Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

Thiểu dục tri túc - Cách sống hạnh phúc giữa đời thường

 

THIỂU DỤC TRI TÚC - CÁCH SỐNG HẠNH PHÚC GIỮA ĐỜI THƯỜNG

 

Mọi người phần nhiều thường đua chen, chạy theo vật chất, danh lợi không biết bao nhiêu cho vừa. Người thiếu thốn tham muốn đã đành, nhưng người dư giả, tiền bạc nhiều vô kể, thế mà vẫn còn tham muốn.

 

Ðể đối trị lòng tham, Phật khuyên chúng ta phải thực hành hạnh “Thiểu dục và Tri túc”. Trong kinh Di Giáo có nói: “Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc, bất chi túc chi nhơn, tuy xứ thiên đường diệt bất xưng ý”. Nghĩa là: Người biết đủ, dù nằm trên đất cũng vẫn thấy an lạc; trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời cũng không vừa ý. Vậy muốn có được một cuộc sống an vui, thanh thản, hạnh phúc chúng ta cần phải Thiểu dục và Tri túc.

 

Thiểu dục: Là ít muốn, Tri túc: Là biết đủ. “Thiểu dục Tri túc”, tức là ít ham muốn và biết đủ. Pháp này thuộc về lĩnh vực đạo đức, giới hạnh, được Đức Phật chứng nghiệm sau thời gian sáu năm khổ hạnh rừng già, bốn mươi chín ngày đêm thiền định,

Ngài thấy được con đường trung đạo là từ bỏ hai trạng thái khổ hạnh thái quá và sung sướng thái quá. Hai cực đoan này không đem lại lợi ích.

Vì vậy, Đức Phật không khuyên hàng đệ tử của mình phải tu khổ hạnh, ép xác hay sống một cách sung sướng, trụy lạc. Con đường đó không đưa đến sự giác ngộ.

 

Thiểu dục là đối với những cái chưa có, vì nhu cầu bản thân, vì lợi ích cho mình và nhiều người mà mong cho có, thì chúng ta nên thọ dụng. Không vì tham vọng nung nấu trong lòng mà mong cầu cho nhiều. Tâm càng mong cầu càng thấy mình thiếu thốn, không thiếu món này thì thiếu món kia, cảm thấy khổ sở, khó chịu.

Chớ lầm tưởng rằng một khi lòng tham muốn được thỏa mãn là hết tham muốn. Ngạn ngữ có câu: “Bể kia dễ lấp, túi tham khó đầy”, để chỉ ra rằng lòng tham con người là vô hạn, lòng ham muốn không chỉ gây hại cho con người về vật chất và tinh thần, có khi nó còn làm cho con người đánh mất cả nhân cách và lòng tự trọng của chính mình.

 

Thiểu dục Tri túc giúp chúng ta có cái nhìn bình đẳng đối với hạnh phúc. Vì hạnh phúc không phụ thuộc vào vật chất nhiều hay ít, giàu hay nghèo mà phụ thuộc vào thái độ và sự cảm nhận của chính chúng ta.

Một người nghèo nếu biết vận dụng giáo lý Thiểu dục Tri túc thì hạnh phúc hơn một người giàu không biết vận dụng giáo lý Thiểu dục Tri túc, vì người giàu vẫn thấy khổ với cái khổ không bao giờ biết đủ của họ.

 

Ngày nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy nhiều người vì lòng tham vô độ mà phạm pháp, làm đau khổ chính mình và người khác. Người đời đa số thường bị năm thứ: Tài, sắc, danh, thực, thùy chi phối, trói buộc bản thân. Một khi đã tham muốn những thứ ấy thì dễ lao theo vòng xoáy mà bị chôn vùi trong sự ham muốn của mình, bị vật chất, danh lợi sai sử.

Thực tế cho thấy, con người thường nghĩ khi nào được thỏa mãn cái họ ham muốn thì mới thấy hạnh phúc, chưa thỏa mãn thì vẫn cho là bất hạnh.

Như vậy, hạnh phúc và bất hạnh trong trường hợp này nằm trong chữ ham muốn: Ham muốn nhiều thì chúng ta sẽ đau khổ nhiều, ham muốn ít thì sẽ đau khổ ít, không ham muốn thì sẽ không có đau khổ. Bớt một phần ham muốn là thêm một phần thảnh thơi, an vui.

 

Hạnh phúc chính yếu của chúng ta là tâm an lạc. Tâm an lạc này phát xuất từ tâm không mong cầu, không ham muốn. Thiểu dục Tri túc giúp con người đoạn trừ lòng tham, mưu sinh bất chính. Khi trong tâm bị câu thúc quá nhiều, quá mạnh bởi ham muốn, con người dễ bất chấp đạo lý thực hiện mọi mánh khóe, thủ đoạn để đạt cho bằng được cái điều ham muốn ấy.

Do đó, khi một người biết đủ, ít ham muốn thì ngay những nhu cầu, khát vọng chính đáng cũng không thể làm vẩn đục cái tâm trong sáng, lành mạnh của người ấy thì làm sao có sự tham lam hiện hữu trong cái tâm ấy được.

 

Tâm của con người như chính ngôi nhà của họ, khi đã chất đầy trong đó một thứ gì khác thì không còn chỗ để cất thêm thứ gì được nữa.

Chất đầy trong đó sự mong cầu, tham lam, âu lo thì sẽ không còn chỗ cho thanh thản, hạnh phúc. Vậy mỗi chúng ta hãy tự nhìn nhận lại xem tâm của mình đang cất giữ những gì, nếu những điều đó không tốt ta cố gắng vứt bỏ từ từ, tin rằng khi ta làm như thế thì “ngôi nhà” của ta sẽ sạch sẽ, tươi mát hơn.

 

Khi chúng ta ít muốn và biết đủ thì chắc chắn ta sẽ có được sự an lạc, thảnh thơi, vô lo, tự tại giữa cuộc sống tất bật đầy những cám dỗ của ngũ dục. Đó là những gì mà Đức Phật muốn gửi gắm và mong muốn chúng ta đạt được qua lời dạy về pháp Thiểu dục Tri túc.

 

Liên Diệu

 

Đời người là chuyến hành trình, gặp được ai đều là duyên phận

 

ĐỜI NGƯỜI LÀ CHUYẾN HÀNH TRÌNH, GẶP ĐƯỢC AI ĐỀU LÀ DUYÊN PHẬN

Không ai là vô duyên vô cớ xuất hiện trong cuộc đời của bạn cả, sự xuất hiện của mỗi người đều có nguyên do, đều đáng được cảm kích.

- Ta không thể sống một mình. Cuộc sống là sự tương duyên nương tựa lẫn nhau. Mấy mươi năm sống trong đời, không biết bao nhiêu người đã đi ngang đời ta. Có lẽ ta sẽ không nhớ hết những người từng gặp từ khi mở mắt chào đời đến bây giờ.

Nhưng gặp gỡ trong một khoảnh khắc nào đó hay một thời gian dài thì cũng không ngoài chữ duyên. Dù duyên ấy là thiện duyên hay ác duyên, nhưng có gặp nhau thì đã có duyên rồi.

Người với người gặp gỡ là dựa vào một chút duyên phận, sống được với nhau, là dựa vào một chút thành ý…

- Trong cuộc sống, bất kể tình thân, tình bạn hay là tình yêu, có thể tự nhiên mà gắn bó mới thực sự là tình cảm tốt đẹp nhất.

Chuyện trên đời có những lúc biến hóa khôn lường, nhưng có thể bảo trì một nội tâm bao dung, thấu hiểu và trân quý thì có thể khiến các mối quan hệ được bền chặt lâu dài. Bởi dù sao, những người có thể gặp được trong kiếp này đều là duyên phận hy hữu.

- Mọi người thường nói, duyên do trời định, phận do nhân định. Đúng là như thế, gặp nhau là ý trời, bên nhau là ý người. Dựa vào đôi bên gìn giữ, phát triển thì duyên một lần gặp gỡ mới thành mối phận trăm năm. Nhưng duyên phận dài ngắn thế nào lại chẳng ai hay, ai biết? Một năm, năm năm, cả đời? Hết thảy chúng ta đều không đoán được.

- Hôm nay có duyên phận không có nghĩa là vĩnh viễn sẽ có duyên phận. Phật bàn về nhân duyên rằng, cái gì cũng chỉ có thời điểm, duyên phận cũng vậy. Bởi thế mà phải nắm thật chắc, giữ thật chặt, hết lòng quý trọng. Đó là món quà trời ban, chỉ trong một giây, một khắc, một đoạn.

- Kiếp này có thể tương ngộ chính là điều hạnh phúc nhất. Bất kể là gặp thoáng qua, là bạn bè, đồng sự, hay hẹn ước trăm năm đều vô cùng trân quý.

- Sinh mệnh vốn là một hành trình phiêu bạt, gặp được ai cũng đều không hề ngẫu nhiên, vậy nên ta cần trân trọng tất cả những người gọi ta là bằng hữu, cảm ơn những người mà kiếp này ta tương ngộ.

ST

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2025

Hồi tưởng về Giáo sư Trần Đức Thảo


 HỒI TƯỞNG VỀ GIÁO SƯ TRẦN ĐỨC THẢO

Sau ngày giải phóng Thủ đô 10-10-1954 về lại Hà Nội tôi mới có dịp gặp lại thầy Thảo. Thầy được Nhà nước cử làm Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa (Giám đốc là GS. Đặng Thai Mai).

 

Tại Đại giảng đường thực sự (Grand mphithéâtre – nay tôi cũng thấy be bé thôi) ở số 19 Lê Thánh Tông, lúc đó mang tên “Trường Đại học Việt Nam” (tên Université Indochinoise bị xóa), thầy Thảo lên “phát động thi đua”. Tôi nhớ ông không dùng một từ ngữ chính trị nào như chúng tôi quen nghe – quen hiểu mà nói lại một kiểu sâu xa nào đó về “ý nghĩa triết học của phong trào thi đua yêu nước”. Thú thật, bọn sinh viên chúng tôi nghe “như vịt nghe sấm” vì chúng tôi chỉ quen những câu khẩu hiệu đại loại như:

Thi đua là yêu nước

Yêu nước phải thi đua…

 

Theo thời khóa biểu, mỗi tuần thầy Thảo lên lớp giảng cho bọn tôi 1-2 lần về Lịch sử Tư tưởng. Lúc nào cũng Đại giảng đường hoặc giảng đường A. Không bao giờ ông mang một quyển sách nào, thậm chí một tờ giấy nào tạm gọi là Giáo án. Cứ như thế một mình với thân xác và trí tuệ – tâm hồn, Ông ung dung đi vào lớp. Chả cần hỏi sinh viên xem lần trước mình đã giảng đến khúc đoạn nào. Đút tay vào túi quần, Ông cứ đi và nói (gần như không ngồi ghế bao giờ) như nói cho một mình ông nghe. Cũng không bao giờ ông hỏi sinh viên có hiểu ông nói cái gì không và có điều gì cần hỏi lại ông không.

 

Không, tuyệt đối không! Chúng tôi lũ cán bộ phụ trách sinh viên phải phân công cho các anh Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Đình Chú… ghi lại các lời Thầy giảng rồi chỉnh đốn lại tý chút và đem quay ronéo làm tài liệu học tập cho toàn trường. Cuối cùng chúng tôi cũng có một tập gọi là Giáo trình Lịch sử tư tưởng in ronéo.

Trần Quốc Vượng

Thứ Năm, 16 tháng 10, 2025

Mục đích cuộc sống

 

MỤC ĐÍCH CUỘC SỐNG

Mỗi hành động của con người luôn luôn nhằm tới một mục đích nào đó. Tuổi trẻ thường có nhiều mong muốn, ước mơ đẹp. Có ước mơ nhanh đến rồi lại vụt biến đi như bong bóng xà phòng, hoặc như thần tiên trong các câu chuyện cổ tích. Có ước mơ theo đuối, thôi thúc suốt cả cuộc đời.

 

Khi ta lớn lên xác định mục đích có thiết thực hơn: Lo kiếm sống hàng ngày, lo làm ăn để giàu có, để thành đạt theo mục đích sự nghiệp. Lúc khó khăn bần hàn thì miếng cơm manh áo, có việc làm, được đi học... là điều phải vất vả lo toan cả một đời người. Đến khi đầy đủ, khá giả, thành đạt, ta lại mong muốn được cao hơn nữa. Cứ như vậy cuộc sống là một chuỗi các mục đích, có vui, có buồn, luôn thay đổi và liên tục phát triển.

 

Nếu sống không có mục đích, nước chảy bèo trôi, buông thả theo con tạo xoay vần; hoặc sống theo kiểu mũ ni che tai, an phận; khi ở trong lòng không còn điều gì để mong muốn, thương yêu, không còn điều gì là thiêng liêng để hướng tới nữa. Sống như thế khác gì đã chết, khác gì đời sống của những sinh vật bình thường.

Song mục đích cuộc sống của con người cũng có nhiều loại khác nhau. Có mục đích của cả cộng đồng mọi người, có mục đích của cá nhân mỗi người, có mục đích về vật chất, có mục đích về tinh thần, có mục đích chính đáng tốt đẹp, có mục đích sai trái, tội lỗi, thấp hèn...

 

Bạn nghĩ gì về những mục đích vượt quá sức mình, những mục đích ước mơ hư vô, không tưởng? Bạn nghĩ gì về những đích chỉ hưởng lạc thú vật chất, tiền bạc và quyền lực mà trống rỗng về đời sống tinh thần? Những mục đích xấu xa, tham lam, ích kỷ, hại người?

Từ việc xác định các mục đích ấy sẽ dẫn dắt con người đi tới số phận của mình, hạnh phúc hay bất hạnh. Cách đây trên hai ngàn năm, nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thế giới cổ đại A Ritstôt đã khái quát: "Hạnh phúc đến khắp mọi nơi khi xác định được mục đích đúng và có phương pháp đúng".

 

Vậy thế nào là mục đích đúng? Tôi cho rằng mục đích đúng là mục đích chính đáng, phù hợp với quy luật vận động phát triển của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Đứng trước một công việc, nhân dân ta thường nói các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa - tức là hợp với quy luật của trời đất, của lòng người. Một trận đánh cũng vậy, biết địch, biết ta, biết cả thiên thời địa lợi thì nhất định chiến thắng. Trái với điều đó sẽ thất bại, sẽ bị quy luật trừng phạt, sẽ bị con người trừng phạt.

Mục đích đúng và chính đáng trước hết, như một lẽ tự nhiên của mỗi người là mục đích kiếm sống. Con người phải làm việc quan hệ với nhau ăn nên làm ra.

 

Sống trong cơ chế thị trường, làm gì cũng cần phải có tiền, ai cũng mong muốn làm giàu, nhưng mặt trái của đồng tiền đang là điều đáng lo và bức xúc Đồng tiền bản thân nó chỉ là vật trung tính để trao đổi, tốt hay xấu là do người làm ra nó và sử dụng nó.

Sếch-xpia đã từng ví đồng tiền là con đi Của nhân loại. C.Mác nói đồng tiền tư bản vấy đầy máu và nước. mắt.

Ở nước ta thời Nguyễn Du đã từng phê phán cái xã hội vì tiền: "Trong tay sẵn có đồng tiền dầu lòng đôi trắng thay đen khó gì".

 

Đến gần đây, trong thơ xuân 1998,

Tố Hữu đã phê phán nghiêm khắc những tiêu cực và đã đặt ra những câu hỏi bất bình:

Sao lắm kẻ gian tà dấu mặt,

Vàng đầy kho ngạo nghễ xa hoa

 

Đến xuân 1999, Tố Hữu lại lên tiếng:

Sao lắm kẻ xưng danh đồng chí,

Nhạt lương tâm, lạnh ngắt đồng tiền.

Gian tà dám bán rao đạo lý

Tham nhũng leo thang bậc cửa quyền".

 

Rõ ràng là từ xưa đến nay, dù sống trong các chế độ xã hội khác nhau, thời nào con người cũng lên án lối sống chỉ vì tiền. Nhất định không để cho đồng tiền tác oai tác quái, gây ra bất hạnh cho con người.

Thật không có điều gì hấp dẫn và tôn vinh con người nhanh chóng như tiền tài và danh vọng, ngược lại cũng không có điều gì làm thoái hóa biến chất con người nhanh chóng như danh vọng và tiền tài.

Một điều thật giản dị nhưng không phải ai cũng hiểu được là: là đâu vàng bạc chiếm mất tâm hồn, thì ở đó lòng tin, hy vọng và tình thương, sẽ bị tống ra khỏi của".- (ngạn ngữ Đan Mạch).

 

Từ xa xưa con người đã tin nghiệm rằng, mỗi vì sao trên trời là tương ứng với bản mệnh của mỗi người đang sống trên trái đất này? Ngày nay con người không chỉ ngắm nhìn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các vì sao mà còn nuôi dưỡng khát vọng vươn tới các vì sao đó, để bầu trời sao càng tiếp tục tỏa sáng mãi mãi, lung linh sắc mầu huyền diệu của trí tuệ tâm hồn con người.

St

 

Muốn giỏi giao tiếp, hãy tập chơi với trẻ con

  

MUỐN GIỎI GIAO TIẾP, HÃY TẬP CHƠI VỚI TRẺ CON

Trẻ con nguy hiểm nhất ở chỗ: chúng không nói dối và cũng không xã giao.

Chỉ nghĩ mình giỏi giao tiếp thôi thì thật dễ dàng, vì bạn có thể nghĩ việc nói chuyện với người lạ và có thể làm tất cả mọi người bật cười là chuyện nhỏ.

Nhưng bạn sẽ phải giật mình nghĩ lại sau khi làm bài kiểm tra nghiêm khắc sau: đơn giản hãy chơi với một đứa trẻ mà bạn không quen. Trên lí thuyết thì điều này quá dễ dàng.

Chúng ta đều từng là trẻ con, hiểu biết rộng hơn chúng bao nhiêu, lại còn – theo chúng thì – nắm trong tay quyền lực để mua một đống bánh quy và chui lên giường ngủ bất cứ khi nào muốn.

 

Nhưng trên thực tế, rất khó để thoải mái khi ở cạnh những đứa trẻ chúng ta chưa từng quen biết. Hãy tưởng tượng ta được mời đến nhà sếp ăn cơm và bị bỏ lại một mình ở căn bếp với bé trai mười tuổi đang ủ rũ; hay được giới thiệu vào một phòng chơi với hai cô bé năm tuổi nhút nhát là con của một người bạn. Chúng ta sẽ nhanh chóng bối rối, chẳng biết phải nói gì và cảm thấy ngốc ngếch.

 

Nguyên nhân nằm ở chỗ, trẻ em không có khả năng xã giao giống như người lớn với nhau. Chúng không lịch sự hỏi ta “dạo này thế nào”, và không có hứng thú gì với cuộc sống hay những điều quan trọng với ta. Chúng không quan tâm đến thời sự hay thời tiết và cũng chưa ý thức được về bản thân và những mối bận tâm của mình.

Nếu hỏi chúng tại sao lại thích đồ chơi này, thích bộ phim kia thì chúng thường sẽ đần mặt ra, và chỉ đơn giản trả lời là “con thích thì con chơi thôi”.

Cùng với sự đáng yêu, trẻ em là hiện thân của rào cản cực lớn với tính lưu động xã hội. Đó là lí do tại sao trẻ em chính là bài kiểm tra về nghệ thuật thu hút và lòng tử tế của người lớn.

 

Qua những trang văn hóa lịch sử, chúng ta có một vài tấm gương về những người vĩ nhân có khả năng vui đùa cùng trẻ con. Montaigne không thể tìm ra điều gì nổi bật trong cuộc sống của Socrates (cha đẻ của triết học phương Tây) hơn là năng khiếu đặc biệt của ông trong việc chơi đùa với trẻ con.

Những năm sau này, Socrates dành rất nhiều thời gian chơi đùa và cõng bọn trẻ trên lưng. Montaigne cũng nói thêm rằng “Điều này hoàn toàn phù hợp với con người ông. Triết học cho rằng tất cả những hành động đó đã giúp hình thành và tôn vinh một nhà thông thái.”

 

Henri IV, vị vua người Pháp trị vì từ năm 1589 đến 1610, được nhớ tới với tư cách là một quốc vương nhân từ nhất, cũng luôn rất dịu dàng với trẻ em. Trong một dịp đặc biệt, đại sứ Tây Ban Nha đến thăm quốc vương và thấy người đang giả làm ngựa cho đứa con cưỡi. Thay vì dừng trò chơi ngay lập tức, Henri để ngài đại sứ chờ một lúc, ám chỉ rằng thỉnh thoảng cũng hợp lý khi trì hoãn sự ưu tiên dành cho người lớn.

 

Điều chạm đến lòng người trong những câu chuyện trên, là người lớn không cố gắng thể hiện quyền năng của mình trước mặt con trẻ. Socrates không chọn truyền tải những bài giảng về siêu hình học, Henri IV cũng không bình thản trên ngai vàng và tranh luận cách cai trị một vương quốc.

Họ đặt đức hạnh và uy thế của mình sang một bên để sống với bản chất dễ bị tổn thương, điều cần làm khi tình bạn bị nguy hại. Họ dám để bản thân mình bị công kích bởi những người có thể coi họ như kẻ “ngốc nghếch” và “chẳng ra sao” và tự ngầm hiểu rằng tình bạn chỉ có thể xuất hiện khi những tâm hồn đồng điệu gặp nhau, mỏng manh, chân thật nhất và không chút giả tạo.

 

Hơn nữa, hai người đàn ông xuất chúng này còn biết cách tìm ra điểm chung với những người hoàn toàn xa lạ trong nhiều lĩnh vực. Những người hiểu biết rộng về thế giới luôn tìm kiếm cách thống nhất chứ không chia rẽ mọi người, và luôn có khả năng tạo ra niềm vui thích và hứng khởi trong một đứa trẻ chỉ mới vài tuổi.  

Những người thạo đời biết rằng chúng ta (thậm chí từ trong hình hài phôi thai) đã chứa tất cả năng lực của loài người trong mình, từ đó họ có thể đồng cảm với quan điểm và nhu cầu của người khác.

 

Vì vậy dù trở nên tự tin thì những người đó vẫn biết cách kết nối với phiên bản nhút nhát của mình. Thậm chí khi đã ổn định về tài chính, họ vẫn đồng cảm được với mối lo của những người mang gánh nặng cơm áo gạo tiền. Hay khi sự nghiệp không tiến triển tốt, họ vẫn không hề cay cú mà có thể tìm ra một phần khao khát thịnh vượng làm động lực cho bản thân, và dùng nó để kết nối chân tình với người có sự nghiệp thật sự phát đạt.

 

Cách ứng xử với trẻ em của những người xuất chúng là những hành động mà chúng ta nên học hỏi để cư xử với bất cứ ai, không kể tuổi tác, khi bạn muốn gắn kết hơn với họ. đó là lúc những con người vĩ đại nhất cũng cúi đầu cong lưng làm ngựa cho trẻ con cưỡi lên, nên nó có sức ảnh hưởng đặc biệt.

Lẽ thường, ta luôn thầm tha thiết được gần gũi với những người xung quanh, nhưng nỗi sợ đánh mất tự trọng đã khiến ta trở nên lạnh lùng xa cách. Tình bạn bắt đầu và nỗi cô đơn chấm dứt khi chúng ngừng cố gắng gây ấn tượng, có can đảm để bước ra ngoài vùng an toàn và thỉnh thoảng dám cư xử ngốc nghếch một chút.

 

Theo The book of life