ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG TRONG Y HỌC
Y học cổ truyền Trung Quốc luôn coi trọng học thuyết âm dương trong việc chữa bệnh. Những nguyên lý này không chỉ đơn giản là lý thuyết mà còn là cẩm nang hữu ích cho các bác sĩ và thầy thuốc.
Ứng dụng học thuyết âm dương trong y học
1. Về cấu tạo cơ thể và sinh lý
Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới v.v…
Dương: Phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, trên v.v…
- Tạng thuộc âm, do tính chất trong âm có dương nên còn phần ra phế âm, phế khí, thận âm, thận dương, can huyết, can khí, tâm huyết, tâm khí. Phụ thuộc dương như vì trong dương có âm nên có vị âm và vị hoả…
- Vật chất dinh dưỡng thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương.
2. Về quá trình phát sinh và phát triển của bệnh tật
a. Bệnh tật phát sinh ra do sự mất thăng bằng về âm lượng trong cơ thể được biểu hiện bằng thiên thắng hay thiên suy:
- Thiên thắng: dương thắng gây chứng nhiệt: sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ, ấm thắng gây chứng hán: người lạnh, tay chân lạnh, mạch trậm, ỉa lỏng nước tiểu trong v.v…
- Thiên suy: dwong hư như các trường hợp não suy, hội chứng hưng phấn thần kinh giảm, âm hư: như mất nước, điện giải, hội chứng ức chế thần kinh giảm.
b. Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bệnh còn chuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt âm dương. Bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm (dương thắng tắc âm bệnh). Thí dụ sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước. Bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương (âm thắng tắc dương bệnh). Thí dụ ỉa lỏng, nôn mửa kéo dài mất nước, điện giả làm nhiễm bệnh thần kinh, gấy sốt, co giật thậm trí gây truỵ mạch (thoát dương).
c. Sự mất thăng bằng của âm dương gây ra những chứng bệnh ở những vị trí khác nhau của cơ thể thuỳ theo vị trí đó ở phần âm hay dương.
Dương thịnh sinh ngoại nhiệt: sốt, người và tay chân nóng,vì phần dương cảu cơ thể thuộc biểu, thuộc nhiệt.
Âm thịnh sinh nội hàn: ỉa chảy, người sợ lạnh, nước tiểu trong dài vì phần âm thuộc lý thuộc hàn.
Âm hư sinh nổi nhiệt: như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họng khô, táo, nước tiểu đỏ v.v…
Dương hư sinh ngoại hàn: sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoài bị giảm sút.
3. Về chẩn đoán bệnh tật
a. Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: nhìn (vọng), nghe (văn), hỏi (vấn) sờ nắm, xem mạch (thiết) để khai thác các triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc.
b. Dựa vào 8 cương lĩnh để đánh giá vị trí nông sâu của bệnh, tính chất của bệnh, trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh tật (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt và âm dương) trong đó âm và dương là 2 cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổng cương: thường bệnh ở biểu, thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hư, hàn thuộc âm.
c. Dựa vào tứ chẩn để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương bệnh tật được quy thành các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ, kinh lạc v.v…
4. Về chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh
a. Chữa bệnh là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm lượng của cơ thể tuỳ theo tình trạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.v…
b. Về thuốc được chia làm hai loại:
- Thuốc lạnh, mát (hàn, lượng) thuộc âm để chữa bệnh nhiệt thuộc dương.
- Thuốc nóng, ấm (nhiệt, ôn) thuộc dương để chữa bệnh hàn thuộc âm.
c. Về châm cứu.
- Bệnh nhiệt dùng châm, bệnh hàn dùng cứu; bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả.
- Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) thì dùng các huyệt Du sau lưng (thuộc dương); bệnh thuộc phủ (thuộc dương) thì dùng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc: “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét