Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2025

Hai người du khách và chiếc ví

 

HAI NGƯỜI DU KHÁCH VÀ CHIẾC VÍ

Hai người khách bộ hành đang đi cùng nhau trên một con đường thì một người bỗng nhặt được một chiếc ví đầy cứng.

“Tôi may mắn quá!” anh ta nói. “Tôi đã nhặt được một chiếc ví. Nó nặng như thế này thì chắc chứa đầy tiền đây.”

“Đừng nói là ‘tôi đã nhặt được như thế,’” người bạn đồng hành với anh ta nói. “Phải nói cho đúng là “chúng ta đã nhặt được và chúng ta may mắn quá”. Bạn đồng hành với nhau thì phải chia nhau cả cái may lẫn cái rủi trên đường mới phải.

“Ố không, không đâu, người kia giận dữ nói. “Tôi đã nhặt được thì nó là của tôi.”

Ngay khi đó họ nghe thấy tiếng quát to “Đứng lại, đồ ăn cắp!”. Họ nhìn quanh và thấy một đám người cầm gậy gộc đang đi về phía họ.

Người nhặt được chiếc ví đâm ra hoảng sợ.

“Chúng ta chết mất nếu họ tìm được trong người chúng ta chiếc ví của họ,”

“Ồ không, không” người kia đáp, “Hồi nãy ông không chịu bảo là ‘chúng ta’, thì bây giờ ông cũng đừng có nói là ‘chúng ta' đấy nhé. Phải giữ lấy lời. Phải nói là ‘Tôi sẽ chết mất.”

Truyện ngụ ngôn của Aesop

Aesop là một nhà văn Hy Lạp. Ông sinh ra là một người nô lệ, giữa thế kỷ 6 trước Công nguyên thuộc giai đoạn Hy Lạp cổ đại.

Ông là tác giả của rất nhiều câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng trên thế giới, được truyền miệng và được sưu tập qua nhiều thế kỷ và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau theo truyền thống kể chuyện.

 

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2025

Bói tình yêu bằng thơ Kiều

 

BÓI TÌNH YÊU BẰNG THƠ KIỀU

Bói tình yêu = thơ Kiều, trúng 99.9 %

Bạn đang yêu, bạn chưa yêu, bạn sẽ yêu... dù cho thế nào đi chăng nữa thì chắc chắn bạn sẽ tò mò một lần rằng "người ấy" liệu có thích mình không, tương lai sẽ ra sao...

Cách bói: lấy tên mình cộng với tên người đó (không tính họ và tên đệm) ứng theo bảng thứ tự ở dưới.

1 - A, J, S

2 - B, K, T

3 - C, L, U

4 - D, M, V

5 - E, N, W

6 - F, O, X

7 - G, P, Y

8 - H, Q, Z

9 - I, R

Ví dụ : Trang Hùng

Trang: T+R+A+N+G = 2+ 9+1+5+7 = 24

Hùng: H+U+N+G = 8+3+5+7 = 23

24 + 23= 47

47 ---> 4 + 7 = 11 ---> 1 + 1 = 2 tra khổ thơ 4 câu của số 2 theo bảng dưới đây:

__________________________________

1)

Người đâu gặp gỡ làm chi

Trăm năm biết có duyên gì hay không

Tình ta đằm thắm mặn nồng

Bên ngoài đằm thắm, bên trong lạnh lùng

2)

Tưởng rằng hạnh phúc trăm năm

Cùng chung chăn gối trăm năm trọn đời

Nào ngờ kèo gẫy cột rơi

Anh đi lấy vợ tôi đi lấy chồng

3)

Đổi tình bạn sang tình yêu

Như chàng Kim Trọng gặp Kiều

Ái ân bạn đời khóc cùng xuân

Tình yêu bạn sẽ sang xuân một lần

4)

Tưởng rằng nguyệt nọ hoa kia

Ngờ ra nào có tiếc gì hỡi ai

Chữ tri gắn bó một hai

Ngày nay chờ đợi ngày mai sẽ thành

5)

Người yêu chẳng có thuỷ chung

Nay đào mai mận, hết hồng lại hoa

Xin đừng oán trách ong tơ

Hãy nên lựa chọn kẻo mơ lại nhiều

6)

Dù còn là mối tình đầu

Lần sau sẽ rõ lần sau sẽ thành

Dở hay là mối hữu tình

Để ai để mối tỏ tình cho ai

7)

Không ham địa vị giàu sang

Chẳng ước mà được chẳng cần mà nên

Tình yêu cần trách đảo điên

Khen ai khéo nết thành đôi vợ chồng

8)

Chẳng duyên chẳng nợ mà cần

Gặp nhau hạnh phúc gối chăn cả đời

Thật là tốt số đẹp đôi

Thôi đừng kén chọn cho hoài tuổi xuân

9)

Khen ai khéo gặp tỏ tình

Cho thuyền quên bến cho anh quên nàng

Cho tình dang dở dở dang

Duyên tơ vỡ mối cho đàn đứt dây.

ST

Chu Văn An – Người thầy mẫu mực của muôn đời

 

CHU VĂN AN – NGƯỜI THẦY MẪU MỰC CỦA MUÔN ĐỜI

Cụ Chu Văn An - lọt mắt xanh vua Trần Minh Tông (1300-1314-1357), được nhà vua giao việc kèm cặp, dạy dỗ các hoàng tử Trần Vượng, Trần Hạo, sau trở thành các vua Trần Hiến Tông (1319-1329-1341), Trần Dụ Tông (1336-1341-1369) thì đấy đều đã ở vào thời suy Trần rồi.

Vậy là “yếu tố (nhân tố) thời đại” tức “hoàn cảnh lịch sử” đã không giúp được gì tích cực cho/ vào việc hình thành rồi thành hình nhân cách con người và sự nghiệp cuộc đời đều rất lớn lao, đặc sắc - của Chu Văn An cả!

Cho dù thân phụ của Chu Văn An mang tên là Chu Thiện hay Chu Hưng (không có chữ “Văn” làm tên đệm, do đó, “Chu Văn An” - cái tên được quen gọi của Cụ, do bắt nguồn từ tước hiệu là “Văn Trinh” mà thành ra có chữ “Văn” làm tên đệm - chứ tên của Cụ, chỉ là hai chữ “Chu An” (giống cấu trúc tên cha mà thôi) thì đây cũng đều và chắc chắn là người phương Bắc, đến từ phương Bắc.

Và là người phương Bắc, đến từ phương Bắc không phải với nhân thân và vị thế là quan chức, quý tộc hay đại gia mà chỉ là một thường dân (thậm chí như lời kể dân gian ở địa phương nói chỉ là một “chú khách bán thuốc ế”) thôi.

Trường hợp thân phụ Chu Văn An tìm đến làng Quang Liệt (Thanh Liệt), “tự do hôn nhân” mà cưới mẹ của Chu Văn An (là bà Lê Thị Chiêm) làm vợ - không có hôn lễ cầu kỳ, sang trọng nào - cũng vừa cho thấy rõ “thành phần gia đình” của cả cha mẹ, lẫn chính Chu Văn An - đều là bình dân (thứ dân).

Do đó mà yếu tố (nhân tố) và vấn đề dòng dõi, ở đây, cũng không giúp được gì cho thành sự hiển quý và danh giá của cuộc đời cùng sự nghiệp của cụ Chu Văn An cả!

Chẳng những thế, với tư cách (tư thế) là con của một gia đình, tuy mẹ là dân gốc làng quê Quang Liệt (Thanh Liệt), nhưng cha lại là “khách trú” (chú khách), cho nên, Chu Văn An mới chỉ được quê hương coi là “dân ngụ cư, đời thứ hai” thôi. Vậy là, theo lệ làng xưa phải “sau 3 đời ngụ cư mới được thành dân chính cư” - Chu Văn An trong quan hệ với quê hương Thanh Liệt vẫn chỉ là dân ngoại tịch!

Từ lâu rồi, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận ra: có điều gì đó - “cấn cái” - giữa Chu Văn An lúc đương thời và làng quê Quang Liệt (Thanh Liệt) của mình, cho dù ngày nay sau 7 thế kỷ, quê hương đã vô cùng trọng vọng Cụ.

Chẳng hạn như: mở ngôi trường danh giá đầu tiên trong sự nghiệp làm thầy của mình, Cụ đã không (hoặc không được) chọn lấy đất làng mà lại phải “ra rìa” làng, đến thôn bấy giờ là Huỳnh Cung chỗ giáp ranh giữa hai xã Thanh Liệt và Tam Hiệp!

Chẳng hạn nữa, lúc dâng “Thất trảm sớ” mà không được nghe, Cụ đã từ quan “treo mũ ở của Huyền Vũ, ra đi (ra về)”, nhưng không phải là đi về quê hương bản quán như thời thường, mà lại đi ra tận Kiệt Đặc - Phượng Hoàng (Chí Linh - Hải Dương) để sống hết đời ở đấy!

Vậy là, làng quê Quang Liệt (Thanh Liệt), và mở rộng ra là cả huyện Long Đàm (Thanh Đàm, Thanh Trì), dù muôn vàn tươi tốt, và rất giàu truyền thống đa loại hình nhưng thực tế cũng không giúp được gì nhiều - vào lúc đương thời - cho và trong việc Chu Văn An thành vĩ nhân cả!

Vậy thì, nhân vật lịch sử kỳ vĩ Chu Văn An, thực sự đã nhờ vào đâu, dựa vào yếu tố (nhân tố) nào của lịch sử, xã hội và văn hóa lúc đương thời, để trở thành nhân vật lịch sử kiệt xuất ở thế kỷ XIV, và của cả dân tộc qua mọi thời đại?

Rõ ràng, Cụ là người đã/ biết/ và/ chỉ dựa vào chính mình!

Chu Văn An là mẫu mực của một người với/ và có/ hàng loạt chữ “Tự”: Tự học - Tự tu - Tự lập - Tự tại…

  • Về sự học, Cụ là người đã bắt đầu/ mở đầu, và luôn luôn/ suốt cả cuộc đời của một trí giả uyên thâm các tri thức, bằng tự học.

Chúng ta không tìm ra được một thông tin - tư liệu nào về người thầy và trường lớp mà cụ xưa đã theo học. Trái lại, bằng vào việc Cụ chính là tác giả bộ “Tứ thư thuyết ước”, ta thấy rằng Cụ đã tự chọn bốn cuốn “Đại học” “Trung dung”, “Luận ngữ” “Mạnh tử” - kinh điển của Nho giáo và Nho học - để làm căn cứ mà tự học, và trong khi tự học và hành, thì đã làm “bút ký tóm tắt” (“thuyết ước”) và rồi biến công trình đó thành “sách giáo khoa” cho việc dạy học của mình luôn!

- Tự tu để trở thành không chỉ là một người thầy, mà còn và chính là một bậc “Vạn thế sư biểu”, Cụ đã hoàn toàn nhờ vào sự tự tu mà biến được mình thành một mẫu mực của nghề và nghiệp dạy học, không chỉ bằng việc truyền đạt kiến thức, mà còn và chính là bằng tấm gương sáng của bản thân mình. Cụ đã có thể la hét, quát mắng các học trò của mình, thậm chí quyết liệt lên án và đòi xử lý các tham quan ô lại giữa triều đình, chính bởi vì cụ đã rất và hoàn toàn tự tin vào sự hoàn thiện, sự gương mẫu của một bản thân đã được tự tu chu đáo của mình!


  • Tự lập để dựng cơ đồ, trước tiên là bằng việc mở trường dạy học ở Huỳnh Cung, và sau cùng, cũng vẫn là bằng việc dựng điện Lưu Quang ở Phượng Hoàng để dạy học, không cần dựa dẫm, nhờ vả ai, đấy là những điển hình của việc tự lập của Chu Văn An.
  • Có được vị thế và khả năng tự lập đó, Chu Văn An mới sung sướng mà thành được một nhân vật ung dung tự tại, để được mọi người nể trọng, đúng như nhận xét của bà Hiền Từ Thái hoàng Thái hậu: “Ông ta là người không thể bắt làm tôi được. Ta làm sao sai bảo được ông ta?” (trích “Đại Việt Sử kí toàn thư” tập 2, trang 152)

Tác giả Nhà sử học Lê Văn Lan