới sẽ luôn đi theo lộ trình của nó, ta không thể cưỡng lại dòng chảy này, nhưng ta có thể chọn cách mà ta muốn để đi theo dòng chảy đó.

Người xưa đã dạy: “Lòng tham không đáy,” dục vọng của người ta giống như một đại dương bao la không có điểm dừng, sẵn sàng nhấn chìm bất kỳ ai nhảy xuống đó, vậy nên hãy thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn đó, sống chân thành, tu dưỡng bản thân, ước chế lòng tham, sự ích kỷ để có thể dung chứa những điều tốt đẹp.

 

Khi làm được điều đó thì danh vọng và tiền dù có hay không đều không còn có thể ảnh hưởng đến ta nữa. Bởi vì khi đó ta vẫn có thể có được niềm vui kể cả với những điều giản dị nhất. Chỉ khi đó ta mới có thể tìm thấy được hạnh phúc thật sự trong dòng chảy bất tận này.

 

Thu Sang 

Tìm về cội nguồn hạnh phúc đích thực của cuộc sống

 

TÌM VỀ CỘI NGUỒN HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC CỦA CUỘC SỐNG

- Ở Mỹ, nếu sức mua tăng 16% trong 30 năm qua thì tỷ lệ người tự cho là hạnh phúc giảm từ 36% xuống còn 29%; còn ở Nhật Bản, trong năm 2006, đã có hơn 30.000 người tự tử, và con số này tăng lên hàng năm, ước tính khoảng 7% mỗi năm. Ở những quốc gia này, con người phải chịu áp lực công việc, thất nghiệp, thất bại trong thị trường chứng khoán…

 

- Theo nghiên cứu xã hội học, 75% dân số ở các quốc gia phát triển và yên bình nhất thế giới như Thụy Sỹ, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan… tự nhận mình có cuộc sống hạnh phúc. Họ có đầy đủ tiền bạc, đầy đủ điều kiện vật chất, xã hội ổn định, phúc lợi xã hội tốt… đảm bảo cho cuộc sống “hạnh phúc”, nhưng khi mất đi những vật chất đó, thì họ lại không còn cảm giác hạnh phúc ấy nữa.

 

Những người dân Tây Tạng, Nepal, Ấn Độ… rất nghèo đói nhưng lại luôn lạc quan, yêu đời, vẫn luôn ngập tràn hạnh phúc…

 

Có gì khác nhau bên trong những con người ấy?

Trong cuốn sách Bàn về hạnh phúc, một cuốn sách chứa đựng lòng nhân hậu bao la và trí tuệ sáng suốt tuyệt vời, tác giả Mathieu Ricard cha sẻ:

“người có nội tâm bình yên không bị đau khổ vì thất bại, cũng không bốc đồng lúc thành công. Người đó biết sống trọn vẹn những kinh nghiệm trên với nội tâm sâu xa và trải rộng, ý thức rằng những kinh nghiệm đó sẽ trôi qua và chẳng có lý do gì để bám chấp vào đó.

Người đó không thể “choáng” khi mọi sự biến chuyển theo chiều hướng xấu đi và khi phải đương đầu với khó khăn. Người đó không bị rơi vào trạng thái trầm uất bởi hạnh phúc của anh ta được đặt trên những cơ sở vững chắc.”

 

Để có trạng thái bình yên nội tâm, phải biết diệt khổ, hiểu được những nguyên nhân khiến mình khổ, hiểu được những cảm xúc khởi lên trong tâm trí mình, mở rộng lòng nhân từ, nhìn mọi vật xung quanh với tấm lòng khoan dung, từ bi, không bám chấp…

Trí tuệ là một điều kiện quan trọng để có hạnh phúc, không có trí tuệ, không có tri thức, con người dễ bị lầm đường lạc lối, rơi vào tăm tối u mê. Tri thức không phải là việc làm chủ hàng đống thông tin và kiến thức, mà là hiểu biết chân thực về bản chất của vạn vật.

Như vậy, chỉ khi được an lạc trong nội tâm và có trí tuệ có hiểu biết, con người mới tìm được hạnh phúc đích thực.

 

Với quan điểm của một tu sĩ Phật giáo, một nhà khoa học, Mathieu Ricard cũng sẽ lý giải tại sao quan điểm của những tôn giáo như Thiên Chúa giáo, Thora Do Thái, đạo Hồi, hay những triết gia, những nhà khoa học, nhà tư tưởng hàng đầu thế giới như Platon, Descartes, Kant, Freud, Schopenhauer, André Comte-Sponville… trong việc tìm hiểu bản chất con người và hành trình tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống lại đi vào bế tắc.

 

Thôi tìm hạnh phúc bằng mọi giá ở bên ngoài mình, học cách nhìn vào bên trong nhưng tự ngắm mình ít hơn một chút, làm quen với một cách tiếp cân thế giới vừa sâu sắc, vừa vị tha hơn... với một tâm hồn phong phú bởi các nền văn hóa ảnh hưởng, với những trải nghiệm cuộc đời, những cuộc gặp gỡ với những nhà minh triết lớn, với sự hiểu biết kinh sách linh thiêng cũng như nỗi thống khổ của con người, Matthieu Ricard – một tu sĩ Phật giáo được nhiều người biết đến nhất và nổi tiếng nhất về đạo Phật tại Pháp chia sẻ với chúng ta những suy ngẫm về con đường tìm kiếm chân hạnh phúc và những phương pháp để đạt được nó.


Ðúng như điều Einstein cảm nhận, Phật giáo là một tôn giáo có thể đối thoại với khoa học, cả hai không những không đối kháng mà còn bổ khuyết cho nhau trong việc tìm hiểu khoa học hiện đại và đời sống tinh thần của từng cá nhân cũng như trong nỗ lực chế ngự thiên nhiên và kềm chế bản ngã để tìm đường thoát khổ.

 

St