VĂN HÓA LÀNG QUÊ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
Làng quê Việt Nam từ bao đời nay là nơi người dân cư trú, sinh sống, lao
động, sản xuất và tổ chức mọi sinh hoạt văn hóa đồng thời là nơi cố kết mối
quan hệ dòng tộc, xóm giềng. Văn hóa làng chính là hệ thống những giá trị hình
thành qua bao đời, là công cụ, phương tiện tổ chức và duy trì toàn bộ hoạt động
của cư dân.
Người dân trong làng sống nặng tình nghĩa, giúp đỡ nhau lúc tắt lửa tối
đèn. Tình làng nghĩa xóm, quan hệ láng giềng ràng buộc con người trong nếp
sống, kỷ cương của làng.
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa
ngày càng sâu rộng, nhanh chóng như hiện nay, những biến đổi trong bức tranh
văn hóa của làng quê diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Đó là sự thay đổi từ lối sống,
cách sinh hoạt, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, đến cách tư duy, nếp nghĩ, hệ
giá trị, các phong tục tập quán… Một quá trình chuyển đổi với xu hướng tiếp
biến, đan xen giữa các yếu tố cũ và mới, nông nghiệp và công nghiệp, truyền
thống và hiện đại…
Quá trình biến đổi văn hóa làng quê Việt Nam diễn ra:
Một là, biến đổi không gian làng
Làng quê Việt Nam truyền thống, nhất là các làng quê Bắc
Bộ, với đặc trưng không gian tương đối khép kín, lũy tre làng bao quanh được
xem như ranh giới giữa không gian cư trú và không gian sản xuất của làng.
Các công trình như trường học, nhà văn hóa, sân chơi, thư
viện, chợ… được xây dựng, mở mang cùng hệ thống đường sá rộng rãi khiến cho
làng quê mang dáng dấp của các đô thị. Nhìn chung, không gian cảnh quan ở các
làng quê hiện nay đã không còn khép kín như xưa mà ngày càng trở nên hiện đại
với tính mở, linh hoạt rõ rệt.
Hai là, biến đổi trong quan hệ gia đình, họ hàng, làng xã
Sợi dây gắn kết giữa các thế hệ, thành viên trong gia đình
nông thôn hiện nay đang có chiều hướng suy giảm.
Bên cạnh sự gắn kết gia đình, mối quan hệ họ hàng, làng xã
- mạng lưới liên kết đặc trưng cho lối sống cộng đồng làng quê cũng đang chứng
kiến sự suy giảm đáng kể do tác động và ảnh hưởng của những biến đổi trong đời
sống kinh tế - xã hội. Sự gắn bó, tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên, gia
đình trong họ tộc, hàng xóm láng giềng, nhất là mỗi khi có công việc quan trọng
như hiếu, hỷ… tuy vẫn được coi trọng, duy trì nhưng không còn đóng vai trò là
nhân tố thiết yếu như trước đây.
Khi đời sống vật chất không ngừng được nâng lên, sự xuất
hiện của những ngôi nhà kiên cố, “kín cổng cao tường” ngày càng phổ biến, khiến
cho hoạt động gặp gỡ, trò chuyện giữa những người hàng xóm láng giềng bị hạn
chế. Điều đó góp phần làm cho nhiều người dân, hộ gia đình vốn gần gũi, thân
tình trước kia, nay dần trở nên xa cách hơn.
Ba là, biến đổi di tích, tín ngưỡng, lễ hội và các phong tục tập quán
Các phong tục tập quán là những yếu tố vốn có tính ổn định,
bền vững, tuy nhiên cũng đang có nhiều biến đổi do tác động của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế. Nhìn chung, các phong
tục tập quán truyền thống như hiếu, hỷ, giỗ chạp… vẫn được coi trọng, tiếp nối
truyền thống, nhưng đã có sự cải biến theo hướng hiện đại, giản tiện hơn về
thời gian cũng như những nghi lễ phức tạp, rườm rà để phù hợp với nhịp sống,
lối sống công nghiệp, đô thị.
Bốn là, biến đổi trong hoạt động tiếp cận thông tin và giải trí
Đi cùng những đổi thay mạnh mẽ và sâu sắc của đời sống kinh
tế - xã hội, nhu cầu và các hoạt động, phương thức trao đổi thông tin, giải trí
của người dân ở làng quê cũng không ngừng được mở rộng, đa dạng hóa.
Hệ thống tiếp cận thông tin trong các gia đình cũng ngày
càng được mở rộng, hiện đại hóa với những phương tiện nghe nhìn hiện đại: tivi,
radio, điện thoại, máy vi tính có kết nối internet... Người tiêu dùng nông thôn
sử dụng các sản phẩm công nghệ và dịch vụ kỹ thuật số có kết nối internet đạt
trên 90% và vẫn đang có xu hướng gia tăng.
Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển làng quê
Việt Nam
Thứ nhất, Người nông dân hôm
nay không còn cảnh quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời nữa”. Người
nông dân đã biết lên sàn thương mại điện tử, khớp lệnh giao dịch bán nông sản
đi khắp cả nước, thậm chí ra nước ngoài.
Người nông dân không chỉ quanh quẩn trong lũy tre làng mà
đã đi muôn nơi để mưu sinh, để học hỏi kinh nghiệm làm ăn, buôn bán.
Tuy nhiên, thực tế cũng đã có một bộ phận người nông dân
tha hóa, sản xuất nông sản không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, biết buôn
gian, bán lận, thực dụng, chạy theo tiếng gọi của đồng tiền mà quên mất những
giá trị truyền thống tốt đẹp.
Nếu không có sự định hướng tốt, rất có thể những giá trị
văn hóa truyền thống tốt đẹp sẽ bị coi nhẹ, giá trị vật chất sẽ lên ngôi.
Thứ hai, Khoa học kỹ thuật tiên
tiến được áp dụng vào để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của hoạt động sản
xuất nông nghiệp. Nhịp sống chậm rãi, mùa vụ vốn là đặc trưng của xã hội nông
nghiệp giờ cũng trở nên nhanh chóng hơn. Trong thời buổi đổi thay này, nếu
không có bản lĩnh văn hóa để thích ứng một cách khoa học và có đạo lý với nhịp
sống mới thì dễ dẫn đến sự xung đột giữa các thế hệ, xung đột giữa các giá trị
truyền thống và các giá trị mới hình thành.
Thứ ba, về không gian làng quê. Quá trình
đô thị hóa và sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn đã và đang làm biến đổi
mạnh mẽ cảnh quan làng quê Việt Nam. Một mặt, diện mạo làng quê trở nên văn
minh hơn, hiện đại hơn với hệ thống điện, đường, trường, trạm được đầu tư cải
tạo, nâng cấp. Nhưng mặt khác, cấu trúc không gian làng quê truyền thống đang
bị thay đổi một cách tùy tiện. Nhiều di sản văn hóa ở làng quê đứng trước nguy
cơ mai một, thậm chí biến mất.
Trong giai đoạn mới, đòi hỏi chúng ta nhận thức sâu sắc
rằng gìn giữ và phát huy những giá trị quý báu của văn hóa làng quê vốn đã được
các thế hệ người Việt chọn lọc qua thăng trầm thời gian, chính là giữ hồn cốt
của người Việt, của tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam.
Xây dựng làng quê Việt Nam ổn định, dân chủ, văn minh, hiện
đại, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc.
St