Thứ Năm, 11 tháng 6, 2026

Ứng dụng Học thuyết Âm Dương trong y học

 

ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG TRONG Y HỌC

Y học cổ truyền Trung Quốc luôn coi trọng học thuyết âm dương trong việc chữa bệnh. Những nguyên lý này không chỉ đơn giản là lý thuyết mà còn là cẩm nang hữu ích cho các bác sĩ và thầy thuốc.

Ứng dụng học thuyết âm dương trong y học

1. Về cấu tạo cơ thể và sinh lý

Âm: tạng, kinh âm, huyết, bụng, trong, dưới v.v…

Dương: Phủ, kinh dương, khí, lưng, ngoài, trên v.v…

- Tạng thuộc âm, do tính chất trong âm có dương nên còn phần ra phế âm, phế  khí, thận âm, thận dương, can huyết, can khí, tâm huyết, tâm khí. Phụ thuộc dương như vì trong dương có âm nên có vị âm và vị hoả…

- Vật chất dinh dưỡng thuộc âm, cơ năng hoạt động thuộc dương.

2. Về quá trình phát sinh và phát triển của bệnh tật

a. Bệnh tật phát sinh ra do sự mất thăng bằng về âm lượng trong cơ thể  được biểu hiện bằng thiên thắng hay thiên suy:

- Thiên thắng: dương thắng gây chứng nhiệt: sốt, mạch nhanh, khát nước, táo, nước tiểu đỏ, ấm thắng gây chứng hán: người lạnh, tay chân lạnh, mạch trậm, ỉa lỏng nước tiểu trong v.v…

- Thiên suy: dwong hư như các trường hợp não suy, hội chứng hưng phấn thần kinh giảm, âm hư: như mất nước, điện giải, hội chứng ức chế thần kinh giảm.

b. Trong quá trình phát triển của bệnh, tính chất của bệnh còn chuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt âm dương. Bệnh ở phần dương ảnh hưởng tới phần âm (dương thắng tắc âm bệnh). Thí dụ sốt cao kéo dài sẽ gây mất nước. Bệnh ở phần âm ảnh hưởng tới phần dương (âm thắng tắc dương bệnh). Thí dụ ỉa lỏng, nôn mửa kéo dài mất nước, điện giả làm nhiễm bệnh thần kinh, gấy sốt, co giật thậm trí gây truỵ mạch (thoát dương).

c. Sự mất thăng bằng của âm dương gây ra những chứng bệnh ở những vị trí khác nhau của cơ thể thuỳ theo vị trí đó ở phần âm hay dương.

Dương thịnh sinh ngoại nhiệt: sốt, người và tay chân nóng,vì phần dương cảu cơ thể thuộc biểu, thuộc nhiệt.

Âm thịnh sinh nội hàn: ỉa chảy, người sợ lạnh, nước  tiểu trong dài vì phần âm thuộc lý thuộc hàn.

Âm hư sinh nổi nhiệt: như mất nước, tân dịch giảm gây chứng khát nước, họng khô, táo, nước tiểu đỏ v.v…

Dương hư sinh ngoại hàn: sợ lạnh, tay chân lạnh vì phần dương khí ở ngoài bị giảm sút.

3. Về chẩn đoán bệnh tật

a. Dựa vào 4 phương pháp khám bệnh: nhìn (vọng), nghe (văn), hỏi (vấn) sờ nắm, xem mạch (thiết) để khai thác các triệu chứng thuộc hàn hay nhiệt, hư hay thực của các tạng phủ kinh lạc.

b. Dựa vào 8 cương lĩnh để đánh giá vị trí nông sâu của bệnh, tính chất của bệnh, trạng thái người bệnh và xu thế chung nhất của bệnh tật (biểu lý, hư thực, hàn nhiệt và âm dương) trong đó âm và dương là 2 cương lĩnh tổng quát nhất gọi là tổng cương: thường bệnh ở biểu, thực, nhiệt thuộc dương; bệnh ở lý, hư, hàn thuộc âm.

c. Dựa vào tứ chẩn để khai thác triệu chứng và căn cứ vào bát cương bệnh tật được quy thành các hội chứng thiên thắng hay thiên suy về âm dương của các tạng phủ, kinh lạc v.v…

4. Về chữa bệnh và các phương pháp chữa bệnh

a. Chữa bệnh là điều hoà lại sự mất thăng bằng về âm lượng của cơ thể tuỳ theo tình trạng hư thực, hàn, nhiệt của bệnh bằng các phương pháp khác nhau: thuốc, châm cứu, xoa bóp, khí công v.v…

b. Về thuốc được chia làm hai loại:

- Thuốc lạnh, mát (hàn, lượng) thuộc âm để chữa bệnh nhiệt thuộc dương.

- Thuốc nóng, ấm (nhiệt, ôn) thuộc dương để chữa bệnh hàn thuộc âm.

c. Về châm cứu.

- Bệnh nhiệt dùng châm, bệnh hàn dùng cứu; bệnh hư thì bổ, bệnh thực thì tả.

- Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) thì dùng các huyệt Du sau lưng (thuộc dương); bệnh thuộc phủ (thuộc dương) thì dùng các huyệt Mộ ở ngực, bụng (thuộc âm), theo nguyên tắc: “theo dương dẫn âm, theo âm dẫn dương”.

 

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

Tư Mã Quang phân chia con người thành bốn đẳng cấp

 

TƯ MÃ QUANG PHÂN CHIA CON NGƯỜI THÀNH BỐN ĐẲNG CẤP

 

Vậy thì Tư Mã Quang có biết được tầm quan trọng của chữ đức không? Đương nhiên ông biết, ông phân chia con người thành bốn loại người, cũng tức là bốn đẳng cấp, sự phân chia này hoàn toàn dựa trên chữ đức.

 

Cấp cao nhất là bậc thánh nhân, là người có đức có tài, nghĩa là đức cao thì tài trí cũng cao; Cấp tiếp theo là bậc hiền nhân, đức cao nhưng tài trí có phần kém hơn;

Loại thứ ba là kẻ ngu dốt, không có đức cũng không có tài, tuy rằng không có đức nhưng vì không có tài trí nên không thể làm nên việc ác nào lớn, không gây tác hại lớn đối với xã hội; Loại cuối cùng là tiểu nhân, đặc điểm của tiểu nhân là có tài nhưng không có đức.

 

Tư Mã Quang coi loại người có tài nhưng không có đức là loại người tiểu nhân thấp nhất, vì những người này gây nguy hại nhiều hơn loại người ngu dốt.

Nhà nghiên cứu Hán học người Nhật Bản Nobuyuki Kaji từng nói rằng, nền giáo dục hiện đại đã tạo ra một lô những tiểu nhân.

Nhìn chủ nghĩa sùng bái đồng tiền ngày nay, nhìn những con người tâm địa lạnh lùng, những hiện tượng đạo đức biến dị ngày nay, thì luận điểm này Nobuyuki Kaji không phải là lời nói suông để hù dọa người ta.

 

Năm xưa Tư Mã Quang viết cuốn sử thư này trên cơ sở người đã tiếp nhận nền giáo dục căn bản của nho giáo, lúc đó người ta không cần phải nói về đức vẫn có thể hiểu được, vì thế mới dùng lối viết mở đầu đã giảng về luân thường đạo lý.

 

Pháp luật không coi trọng đức tất sẽ thành pháp luật xấu

Nghĩ lại, rất nhiều lĩnh vực đều vì không đề cao chữ đức mới dẫn đến sai lệch, ví dụ pháp luật nếu rời xa đức thì sẽ không phân biệt thiện ác đúng sai, cũng có thể bị người có quyền lực tùy tiện giải thích và quy định ra pháp luật xấu.

Pháp luật vốn dĩ là biện pháp cưỡng chế để duy trì đạo đức cơ bản của nhân loại, từ đó duy trì trật tự xã hội.

 

Vậy pháp luật xấu là gì, người xưa có đức, có thể phân biệt rõ thiện ác đúng sai thì sẽ rất dễ nhận ra vấn đề. Nhưng pháp luật ngày nay đã rời xa đức, có quy định pháp luật đã biến dị thành để bảo vệ cho hành vi vô đạo đức, làm bại hoại luân thường đạo lý và hôn nhân gia đình.

 

Con người đều đã trở nên hồ đồ, rời xa đạo đức một cách không có nguyên tắc, lấy cớ tự do nhân quyền tuyệt đối để duy hộ các loại sở thích và hành vi biến dị (như hôn nhân đồng tính…). Rời xa đức thì nhân loại sẽ rơi vào đường cùng không lối thoát.

 

Xã hội hỗn loạn, nhân sinh lạc lối, chỉ có quay về với đức mới có thể tìm được gốc rễ vấn đề, không bị rơi vào giáo điều, hủ bại, một người lấy nhân nghĩa làm căn bản, khi nhìn nhận vấn đề sẽ rất sâu sắc, vì thế bậc đế vương có tố chất đức này có thể đưa ra quyết sách sáng suốt, trở thành minh quân. Do vậy, đoạn thứ hai của Trinh Quán Chính yếu bắt đầu bàn luận thế nào là minh quân.

 

Nguyệt Hòa

 

* Tư Mã Quang là vị quan thanh liêm chính trực, có đóng góp to lớn cho triều đình cũng như nền sử học Trung Hoa, ông là 1 trong 5 vị quan văn thời Nhà Tống được thờ tại Lịch đại Đế Vương miếu được nhà Minh, nhà Thanh xây dựng, trong đó thờ những vị quan văn, võ tướng được đánh giá là tài năng và tận trung nhất qua các triều đại.

 

Màu Vàng và Tím trong văn hóa truyền thống

 

MÀU VÀNG VÀ TÍM TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

 

Chúng ta đang sống trong một thế giới tràn đầy màu sắc. Mỗi dân tộc đều có những màu truyền thống yêu thích riêng. Nhưng nếu hỏi màu nào được tôn trọng nhất trong truyền thống của hầu hết các nền văn minh nhân loại, câu trả lời gần như là màu Vàng.


Từ cung điện hoàng gia, chùa chiền đến các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo, vàng luôn đại diện cho sự cao quý, thiêng liêng và ánh sáng.

Ngày nay, sức mạnh của màu vàng và tím vẫn tiếp tục được các nhà thiết kế thời trang hiện đại khai thác.

 

Ý nghĩa tâm linh của màu Vàng và Tím

Theo văn hóa cổ xưa Đông – Tây, vàng không chỉ là kim loại quý mà còn là màu của thiên giới, của ánh sáng mặt trời, của sự thuần khiết và bất diệt. Người xưa tin rằng vàng mang năng lượng cao cấp, giúp thanh lọc tâm trí, tăng cường sức sống và kết nối con người với những giá trị cao đẹp.

Màu tím đại diện cho sự cao quý, bí ẩn, may mắn và trí tuệ tâm linh. Từ Đạo giáo, Phật giáo đến hoàng gia châu Âu, tím luôn là màu của những người đứng trên đỉnh cao quyền lực và tu dưỡng.

 

Trong thời trang hiện đại, việc chọn mặc vàng hoặc tím không chỉ là thẩm mỹ, mà còn là cách bạn vô thức tiếp nhận năng lượng tích cực, sự tự tin và đẳng cấp từ bên trong.

 

St