Thứ Tư, 15 tháng 1, 2025

Hiệu ứng Matthew trong kinh tế

 

HIỆU ỨNG MATTHEW TRONG KINH TẾ

Hiệu ứng Matthew: Những người giàu ngày càng giàu hơn, còn những người nghèo lại ngày càng nghèo đi. Cả thế giới đều đang phát triển theo xu hướng này.

Nhà kinh tế học người Pháp Thomas Guletty đã nghiên cứu hiệu ứng Matthew trong suốt 50 năm. Và ông đã phát hiện ra rằng trong 50 năm qua, 50% người Mỹ thuộc những người nghèo nhất đã tăng thu nhập với mức dưới 1%, trong khi 1% số người Mỹ giàu nhất đã tăng thu nhập lên tới tận 300%.

Tốc độ "tiền vào" của những người giàu có tăng khủng khiếp như tên lửa, mà người bình thường dù làm suốt 24 tiếng đồng hồ cũng khó mà đuổi kịp.

Bởi vì họ thường bị mắc kẹt trong những khoản chi phí sinh tồn của cuộc sống như: tiền phí sinh hoạt, thế chấp, vay mượn mua ô tô, chi phí đi học cho con cái, chi phí di chuyển,... Thu nhập mà họ kiếm được lại được tiêu xài liên tục theo vòng tuần hoàn vốn có của nó.

Những người giàu có kia, họ đã sớm thoát khỏi xiềng xích này từ lâu. Họ có nhiều không gian để phát triển hơn, bởi vì hiện tại họ làm chủ đồng tiền, dùng tiền để đầu tư; chứ không cần lệ thuộc vào tiền, phải suy nghĩ xem cần tiết kiệm bao nhiêu, cần chi bao nhiêu thì mới đủ sống.

Trên thực tế, hiệu ứng Matthew được áp dụng trong mọi tầng lớp xã hội. Như ở nơi làm việc, hiệu ứng Matthew còn nghiêm trọng hơn.

Trong một công ty làm về sản xuất giày da, ông chủ thông báo cuối năm nay, 5 người đạt được mức lương cao nhất công ty sẽ được thưởng nhiều hơn. Có nhiều người cảm thấy bất bình.

Vì sao họ đã có mức lương cao, lại còn được thưởng?

Bởi vì năng lực xứng với thu nhập, những người có mức lương cao là những người năng lực mạnh mẽ, không thể thay thế được.

Nếu họ không làm nữa, thì ông chủ khó mà kiếm được người tài giỏi và có sẵn kinh nghiệm, lại quen thuộc với công ty như họ; hoặc ông chủ phải bỏ một số tiền cao hơn để "đào" nhân tài từ nơi khác về. Vì lo lắng họ sẽ nghỉ việc sang nơi khác tốt hơn, nên tất nhiên ông chủ sẽ ưu tiên tăng lương cho họ trước.

Ngược lại, với những nhân viên có mức lương thấp, dù họ có nghỉ việc, ông chủ ra ngoài vẫn dễ kiếm được nhiều nhân viên khác chấp nhận mức lương tương tự và thế vào vị trí của họ.

Theo Trí Thức Trẻ

-----------

* Kết quả nghiên cứu nổi tiếng của nhà khoa học Keith Stanovich và có thể miêu tả ngắn gọn về Matthew effect (hiệu ứng Matthew), một khái niệm được nhà xã hội học Robert King Merton xây dựng vào năm 1968.

Hiệu ứng Matthew chỉ hiện tượng khi một lợi thế / thành công ban đầu kéo theo một loạt những thành công kế tiếp trong tương lai. Ở chiều ngược lại, những người không có xuất phát điểm lợi thế sẽ có xu hướng tụt lại dần phía sau, làm gia tăng khoảng cách giữa họ và nhóm có lợi thế ban đầu.

 

 

Thứ Ba, 14 tháng 1, 2025

Vôi vàng kết luận cuộc sống của bạn chẳng đi đến đâu hết

 

VÔI VÀNG KẾT LUẬN CUỘC SỐNG CỦA BẠN CHẲNG ĐI ĐẾN ĐÂU HẾT

 1. Không có người tốt và người xấu

Rất nhiều người nghĩ rằng bản thân mình hoàn hảo hơn người khác. Và điều gì xảy ra khi mọi người không có chung quan điểm với bạn là những người xấu. Chúng ta thấy điều này ở khắp mọi khía cạnh: chủng tộc, tôn giáo, các mối quan hệ, thậm chí nhiều người cho rằng tính cách của mình chính là khuôn mẫu cho hành vi tốt.

Điều chúng ta không hiểu là mọi người đang sống theo cách tốt nhất mà họ thấy phù hợp. Họ có một bộ quy tắc mà họ đã xây dựng trong quá trình trưởng thành mà họ cho là ý nghĩa với bản thân.

“Có những người hạnh phúc và khốn khổ, có người phạm sai lầm nhưng không có người tốt và người xấu.” - Sadhguru

Tất cả mọi người không tốt hay xấu. Bạn có ý tưởng của bạn; bạn có quan điểm riêng của bạn về cuộc sống; bạn có những ưu tiên của bạn, và những người khác cũng vậy.

2. Tầm quan trọng của việc biết định vị bản thân

“Sai lầm lớn nhất của con người là mọi người luôn cố gắng lấy niềm vui từ bên ngoài.” - Sadhguru

Chúng ta đều thích lời khen. Chúng khiến chúng ta cảm thấy hạnh phúc đặc biệt là khi chúng được đưa ra một cách chân thành.

Hầu hết mọi người trở thành kiểu người mà họ được người khác đánh giá. Họ trở nên nông cạn, bám vào mọi thứ mọi người nói hoặc nghĩ về họ. Họ như những con thiêu thân cố gắng sống theo mong đợi của người khác để rồi thất bại và mệt mỏi vì không được sống là chính mình.

Điểm mấu chốt là đây: phụ thuộc vào ý kiến của người khác để đánh giá bản thân dẫn đến một cuộc sống lộn xộn. Làm thế nào để thay đổi? Câu trả lời là hiểu chính mình.

3. Xác định ý nghĩa của sự tồn tại

“Nếu mục đích của cuộc sống là hoàn thành bổn phận mà chúng ta được trao cho, cuộc sống sẽ bị lu mờ bởi mục đích của bạn.” – Sadhguru.

Không có một mục đích đồng nghĩa với việc sống không có ý nghĩa. Vấn đề là làm thế nào để biết khi nào chúng ta đã tìm thấy mục đích của mình?

Hãy để cuộc sống của bạn được thúc đẩy bởi những mục đích tốt đẹp, chứ không phải tìm kiếm một mục đích; hãy để nó mở ra hành trình, việc của bạn là tận hưởng hành trình đó. Hãy để cuộc sống tự nó có ý nghĩa với bạn.

4. Đừng vội vàng kết luận

“Nhận ra sự thiếu hiểu biết của bản thân có ý nghĩa hơn nhiều so với kiến thức mà bạn học được” - Sadhguru

Một số quan niệm sai lầm đã tồn tại và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác vì mọi người chỉ muốn đi đến kết luận về mọi thứ. Chúng ta có thể học cách ở trong trạng thái trung lập: không nghiêng về phía nào, không có ý kiến…

Bạn càng đưa ra nhiều kết luận, bạn càng dễ dàng bỏ qua những chi tiết tiềm ẩn. Gạt bỏ kết luận và khám phá cuộc sống.

Theo Medium

Ảnh: Đạo sư Jaggi Vasudev (Sadhguru) sinh ra ở Myusuru, Karnataka, Ấn Độ năm 1957. Mẹ là nội trợ, cha làm bác sĩ nhãn khoa.

 

 

Tư thế ngủ tốt để có giấc ngủ ngon hơn và sức khỏe tốt hơn

 

TƯ THẾ NGỦ TỐT ĐỂ CÓ GIẤC NGỦ NGON HƠN VÀ SỨC KHỎE TỐT HƠN

Giấc ngủ chiếm phần lớn thời gian trong suốt cuộc đời của con người. Ngoài thời gian ngủ mỗi ngày, tư thế nằm ngủ cũng đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ nói chung. Vì vậy, bạn cần phải điều chỉnh tư thế ngủ tốt và phù hợp với thể trạng cá nhân.

 Ngủ nằm ngửa

 

Nằm ngửa khi ngủ có thể giúp bạn tránh nhăn da, nhưng nếu bạn bị đau lưng, thì không nên ngủ nằm ngửa vì có thể làm cho bệnh trở nên tồi tệ hơn, theo Bright Side.

Người ngáy ngủ, nếu nằm ngửa khi ngủ có thể làm trầm trọng thêm bệnh này.

Phụ nữ mang thai cũng không nên ngủ nằm ngửa.

Nhưng nằm ngửa khi ngủ giúp giữ cho đầu, cổ và cột sống ở vị trí cân bằng, giúp ngăn ngừa đau cổ.

 

Ngủ nằm sấp

Mặc dù nằm sấp khi ngủ có thể làm giảm tình trạng ngáy ngủ, nhưng gây nhiều bất lợi. Bởi vì làm xáo trộn vị trí cân bằng của cột sống, nằm sấp khi ngủ có thể dẫn đến đau lưng, cổ và vai, thậm chí có thể khiến da lão hóa nhanh hơn.

Ngủ nằm nghiêng

Ngủ nghiêng được 60% người ưa thích và là một trong những tư thế ngủ tốt cho sức khỏe. Ngủ nghiêng mang lại nhiều lợi ích, từ cải thiện sự liên kết cột sống đến giảm nguy cơ ngủ ngáy và ngưng thở khi ngủ; cải thiện sức khỏe đường ruột: giảm ợ chua, đầy hơi, táo bón; cải thiện sức khỏe não bộ; giảm đau lưng; tốt cho bà bầu.

 

Ngủ nghiêng bên nào tốt hơn?

Ngủ nghiêng bên nào tùy vào vấn đề về sức khỏe của bạn.

Ngủ nghiêng bên trái có thể giúp điều hòa ruột, khuyến khích nhu động ruột, giúp nhuận trường. Tư thế này cũng tốt cho người bị ợ chua và trào ngược dạ dày thực quản và phụ nữ mang thai, theo

 

Người mắc bệnh tim nên ngủ nghiêng bên nào?

Trong khi một số chuyên gia về giấc ngủ cho rằng ngủ nghiêng về bên trái có thể giúp máu lưu thông đến tim tốt hơn. Tiến sĩ Christopher Winter, bác sĩ giám đốc y tế của Trung tâm Y học Giấc ngủ Bệnh viện Martha Jefferson (Mỹ), cho biết, ngủ nghiêng về bên trái có khả năng làm tăng lưu lượng máu trở về tim.

 

Người bị suy tim nghiên cứu cho thấy, họ thường cảm thấy khó thở hoặc khó chịu khi ngủ nghiêng bên trái và thích ngủ nghiêng bên phải hơn.

Người bị suy tim cũng nên tránh ngủ nằm ngửa, vì nó gây áp lực lên phổi và có thể góp phần gây ra các triệu chứng ngưng thở khi ngủ.

 

Còn bạn, bạn nên ngủ tư thế nào?

Câu trả lời là tùy theo mỗi người. Thật sự rất khó để xác định tư thế ngủ tốt nhất cho mỗi người. Bạn có thể thử thay đổi tư thế ngủ mỗi tuần và ghi lại cảm giác của mình vào mỗi buổi sáng. Sau đó, hãy chọn tư thế ngủ khiến bạn cảm thấy tốt nhất về tinh thần và thể chất.

 

Theo Sleep Score lab về khoa học giấc ngủ.