KHOẢNG CÁCH GIỚI TOÀN CẦU 2026: VIỆT NAM ĐANG Ở ĐÂU TRÊN BẢN ĐỒ BÌNH ĐẲNG GIỚI?
Ngày 16/9/2026, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026. Việt Nam xếp thứ 84/145 nền kinh tế.
Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu (Global Gender Gap Report) được WEF công bố lần đầu năm 2006 và đến năm 2026 đã bước sang ấn bản thứ 20.
Khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới trên bốn lĩnh vực:
Tham gia và Cơ hội kinh tế,
Trình độ Giáo dục,
Sức khỏe và Sự sống còn,
Quyền năng Chính trị.
Chỉ số không đo mức độ phát triển tuyệt đối của một quốc gia mà đo khoảng cách tương đối giữa nữ và nam, với 100% tương ứng với đạt bình đẳng giới.
Đáng chú ý, quyền năng chính trị tiếp tục là lĩnh vực có khoảng cách giới lớn nhất,
Điều này càng đáng suy ngẫm trong bối cảnh Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về hoàn thiện pháp luật, giáo dục, việc làm, chăm sóc sức khỏe và nâng cao vị thế của phụ nữ. Vấn đề đặt ra vì thế không chỉ là mức độ đầy đủ của khuôn khổ chính sách, mà quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa chính sách thành những thay đổi thực chất về cơ hội, nguồn lực, sự tham gia và quyền ra quyết định của phụ nữ.
Sự tham gia và Cơ hội kinh tế tiếp tục là trụ cột mạnh nhất của Việt Nam. WEF cũng xác định đây là trụ cột có kết quả tốt nhất của Việt Nam.
Trình độ Giáo dục đạt điểm số rất cao, 97,1%, nhưng Việt Nam chỉ xếp 108/145 nền kinh tế do phần lớn các nền kinh tế đã tiến khá gần tới bình đẳng giới. Điều này có nghĩa là điểm tuyệt đối của Việt Nam cao nhưng không tạo lợi thế cạnh tranh lớn so với các nền kinh tế khác.
Việt Nam xếp thứ nhất về mức độ cân bằng giới trong tuổi thọ khỏe mạnh, nhưng chỉ xếp thứ 144 về tỷ số giới tính khi sinh. Điều này cho thấy mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn là một thách thức lớn đối với kết quả bình đẳng giới trong lĩnh vực sức khỏe của Việt Nam.
Quyền năng Chính trị tiếp tục là chỉ số thành phần có kết quả thấp nhất của Việt Nam, Mức cân bằng giới trong đại diện tại Quốc hội giảm xuống còn 42,9%, thấp hơn mức cao nhất Việt Nam từng đạt được là 45,7%. Tỷ lệ cân bằng giới ở cấp bộ trưởng cũng giảm, từ 12,5% vào năm 2025 xuống còn 7,7% vào năm 2026.
Chỉ số về người đứng đầu nhà nước vẫn ở mức gần bằng không, phản ánh việc phụ nữ đảm nhiệm vị trí này còn rất hạn chế.
Có thể tóm tắt kết quả cả 4 chỉ số trong năm 2026 của Việt Nam trong bảng dưới đây:
Sự tham gia và cơ hội knh tế 75,2% Mạnh nhất theo WEF; top 50 thế giới
Sức khỏe và sự sống còn 97,1% nhung chỉ xếp hạng 108, bởi tỷ số giới khi sinh (năm 2026, tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam ở mức khoảng 110 bé trai trên mỗi 100 bé gái (vượt cao hơn so với ngưỡng cân bằng tự nhiên là 104 – 106 bé trai/100 bé gái)
Có thể nói, Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu 2026 cho thấy một bức tranh đan xen về bình đẳng giới ở Việt Nam. Một mặt, Việt Nam duy trì mức tham gia lực lượng lao động tương đối cao của phụ nữ, khoảng cách giới trong giáo dục đã được thu hẹp đáng kể, đạt cân bằng giới ở nhóm lao động chuyên môn và kỹ thuật, đồng thời có tiến bộ trong sự hiện diện của phụ nữ ở nhóm nhà lập pháp, cán bộ cấp cao và quản lý.
Mặt khác, tốc độ cải thiện chung còn tương đối chậm so với xu hướng của khu vực và thế giới; khoảng cách giới trong lãnh đạo và tham gia chính trị vẫn lớn; mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục là một thách thức;
Những kết quả này cho thấy yêu cầu thúc đẩy bình đẳng giới trong giai đoạn tới cần đi xa hơn việc bảo đảm sự có mặt của phụ nữ,
Trọng tâm cũng cần chuyển từ việc hoàn thiện khuôn khổ chính sách, pháp luật sang bảo đảm các quy định đó được thực thi hiệu quả và thực sự tạo ra những thay đổi về cơ hội, vị thế và quyền lựa chọn của phụ nữ và nam giới trong đời sống.
Minh Hương - Thanh Dung


