Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 27 tháng 6, 2025

Di sản tinh thần của một không gian tri thức

 

DI SẢN TINH THẦN CỦA MỘT KHÔNG GIAN TRI THỨC

Với tính chất là kênh truyền thông nổi bật của thế kỷ 20, những tòa báo và nhà sách cũng là những điểm hội họp và truyền bá các tư tưởng canh tân và chủ nghĩa dân tộc.

Hàng Bông – Hàng Gai với sự dày đặc của các tòa soạn, nhà in và hiệu sách, là một nơi truyền bá các tư tưởng giải phóng dân tộc cũng như hiện đại hóa xã hội Việt Nam trong hai thập niên bản lề trước năm 1945.

Từ những tờ báo và nhà in ở khu vực Hàng Bông - Hàng Gai, các trí thức Việt Nam đã hình thành nên một hệ sinh thái tri thức quan trọng, lan tỏa nhiều giá trị văn hóa cho xã hội. 

Chỉ dài một cây số, tuyến phố có còn được ghi nhớ như một phố thứ 37 của Hà Thành: Phố Hàng Báo

Người đầu tiên biến phố Hàng Bông thành phần nối dài thịnh vượng của phố in khắc ván Hàng Gai là F. H. Schneider. Năm 1887, ông đã lập ra nhà in của mình tại số 49-51 phố Hàng Bông, trên cơ sở mua lại các thiết bị in ấn của nhà in nhà nước thuộc địa.

Đây chính là mốc sẽ quy tụ những nhà in và tòa báo trên tuyến phố Hàng Bông - Hàng Gai, làm thành một trung tâm sớm nhất của báo chí quốc ngữ Hà Nội. 

Năm 1913, Schneider xuất bản tờ Đông Dương Tạp Chí và 2 năm sau ra tờ Trung Bắc Tân Văn, đều ghi đậm dấu ấn văn bút của Nguyễn Văn Vĩnh. Chính ông đã mua lại nhà in vào năm 1918 và tờ Trung Bắc Tân Văn một năm sau đó trước khi Schneider trở về Pháp (năm 1923).

Nhà in và báo quán này chuyển về số nhà 61-63 cùng phố Hàng Bông, qua vài lần thay đổi đã trở thành nơi in hai tờ báo Trung Bắc Tân Văn và Hà Thành Ngọ Báo (thường gọi là Ngọ báo, ra số đầu ngày 2-5-1927), cũng là những tờ báo phổ thông nhất lúc bấy giờ. 

Vũ Đình Long, tác giả vở Chén thuốc độc, năm 1925 mở Tân Dân thư quán ở 93 Hàng Bông. Năm 1930, ông mở nhà in và năm 1934, xuất bản tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy, mà theo Vũ Bằng thì trong cả nước khi đó, là tờ báo duy nhất "chuyên về tiểu thuyết". 

Sự vận hành uyển chuyển của Tân Dân đã đưa nơi này từ in ấn và phát hành thông thường thành nơi cho ra đời những xuất phẩm đẹp và có nội dung cao cấp, trở thành một tiêu chuẩn để so kè với những "đế chế" báo chí khác, chẳng hạn Tự lực văn đoàn với các tờ Phong Hóa, Ngày Nay và Nhà xuất bản Đời Nay.

Số 7 Hàng Bông, nơi có tòa soạn tờ Khoa học nổi tiếng của nhà khoa học Nguyễn Xiển vào các năm 1942-1944,

Nhà in Rạng Đông (số 194) là nơi in tờ Độc Lập, cơ quan của Đảng Dân chủ Việt Nam trong Việt Minh, vào năm 1945-1946. 

Đây chính là nơi Văn Cao làm việc như một họa sĩ trình bày và gặp gỡ người bạn đời tương lai là con gái ông chủ nhà in, bà Nghiêm Thúy Băng.

Nhà in Ngô Tử Hạ (số 24) hay Phủ Doãn với dãy số lẻ đầu phố là một loạt tờ: Vịt Đực, Tin Mới, Sports jeunesse d'Indochine (Thể thao thanh niên Đông Dương, cơ quan của Tổng cục Thể dục, thể thao và thanh niên Đông Dương thời toàn quyền Decoux), và một số tờ báo sau Cách mạng tháng Tám 1945.

Với tính chất là kênh truyền thông nổi bật của thế kỷ 20, những tòa báo và nhà sách cũng là những điểm hội họp và truyền bá các tư tưởng canh tân và chủ nghĩa dân tộc. Hàng Bông – Hàng Gai với sự dày đặc của các tòa soạn, nhà in và hiệu sách, là một nơi truyền bá các tư tưởng giải phóng dân tộc cũng như hiện đại hóa xã hội Việt Nam trong hai thập niên bản lề trước năm 1945.

Nguyễn Công Hoan viết trong truyện ngắn Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báo (1934), chế giễu việc làm chủ nhiệm báo là một công việc "đeo công mắc nợ" để bám lấy cái danh hão: "Bỏ tiền ra thì xót ruột, nhưng cái lá nhãn tờ báo ngày nào cũng an ủi tôi. Ngắm cái chỗ đề tên chủ nhiệm, nó hay hay, nó thinh thích. Thôi thì cũng hả lòng; mấy ai đã đủ tư cách đứng đầu một cơ quan ngôn luận!".

Nhiều thương nhân, dân biểu hay những người viết có động cơ chính trị đã nhảy ra làm báo, trong khi các cây bút chạy qua chạy lại giữa các tờ để kiếm sống.

Cảnh tượng làm báo dẫu vậy, vẫn đem lại cho các thanh niên yêu văn chương và báo chí một thế giới hứa hẹn sự tiến bộ.

Tô Hoài đã ghi lại việc những truyện ngắn đầu tiên của ông được đăng trên tờ Hà Nội Tân Văn là nhờ nữ sĩ Hằng Phương, vợ của nhà văn Vũ Ngọc Phan, nhặt lên từ đám bản thảo đã loại.

Tô Hoài kể, những đồng nhuận bút đầu tiên là "cây gậy thần của ông bụt Vũ Ngọc Phan cho tôi" và "Thế là tôi vào nghề văn".

Từ những tờ báo và nhà in ở khu vực Hàng Bông - Hàng Gai, các trí thức Việt Nam đã hình thành nên một hệ sinh thái tri thức quan trọng, lan tỏa nhiều giá trị văn hóa cho xã hội. 

Ngày nay không còn tòa soạn hay nhà in nào trên trục phố này, cũng không có một hiệu sách nào đúng nghĩa. Hàng Bông - Hàng Gai trở thành tuyến phố của du lịch với các cửa hiệu đồ lưu niệm và khách sạn, cùng một vài nhà giữ nghề may quần áo hay cờ, trướng cho lễ lạt.

theo Tuổi trẻ cuối tuân 

 

Thứ Tư, 14 tháng 5, 2025

Văn hóa phản biện

 

VĂN HÓA PHẢN BIỆN

Nếu bạn đọc quyển Quốc gia khởi nghiệp, hẳn đều nhớ: Tại Israel, nhân viên mới của công ty được phép tranh luận với Tổng giám đốc. Một người lính cấp bậc thấp khi cần có thể không tuân theo lệnh cấp trên. Một thường dân có quyền nêu ý kiến với các cán bộ cấp cao.

Tưởng phi lý nhưng không hề phi lý. Bởi đó chính là một trong các bí quyết làm nên thành công của người Israel, khiến họ được xem là dân tộc thông minh hàng đầu: Văn hóa phản biện.

Ở Mỹ và châu Âu, giáo viên rèn luyện cho học sinh tranh luận từ cấp tiểu học. Họ đặt ra các đề tài mang tính khơi gợi như “Ma quỷ có tồn tại không?” hay “Ta nên luôn trung thực hay có thể nói dối khi cần thiết?”… rồi chia học sinh thành hai nhóm có ý kiến khác nhau.

Các nhóm sẽ trình bày lập luận, sau đó giáo viên sẽ đổi vai trò, nhóm nào từng chống lại giờ phải ủng hộ, và ngược lại. Mục đích không phải là tìm câu trả lời, mà rèn luyện cho trẻ em thấy được các mặt khác nhau của cùng một vấn đề.

Quá trình phát triển của nhân loại chứng minh không có tiến bộ vĩ đại nào xuất hiện nếu không có tư duy phản biện đồng hành. Giordano Bruno bị Giáo hội trung cổ thiêu sống vì tin vào các bằng chứng cho thấy Trái Đất hình cầu chứ không phải mặt phẳng.

Albert Einstein, bộ óc vĩ đại nhất nhân loại thế kỉ 20, cũng bị ngờ vực khi đưa ra Thuyết tương đối… Các cá nhân trên không để cho tư tưởng cũ đàn áp hoặc áp lực cộng đồng chi phối, mà kiên định tin tưởng vào kết quả từ quá trình tự vấn, trao đổi và suy nghiệm của bản thân. Nhờ bạn đồng hành vô hình mang tên PHẢN BIỆN, tri thức loài người đã tiến những bước dài.

Một dịch giả người Pháp có đặt câu hỏi: Tại sao trong trang viết của các nhà văn trẻ Việt Nam thường xuyên xuất hiện một (vài) nhân vật lớn tuổi, được miêu tả theo màu “chính diện”, người không ngừng khuyên nhủ bảo ban các nhân vật khác, cả khi được yêu cầu lẫn khi không được yêu cầu? dịch giả này cho biết khúc mắc của ông:

Khi dịch ra các ngôn ngữ khác, theo góc nhìn chung của độc giả phương Tây, những “người tốt” này được xem là kẻ hợm hĩnh dạy đời. Còn các nhân vật chỉ biết nghe lời, tuân theo chỉ dẫn của kẻ khác lại bị đánh giá thấp (!)

Có nhiều cách giải thích cho thắc mắc của dịch giả trên, nhưng sâu xa, vấn đề nằm trong sự khác biệt ở tư duy người Việt. Từ xa xưa, cha ông ta không đề cao việc tự tìm tòi phản biện.

Thậm chí, phẩm chất này bị triệt tiêu từ trứng nước: Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe. Việc im lặng không dám bày tỏ, với nam nhi được xem là khiêm tốn, với nữ nhi được xem là kín đáo nhu mì. Tâm lý né tránh tranh luận được đúc kết như cách ứng xử khôn ngoan: Một sự nhịn, chín sự lành.

Tuổi tác, vai vế, chức vụ hay kinh nghiệm đem đến tiếng nói quyết định chứ không phải quá trình trao đổi và phân tích để có được giải pháp tốt hơn. Còn trẻ mà tự tin thể hiện là không nên, bị chê “Múa rìu qua mắt thợ”. Chính vì thế, khi du học, học sinh sinh viên người Việt thường bối rối khi giảng viên từ chối trả lời trực tiếp mà đề nghị hãy tự tìm lời giải.

Từ “phản biện” (critical) theo nhận thức chung thiên về yếu tố “suy xét” trong tư duy. Nhưng trong tiếng Việt, nó lại thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực, là các ý kiến phê phán, chống đối. Vô cùng đáng tiếc, đây lại là rào cản chưa được tháo bỏ.

Thực tế cho đến hôm nay, phần đông người Việt trẻ chúng ta, trong học tập, công việc lẫn cuộc sống hằng ngày, rất ít sử dụng đến kỹ năng phân tích và phản biện, dù các bạn có thể.

Giáo dục phổ thông lẫn đại học vẫn theo hình thức áp đặt một chiều. Trừ một số trường quốc tế hay thực nghiệm, hầu hết học trò không được khuyến khích thể hiện bản thân.

Nếu chúng ta có vấn đề thắc mắc cần đào sâu hay muốn đưa ra góc nhìn riêng, việc trình bày trước lớp dễ bị đánh giá là “tinh tướng” hay “chơi nổi”, tranh luận với thầy cô bị xem là “hỗn láo”.

Trong gia đình, việc con cái “nghe lời” vẫn được khen nhiều hơn là “trao đổi” với mẹ cha. Dần dần, chúng ta trở nên thụ động, mong muốn được dẫn dắt hơn là tự tìm đường, thích dựa dẫm hơn là tự trải nghiệm.

Chúng ta vui vẻ trong cộng đồng những người giống như mình, chúng ta khó chịu khi chứng kiến ai đó hành động khác biệt.


Chủ Nhật, 11 tháng 5, 2025

Quyền lực mềm: tầm quan trọng của Văn Hóa từ cá nhân đến quốc gia

 

QUYỀN LỰC MỀM: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VĂN HÓA TỪ CÁ NHÂN ĐẾN QUỐC GIA

Văn hóa, với vai trò quyền lực mềm, có sức mạnh kết nối, truyền cảm hứng và định hình hành vi mà không cần cưỡng chế. Từ trật tự trong gia đình, sự đoàn kết của quốc gia, đến ảnh hưởng trên trường quốc tế, văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Quan trọng hơn, văn hóa bắt nguồn từ từng cá nhân, mỗi người bồi đắp văn hóa cá nhân sẽ góp phần xây dựng một xã hội văn minh và thịnh vượng.

 

Văn Hóa là quyền lực mềm

Theo Joseph Nye, quyền lực mềm là khả năng khiến người khác tự nguyện thay đổi hành vi thông qua sự hấp dẫn của văn hóa, giá trị, và tư tưởng. Văn hóa, với tư cách quyền lực mềm, không chỉ tồn tại ở cấp độ quốc gia qua các ngành công nghiệp sáng tạo hay ngoại giao, mà còn bắt nguồn từ từng cá nhân, từ cách họ sống, ứng xử, đến những giá trị họ lan tỏa.

Sự kết hợp giữa văn hóa cá nhân và văn hóa tập thể tạo nên sức mạnh vô hình, khiến người khác yêu thích, ngưỡng mộ, và tự nguyện noi theo.

 

Ví dụ, một người mẹ dạy con về lòng trung thực không chỉ xây dựng gia đình hòa thuận mà còn góp phần tạo nên xã hội văn minh. Ở cấp độ quốc gia, Nhật Bản với chiến lược “Cool Japan” hay Hàn Quốc với “Hallyu” đã chứng minh văn hóa có thể thúc đẩy kinh tế và nâng cao vị thế toàn cầu.

Tất cả bắt đầu từ những cá nhân, từ nghệ sĩ sáng tạo đến người dân bình thường sống với trách nhiệm và đạo đức.

 

Văn hóa Cá Nhân: hạt giống của quyền lực mềm

Văn hóa cá nhân là tập hợp các giá trị, hành vi, và thói quen mà mỗi người xây dựng, bao gồm sự trung thực, lòng tôn trọng, tinh thần học hỏi, và khả năng đồng cảm.

Một người có văn hóa cá nhân tốt trở thành hình mẫu, truyền cảm hứng mà không cần áp lực. Ví dụ, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, dù khuyết tật, đã vượt khó để trở thành nhà giáo truyền cảm hứng, khuyến khích hàng ngàn người nỗ lực vươn lên.

 

Trong gia đình, văn hóa cá nhân của mỗi thành viên là nền tảng cho sự gắn kết và hạnh phúc. Cha mẹ sống với sự tôn trọng và trách nhiệm sẽ tạo môi trường gia đình hài hòa.

Ở Việt Nam, Tết Nguyên Đán là dịp để cha mẹ dạy con về lòng biết ơn tổ tiên, củng cố mối quan hệ gia đình. Tương tự, ở Nhật Bản, khái niệm “gaman” (kiên nhẫn) được truyền từ cha mẹ sang con qua những hành động như tự dọn dẹp bàn học, tạo nên thế hệ trẻ kỷ luật và trách nhiệm.

 

Khi mỗi cá nhân bồi đắp văn hóa cá nhân, xã hội trở nên văn minh hơn. Những hành động như nhường ghế trên xe buýt, tham gia dọn rác khu phố, hay giữ lời hứa đều là biểu hiện của văn hóa cá nhân tích cực.

Ở Việt Nam, phong trào “Nhặt rác vì môi trường” do các bạn trẻ khởi xướng đã thu hút hàng ngàn người, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

 

Giải pháp bồi đắp Văn Hóa Cá Nhân

Để văn hóa cá nhân trở thành động lực phát triển, mỗi người cần:

·       Rèn luyện đạo đức: Sống trung thực, giữ lời hứa, và tôn trọng người khác.

·       Trau dồi tri thức: Học hỏi về văn hóa truyền thống và kiến thức hiện đại qua sách, khóa học, hoặc giao lưu.

·       Thực hành đồng cảm: Lắng nghe và hỗ trợ người khác, như tham gia các hoạt động cộng đồng hoặc chia sẻ kinh nghiệm.

·       Lan tỏa giá trị: Dùng hành động để truyền cảm hứng, như một giáo viên khơi dậy tình yêu học tập ở học sinh.

·       Sử dụng công nghệ Ý Thức: Tránh lan truyền thông tin sai lệch trên mạng xã hội, thay vào đó chia sẻ thông điệp tích cực.

 

 Văn Hóa Quốc Gia: quyền lực mềm trên trường Quốc Tế

Việt Nam sở hữu kho tàng văn hóa với 40.000 di tích và 60 danh hiệu UNESCO. Trong gia đình, Tết Nguyên Đán và lễ Vu Lan giáo dục con cái về lòng biết ơn và đoàn kết.

 

Ở cấp quốc gia, các di sản như Tràng An hay Hội An thu hút hàng triệu du khách, thúc đẩy du lịch. Ninh Bình đã chuyển dịch kinh tế sang du lịch nhờ Tràng An, với 45% lao động làm việc trong ngành này (2023). Quốc tế, Việt Nam quảng bá văn hóa qua các sự kiện như Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-Triều (2019) tại Hà Nội. Tuy nhiên, ngành công nghiệp văn hóa chỉ đóng góp 3-4% GDP, cho thấy cần chiến lược dài hạn hơn.

Việt Nam giàu di sản nhưng thiếu đầu tư và thương hiệu văn hóa toàn cầu.

 

Văn hóa là quyền lực mềm mạnh mẽ, bắt nguồn từ từng cá nhân và lan tỏa đến gia đình, xã hội, quốc gia, và thế giới. Mỗi người bồi đắp văn hóa cá nhân – qua đạo đức, tri thức, và đồng cảm – sẽ tạo nên gia đình hạnh phúc, xã hội văn minh, và quốc gia đáng ngưỡng mộ.

 

Mỹ Mỹ biên tập