Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

'Cơ hội vàng' Maria Montessori đã tạo ra cho chính mình

 

'CƠ HỘI VÀNG' MARIA MONTESSORI ĐÃ TẠO RA CHO CHÍNH MÌNH

 

Nhiều trẻ em nghèo không có người trông nom trong lúc cha mẹ đi làm, Maria Montessori đã tập hợp chúng lại, mở một nhà trẻ và thí điểm những phương pháp giáo dục mới của bà.

Nếu Montessori qua đời vào đầu năm 1906, khi ấy bà mới ba mươi sáu tuổi, thì tên tuổi của bà hẳn chỉ được biết đến trong một vòng tròn nhỏ thân thuộc. Đến năm 1908, tức chỉ hai năm sau, tên bà đã vang danh khắp thế giới.

 

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, bà đã thực hiện một khám phá mà toàn bộ cuộc đời trước đó của bà dường như để chuẩn bị cho khoảnh khắc ấy. Không hề quá lời khi nói rằng, cũng như Columbus, bà đã khám phá được một tân thế giới.

 

Thế giới mà Columbus khám phá là thế giới bên ngoài; còn bà Montessori khám phá một thế giới bên trong - bên trong tâm hồn của đứa trẻ. Chúng ta đừng nhầm lẫn, đây là một khám phá thực sự, khách quan không kém gì khám phá châu Mỹ của Columbus, hay định luật hấp dẫn của Newton.

Chính khám phá này mới làm nên tên tuổi của bà, chứ không phải phương pháp của bà.

 

Phương pháp của bà chỉ là hệ quả từ khám phá đó, điều mà chính bà cũng diễn giải rõ ràng. “Sẽ là một sai lầm lớn nếu cho rằng chỉ nhờ quan sát trẻ em mà chúng tôi đã hình thành nên ý tưởng mới về sự tồn tại của một bản chất tiềm ẩn bên trong đứa trẻ, và rằng trực giác đó đã dẫn đến việc xây dựng một trường học đặc biệt và một phương pháp giáo dục đặc biệt.

 

Không thể quan sát được điều mà ta chưa biết đến; và cũng không ai có khả năng, bất thình lình, chỉ bằng một linh cảm mơ hồ lại tưởng tượng ra một đứa trẻ có thể có hai bản chất (lệch lạc và bình thường), sau đó nói rằng, ‘Giờ tôi sẽ cố chứng minh điều đó bằng thực nghiệm.’ Bất cứ điều gì mới mẻ, có thể nói vậy, phải tự xuất hiện bằng chính nguồn năng lượng của nó; nó phải bùng lên và đánh thức tâm trí chúng ta qua cái mà ta gọi là cơ duyên".

 

Hiện tượng mới mẻ tự xuất hiện nhờ vào năng lượng riêng này chính xác là gì? Và cơ hội nào đã mở đường cho nó xuất hiện? Để trả lời điều này, ta phải quay ngược thời gian để tóm tắt chuỗi hoàn cảnh đầy tính tiên định đã dẫn đến sự kiện vĩ đại và bất ngờ này.

 

Vào thời điểm đó ở Rome tồn tại một khu ổ chuột có tên gọi San Lorenzo, một khu vực bẩn thỉu, nghèo đói và đầy tội phạm.

Trong khu này có nhiều tòa nhà lớn mọc lên trong thời kỳ bùng nổ xây dựng, “hoàn toàn phớt lờ các quy định vệ sinh và tình hình ngày càng tệ khi chúng bị biến thành nơi ăn chốn ở tạm thời”.

 

Các tòa nhà này sau đó bị tầng lớp nghèo nhất trong toàn thành phố chiếm dụng. Tại đây mọi loại tệ nạn nở rộ như cho thuê lại trái phép, sống chen chúc, phóng đãng pha tạp cùng các loại tội phạm khác mà không hề bị kiểm soát. Để có cái nhìn đầy đủ về điều kiện kinh khủng tại khu San Lorenzo, phải đọc chính lời kể của bà Montessori.

 

Lúc ấy, có một hiệp hội xây dựng mang tên Institutio Romano dei Beni Stabili - một tổ chức vững mạnh được hậu thuẫn bởi các ngân hàng lớn ở Italy. Hiệp hội này đã xây dựng hai khối căn hộ lớn liền kề nhau ngay trung tâm khu San Lorenzo.

 

Ý định ban đầu - nhưng chưa bao giờ được thực hiện - là cải tạo toàn bộ nhà cửa trong khu vực này. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, hơn một nghìn người nghèo trong khu đã được đưa vào ở trong các căn hộ này, theo từng gia đình, với điều kiện họ phải tuân thủ một số quy định về lối sống nghiêm chỉnh và sạch sẽ.

 

Nhưng chẳng bao lâu sau, một vấn đề mới nảy sinh. Phần lớn cha mẹ đều đi làm suốt ngày, còn các trẻ lớn thì đi học. Những đứa trẻ nhỏ hơn bị để mặc cho tự xoay xở và chúng chơi đùa khắp các cầu thang cùng hành lang, làm bẩn tường, phá cầu thang, nói chung là gây mất trật tự - “giống như bọn nhóc phá hoại ngu dốt.”

 

Sau một thời gian cân nhắc, chính quyền quyết định rằng về lâu dài, phải tập trung đám trẻ này vào một phòng và thuê người trông giữ chúng, như vậy sẽ đỡ thiệt hại về kinh tế hơn là cứ liên tục trả tiền sơn sửa những hư hỏng mà chúng gây ra.

 

Một căn phòng đã được chuẩn bị cho mục đích này. Câu hỏi tiếp theo: Ai sẽ là người được giao phó chăm sóc những đứa trẻ này? Một trong những người có trách nhiệm chợt nhớ đến một bài viết trên tạp chí của bác sĩ Montessori và quyết định rằng bà chính là người phù hợp nhất cho việc này. Người này sau đó đã tiếp cận bà.

 

Bác sĩ Montessori vui vẻ nhận lời, vì bà nhìn thấy đây là cơ hội hiện thực hóa một ước vọng ấp ủ bấy lâu - cơ hội được làm việc với những đứa trẻ bình thường. Như từng đề cập, trong nhiều năm, bà đã linh cảm rằng nếu áp dụng những phương pháp từng rất thành công trong việc dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ cho trẻ bình thường thì có thể thu được kết quả tốt.

 

Tuy nhiên, trước đây bà không có cơ hội thử nghiệm do quy định tất cả trẻ em từ sáu tuổi trở lên đều phải nhập học tại các trường công lập. Rất khó để bà can thiệp vào việc này.

Sau khi nhận trách nhiệm trông nom “đám nhóc phá hoại” này, việc tiếp theo bà làm là trang bị căn phòng được dành riêng cho bọn chúng.

 

Tuy nhiên, bà không có điều kiện để trang bị bàn ghế học sinh như trong các lớp học thông thường, vì mọi chi phí đều do một công ty xây dựng tài trợ và những khoản đó phải được kê khai như chi phí gián tiếp trong việc bảo trì chung tòa nhà.

 

Đây là lý do khiến những khoản chi tương đương với chi phí nội thất và thiết bị văn phòng mới được cho phép. Thế là bà đã cho đóng các bàn dành riêng cho trẻ nhỏ, kèm theo ghế phù hợp, thay vì dùng bàn học sinh đang phổ biến rộng rãi vào thời điểm đó.

 

Thật may mắn, hạn chế này lại trở thành một điểm thuận lợi. Bà cũng cho làm một số ghế bành nhỏ, có lẽ với lý do rằng ngay cả trong văn phòng, con người đôi khi cũng cần nghỉ ngơi. Ngoài ra, bà còn chuẩn bị một số dụng cụ khoa học chính xác, tuy không giống hệt nhưng tương tự những gì bà sử dụng tại cơ sở dành cho trẻ khiếm khuyết. Những vật dụng này “không mang dáng dấp gì của thiết bị trường học”.

 

Trích trong cuốn Bí mật tuổi thơ (Secret of Childhood) của Maria Montessori

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Phát hiện tờ 2.000 đồng rơi dưới đất, bạn có cúi người nhặt không?

 

PHÁT HIỆN TỜ 2.000 ĐỒNG RƠI DƯỚI ĐẤT, BẠN CÓ CÚI NGƯỜI NHẶT KHÔNG?

 

Nam ứng viên EQ cao đưa ra đáp án vô cùng tinh tế và thuyết phục khiến nhà tuyển dụng phải nhận anh vào làm ngay lập tức.

Lỗi Lỗi là sinh viên mới tốt nghiệp ngành quản trị kinh doanh tại một đại học khá danh tiếng. Tuần trước, Lỗi Lỗi đã tham gia vào một cuộc phỏng vấn đặc biệt đến độ anh chàng nghĩ rằng cả đời này mình cũng không thể quên được.

 

Buổi phỏng vấn hôm đó có tới 30 ứng viên cùng tham gia. Trải qua nhiều vòng sàng lọc đầy áp lực, Lỗi Lỗi đã may mắn góp mặt trong phỏng vấn cuối cùng. Phụ trách phỏng vấn là một người phụ nữ rất xinh đẹp và có khí chất đã đưa ra câu hỏi phỏng vấn sau:

 

“Nếu phát hiện có tờ 2.000 đồng rơi dưới đất, bạn có cúi người nhặt không?”.

Ứng viên đầu tiên là một người đàn ông khoảng 30 tuổi. Bằng vẻ mặt khá tươi tỉnh, anh này đáp: “Câu trả lời của tôi là không. 2.000 giờ chẳng mua được cái gì, có phải những năm 80-90 ngày trước nữa đâu. Dù có là 10.000 tôi cũng chẳng cúi người nhặt nữa”.

 

Đáp án của ứng viên này rõ ràng không hợp ý của người phỏng vấn khi cô nghe xong chỉ lắc đầu và ra hiệu cho ứng viên tiếp theo.

Ứng viên thứ 2 đưa ra đáp án có nhặt 

Ứng viên thứ 2 là một sinh viên đại học. Sau khi nghe câu hỏi của người phỏng vấn, anh chàng lại đưa ra đáp án hoàn toàn ngược lại.

 

Anh chàng này cho rằng 2.000 cũng là tiền, 10.000 chẳng qua cũng chỉ là 5 tờ 2.000 cộng lại, 100.000 thì là 20 tờ 2.000. Nhận thức được việc kiếm tiền không hề dễ dàng nên theo nam sinh này, mọi người không nên vì ngại ngùng mà không dám cúi người nhặt tờ 2.000 ấy. Với đáp án của ứng viên thứ 2, người phỏng vấn tiếp tục không nói gì song trên gương mặt đã có nụ cười.

 

Lỗi Lỗi chính là người cuối cùng trả lời phỏng vấn 

Lỗi Lỗi suy nghĩ rất nhanh và tự tin nói: “Có chứ. Tỷ phú Lý Gia Thành bất cẩn đánh rơi một đồng nhân dân tệ xuống cống nhưng ông lại bỏ ra 100 nhân dân tệ thuê người mò nó giúp mình.

Sau đó, ông đã nói: Nếu như tôi không mò lên thì coi như 1 nhân dân tệ đã biến mất khỏi vòng lưu thông. 1 giá trị tiền có thể dùng để đổi lấy 100 giá trị khác. Vậy tôi rơi 2.000 đồng, vì sao lại phải giả vờ không thấy và không nhặt nó chứ? Bị cười nhạo quan trọng đến thế hay sao?”.

 

Câu trả lời của Lỗi Lỗi đã khiến người phỏng vấn phải cười lớn. Cô cho rằng khả năng tư duy của anh chàng linh hoạt hơn những ứng viên khác nên đã quyết định tuyển anh chàng ngay lập tức.

 

Đối với nhà phỏng vấn, kinh nghiệm hay khả năng chuyên môn cũng quan trọng nhưng những yếu tố khác như EQ, khả năng xử lý tình huống cũng được nhà tuyển dụng chú trọng không kém.

An Nhiên

Lời tiên tri 1.300 năm và thời đại AI

 

LỜI TIÊN TRI 1.300 NĂM VÀ THỜI ĐẠI AI

Người xưa có câu: “Vật cực tất phản”. Một sự việc khi phát triển đến cực điểm, nếu không còn sự cân bằng, rất có thể chính đỉnh cao ấy lại trở thành nơi bắt đầu của một biến chuyển khác.

 

Năm 2026, nhân loại đang bước vào một giai đoạn đặc biệt. Trí tuệ nhân tạo không còn là câu chuyện của tương lai, cũng không còn nằm trong những bộ phim khoa học viễn tưởng. AI đã đi vào công việc, giáo dục, kinh doanh, sáng tạo, truyền thông và ngày càng ảnh hưởng sâu hơn đến cách con người tiếp nhận thông tin, suy nghĩ và đưa ra quyết định.

 

Giữa thời điểm ấy, một hình ảnh được lưu truyền trong những diễn giải về Tàng Đầu Thi của Lý Thuần Phong từ hơn 1.300 năm trước bỗng khiến nhiều người chú ý.

Đó là một thế lực kỳ lạ “không mắt, không tai, không mũi, không miệng”, nhưng lại có khả năng ảnh hưởng đến thiên hạ.

 

Nếu chỉ đọc bằng cách hiểu thông thường, đó có thể là một câu sấm rất khó giải thích. Một thứ không có ngũ quan thì làm sao nhìn thấy, nghe thấy hay tác động đến thế giới?

Nhưng đặt hình ảnh ấy vào thời đại hôm nay, người ta khó tránh khỏi liên tưởng đến trí tuệ nhân tạo.

 

AI không có đôi mắt bằng xương thịt, nhưng có thể quan sát thế giới thông qua camera và hàng tỷ hình ảnh. Nó không có đôi tai của con người, nhưng có thể tiếp nhận và phân tích âm thanh. Nó không có miệng, nhưng vẫn có thể trò chuyện, tạo giọng nói, viết văn bản và thậm chí mô phỏng cách một con người biểu đạt cảm xúc.

 

Điều đặc biệt hơn là thực thể không có ngũ quan ấy đang ngày càng bước sâu vào đời sống của những con người có đầy đủ ngũ quan.

Chúng ta hỏi AI khi cần tìm một câu trả lời. Chúng ta dựa vào thuật toán để biết nên xem gì, mua gì, đọc gì.

 

Những nền tảng số cũng âm thầm quyết định nội dung nào xuất hiện trước mắt mỗi người, từ đó tác động đến cảm xúc, sở thích và thậm chí cả cách nhìn nhận thế giới.

Càng tiện lợi, con người càng dễ quên một câu hỏi quan trọng: rốt cuộc chúng ta đang sử dụng công nghệ, hay đang dần để công nghệ dẫn dắt chính mình?

 

Sự phát triển của AI bản thân nó không đáng sợ. Công nghệ luôn là kết quả của trí tuệ con người. Từ lửa, bánh xe, máy hơi nước cho đến internet, mỗi bước tiến đều từng khiến xã hội thay đổi sâu sắc.

Nhưng khác biệt của AI nằm ở chỗ nó đang tiến gần hơn đến lĩnh vực vốn được xem là đặc quyền của con người: tư duy.

 

Khi một cỗ máy có thể viết thay chúng ta, suy luận thay chúng ta, lựa chọn thông tin thay chúng ta, thậm chí đưa ra những lời khuyên khiến chúng ta tin tưởng, sự tiện lợi ấy rất dễ biến thành sự phụ thuộc.

 

Một người lâu ngày không tự tìm đường vì đã có bản đồ điện tử sẽ dần kém khả năng định hướng. Một người luôn để thuật toán chọn nội dung sẽ ngày càng ít chủ động tìm hiểu những điều nằm ngoài sở thích của mình.

 

Cũng như vậy, nếu con người quen giao mọi suy nghĩ cho trí tuệ nhân tạo, năng lực quan sát, hoài nghi, suy xét và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình cũng có thể dần yếu đi.

Điều đáng lo nhất không phải là máy móc ngày càng giống con người.

 

Điều đáng lo là con người ngày càng sống giống máy móc.

Khi mọi thứ đều được tính bằng hiệu suất, dữ liệu và kết quả, người ta rất dễ quên rằng cuộc sống còn có những thứ không thể đo bằng con số.

 

Một người mẹ ôm con lúc đứa trẻ thất bại không phải vì đã tính toán cách an ủi tối ưu nhất. Một người dừng xe giúp người lạ giữa đường cũng không cần thuật toán báo rằng việc đó mang lại lợi ích gì. Đó là lòng trắc ẩn.

Và có lẽ chính điều ấy mới là ranh giới quan trọng nhất giữa một trí tuệ nhân tạo và một con người.

 

AI có thể học cách nói lời an ủi, nhưng bản thân nó không trải qua nỗi đau theo cách con người trải qua. Nó có thể phân tích hàng triệu câu chuyện về mất mát, nhưng không biết cảm giác đứng trước người thân trong giây phút sinh ly tử biệt.

Bởi vậy, càng bước sâu vào thời đại trí tuệ nhân tạo, con người càng không thể bỏ quên phần nhân tính của mình.

 

Nếu một ngày chúng ta để máy móc quyết định hết điều mình nên đọc, nên tin, nên nghĩ, rồi dần đánh mất khả năng phân biệt đúng sai bằng chính lương tri, thì lúc ấy thứ “không mắt, không tai, không mũi, không miệng” chưa cần thống trị thế giới. Con người đã tự trao quyền cho nó.

 

Nhìn theo cách ấy, câu chuyện hơn 1.300 năm trước không nhất thiết phải được hiểu như một lời tiên tri chính xác về AI. Điều đáng giá hơn là lời cảnh tỉnh mà người hiện đại có thể rút ra từ hình ảnh ấy.

Công nghệ càng mạnh, trách nhiệm của con người càng lớn. Trí tuệ càng phát triển, đạo đức càng phải được giữ gìn.

 

Bởi một thế giới có rất nhiều máy móc thông minh chưa chắc đã đáng sợ. Điều đáng sợ hơn là một thế giới có những con người có mắt nhưng không muốn nhìn nỗi đau của người khác, có tai nhưng không chịu nghe lời phải, có miệng nhưng chỉ dùng để làm tổn thương nhau và có trí tuệ nhưng lại không còn biết tự suy xét.

 

Có lẽ câu hỏi lớn nhất của thời đại AI không phải là máy móc rồi sẽ thông minh đến đâu. Mà là giữa một thế giới ngày càng thông minh, con người có còn giữ được lòng trắc ẩn, sự tỉnh táo và phần người trong chính mình hay không.

Bởi công nghệ có thể đưa nhân loại đi rất xa. Nhưng đi về đâu, cuối cùng vẫn phải do con người quyết định.

 

Tiểu Hoa