Thứ Năm, 4 tháng 6, 2026

Sống thuận theo vận mệnh thì đời người mới được bình an thong dong tự tại

 

SỐNG THUẬN THEO VẬN MỆNH THÌ ĐỜI NGƯỜI MỚI ĐƯỢC BÌNH AN THONG DONG TỰ TẠI

 

Con người sống trên đời, ai cũng đều mong muốn có một cuộc sống đầy đủ, khỏe mạnh, giàu sang phú quý và thông thuận.

Nhưng có không ít người vì cầu những điều này không được mà rơi vào thống khổ, oán trách trời đất. Đó là bởi vì họ không biết được rằng “trong mệnh chỉ có một thước thì khó cầu được một trượng”, biết sống thuận theo vận mệnh thì đời người mới được thong dong tự tại, tâm người mới được bình an.

 

Vận mệnh, Trong mệnh có một thước, khó cầu được một trượng

Có không ít người đi chùa cầu vận mệnh thông thuận, địa vị cao, cầu công danh sự nghiệp, hôn nhân, con cái được như ý mình. Nhưng những điều này có phải cầu mà được không? Bởi vì người đi chùa chính là đã bước vào ngưỡng cửa của tôn giáo rồi, nên chúng ta hãy thử xem tôn giáo tín ngưỡng thời xưa nói những gì…

 

Tiền bạc của cải

 

Chúng ta vẫn thường nghe, Phật gia giảng rằng tiền bạc của cải là vật ngoài thân, khi sinh không mang theo đến, khi chết không mang theo đi. Người xưa quan niệm rằng chỉ cần có cái ăn, có cái mặc là đủ rồi. Một khi có ăn có mặc rồi mà vẫn thấy thiếu thì đó là lòng tham.

 

Cho nên, con người cần biết đủ, có cái ăn khi đói là được rồi, không cầu ăn ngon, người ta mặc sang, mình mặc đủ ấm, vậy là đủ rồi. Bên Phật gia giảng rằng, hết thảy phú quý nhiều hay ít đều là từ “Đức” của người ta mà sinh ra, cưỡng cầu cũng không được và than thân trách phận lại càng là sai lầm.

 

Địa vị

Giá trị của con người không phải được đánh giá dựa vào địa vị cao hay thấp. Một người chỉ cần đặt tâm làm việc phù hợp với Thiên lý, không làm việc ác thì cho dù là việc gì cũng đều là việc cao quý. Người làm quan chức to đến mấy hay thường dân áo vải đều là không có phân chia cao thấp.

Phật gia giảng, Thần Phật chỉ xét đến cái tâm con người. Cho nên, điều quan trọng nhất là tâm tính của một người như thế nào.

 

Hôn nhân

Hôn nhân đều là nhờ nhân duyên mà thành. Một người gặp gỡ và thành thân với một người, đều là có nguyên do. Người xưa tin vào Thần Phật, tin vào sự an bài sắp đặt của Thần Phật nên rất coi trọng hôn nhân.

 

Cha mẹ

Người ta ví rằng, cha mẹ là người lập ra tài khoản tiết kiệm và trao cho con cái mà không cần thu hồi phí tổn. Dù cho cha mẹ không “thu hồi phí tổn”, không đòi hỏi nhưng con cái phải ghi nhớ công ơn và trả gấp bội.

 

Công ơn sinh dưỡng của cha mẹ, thậm chí đến tận khi cha mẹ rời xa, con cái cũng chưa trả hết được nợ. Hiếu thuận với cha mẹ là phù hợp với đạo lý, còn trái lại tất sẽ bị trừng phạt.

Nếu chưa làm tròn chữ Hiếu thì hãy làm tròn, đừng đợi đến khi cha mẹ ốm đau bệnh tật mới đi cầu khẩn, đừng đợi đến khi người đã đi rồi mới mâm cao cỗ đầy, nhang khói nghi ngút.

 

Con cái

Phật gia giảng: Con cái đến với cha mẹ là do ân và nợ. Con cái đến với cha mẹ ở kiếp này có thể để trả nợ kiếp trước, đòi nợ kiếp trước, trả ơn kiếp trước hoặc để cha mẹ trả ơn kiếp trước. Hết thảy sinh mệnh đều không vô duyên vô cớ mà gặp lại nhau, huống chi là sinh sống cùng nhau trong một gia đình?

 

Cho nên, đừng quá hy vọng, cũng đừng quá cưỡng cầu vào con cái. Bởi vì xét cho cùng, sinh mệnh của mỗi người là riêng biệt, ai cũng phải tự chịu về tương lai của sinh mệnh của mình, người khác khó quản được kể cả cuộc đời của cha mẹ, vợ chồng và con cái.

 

Bạn bè

Trên hành trình của đường đời, dù ít hay nhiều mỗi người đều sẽ gặp gỡ những người bạn thân hay sơ. Một khi bạn đã muốn rời đi thì không thể cưỡng cầu ở lại. Ở bên nhau hàng ngày chưa hẳn đã là bạn tốt, chỉ cần khi có việc cần giúp đỡ, những người bạn đều đến bên nhau thì là đáng trân quý nhất rồi.

 

Vận mệnh

Cổ ngữ có câu: “Mệnh lý nhất xích, nan cầu nhất trượng”, tức là trong vận mệnh chỉ có một thước thì khó cầu được một trượng. Câu nói này rất có đạo lý, đã nói hết ra những gì một người cần ghi nhớ.

 

Không cần phải cả đời tranh đấu ngược xuôi vô vị, bởi vì ông Trời đã sớm vì bạn mà an bài tốt hết thảy rồi.

Trong đời nên có gì thì sẽ có thứ ấy, nên như thế nào thì sẽ là như thế ấy rồi. Nếu chỉ cưỡng cầu thì thật khó để có được, nhưng nếu chúng ta bắt tay vào làm việc thiện nhiều hơn thì có thể tích được đại đức và có được phúc báo, cải biến được tương lai.

Một khi hiểu được đạo lý này, thì con người sẽ hiểu được “thuận theo tự nhiên” và đó mới là cách sống thông minh nhất, trí tuệ nhất và thoải mái nhất!

 

Đời người nên học được cách buông bỏ, xem nhẹ công danh, vật chất, tự hài lòng vui vẻ với vận mệnh của mình. Một khi làm được điều ấy thì những người xung quanh cũng đều “tâm bình khí hòa”, cuộc đời sẽ thản đãng và tự tại hơn.

 

An Hòa

 

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

Dưỡng sinh theo cố BS. Nguyễn Khắc Viện

 

DƯỠNG SINH THEO CỐ BS. NGUYỄN KHẮC VIỆN

 

Phương pháp dưỡng sinh của cố BS. Nguyễn Khắc Viện đã được nhiều người biết đến, chủ yếu là nằm trong cách thở. Để có một sức khỏe tốt, ngoài tập thở theo phương pháp Nguyễn Khắc Viện, cần có thói quen sinh hoạt thế nào để sức khỏe tốt?

Bà Nguyễn Thị Nhất, vợ cố BS. Nguyễn Khắc Viện chia sẻ với bạn đọc một vài điều về nếp sống và cách tập thở của ông bà.

 

Từ sức khỏe không tốt

Trong quá trình học tập và làm việc tại Paris, BS. Nguyễn Khắc Viện bị lao phổi nặng, phải nằm viện 10 năm, lên bàn mổ 7 lần, dung tích thở rất thấp, chỉ còn 1 lít. Đây là dung tích của một người rất yếu.

Nhiều người nghĩ BS. Nguyễn Khắc Viện không còn sức khỏe để làm việc. Thế nhưng sau đó, khi về nước, ông vẫn công tác bình thường, vừa làm việc trong nước, viết sách, viết báo, ông còn đi công tác ra nước ngoài nhiều lần.

 

BS. Nguyễn Khắc Viện vượt qua được tình trạng thiếu thở ấy là nhờ phương pháp tập thở từ thuyết khí công của Yoga Ấn Độ.

Bà Nguyễn Thị Nhất cho biết, để rèn luyện sức khỏe, cố BS. Nguyễn Khắc Viện cũng như bà thường xuyên tập thở. Trước khi đi ngủ và sáng dậy hai ông bà luôn tập thở và làm những động tác thể dục đơn giản, sau đó bắt đầu làm việc.

Nếu lúc nào thấy mệt mỏi (sau một tiếng đồng hồ) là ngưng việc để ngồi thiền và tập thở.

 

Trong sinh hoạt, cả hai không lạm dụng chất kích thích, không rượu trà thuốc lá, sống hòa nhã, điềm đạm. Bây giờ, ở tuổi 85, bà Nguyễn Thị Nhất vẫn nhanh nhẹn, vui tươi, mạnh khỏe. Bà thường xuyên đọc báo, sử dụng internet, điều hành Trung tâm nghiên cứu tâm lý và Tâm bệnh trẻ em do BS. Nguyễn Khắc Viện sáng lập từ năm 1989.

 

Phương pháp thở Nguyễn Khắc Viện

Tại sao việc tập thở lại quan trọng như vậy? Bởi vì thở đúng sẽ đưa được lượng ôxy hữu ích vào phổi càng nhiều càng tốt và tống ra được càng nhiều càng tốt khí CO2, giảm bớt được khối không khí độc trong đáy phổi.

Làm được điều đó khiến người tập tăng đáng kể việc chuyển hóa máu đen thành máu đỏ và tăng cường ôxy, nguồn sống cho con người.

 

Cố BS. Nguyễn Khắc Viện và vợ thường áp dụng trình tự tập thở này một cách rất nhẹ nhàng và nhiều người cũng đã áp dụng theo:

- Ngồi trên ghế, tay thả lỏng, không nhúc nhích hai vai. Nghĩ mình đang cầm một bát cháo nóng, thổi nhè nhẹ qua miệng như làm cho cháo nguội dần, thổi rất chậm, thót bụng để thổi ra.

 

Khi bụng thót hết cỡ, ngừng thổi, cho bụng phình lại nhẹ nhàng để thở vào. Bụng phình lên hết, ngưng một tý rồi thở ra, cứ làm 4-5 phút như vậy rồi nghỉ.

- Động tác thót bụng, phình bụng làm quen rồi, không cần cho không khí qua miệng nữa. Sau đó chỉ cho qua mũi, ra vào đều qua mũi.

 

Tập thở như vậy có thể trong các tư thế: nằm ngửa (hai chân gấp), nằm sấp, nằm nghiêng một bên, bò 4 chân, quỳ gấp lưng, đứng thõng tay phía trước... Có thể cả lúc đang đi ngoài đường hoặc ngồi trên xe đạp, xe máy thấy căng thẳng là thở ra hít vào vài lượt.

 

Động tác thở thực hiện với một hệ thống cơ bắp gồm:

- Chủ yếu là cơ hoành nằm ngang giữa ngực và bụng, thành một cái vòm mặt trên tiếp giáp tim phổi, mặt dưới giáp với gan và khoang bụng, trong đó có các bộ phận tiêu hóa, dạ dày, ruột và các nội tạng khác.

- Lúc cơ hoành hạ xuống, lồng ngực ở dưới nở ra, đồng thời các cơ gắn với các xương sườn kéo sườn lên; lồng ngực nở ra theo hai chiều: Chiều đứng và chiều ngang.

 

- Phần dưới của lồng ngực, tức là hai chỏm vú trở xuống nở ra nhiều nhất vì đây gồm những bộ phận mềm; cơ hoành là đáy lồng ngực, và hai cánh sườn phía trước là sụn. Phần trên của lồng ngực cũng nở ra, nhưng ít hơn vì đây là phần cứng, gồm các xương sườn kéo từ cột sống đến xương ức.

 

- Lúc cơ hoành hạ xuống, các nội tạng trong bụng bị dồn xuống, bụng phình lên; lúc ấy không khí bị hút vào vì vậy có động tác phình bụng thở vào. Lúc cơ hoành nâng lên, không khí bị đẩy ra, các nội tạng trong bụng bị kéo theo, bụng thót lại vì vậy có động tác thót bụng thở ra.

 

Sau đây xin ghi lại bài vè tập thở của BS. Nguyễn Khắc Viện giúp dễ nhớ và dễ tập:

Thót bụng thở ra.

Phình bụng thở vào.

Hai vai bất động.

Chân tay thả lỏng.

Êm, chậm, sâu, đều.

Bình thường qua mũi.

Khi gấp qua mồm.

Tập trung theo dõi.

Luồng ra luồng vào.

Đứng ngồi hay nằm.

Ở đâu cũng được.

Lúc nào cũng được.

Nhớ phải theo thật đúng, không được bỏ sót câu nào.

Trẻ sinh ra vào ban ngày giống cha, sinh vào ban đêm giống mẹ

 

TRẺ SINH RA VÀO BAN NGÀY GIỐNG CHA, SINH VÀO BAN ĐÊM GIỐNG MẸ

Bài viết này giới thiệu đến độc giả một phần nội dung trong thiên “Địa Hình” của “Hoài Nam Tử”.

 

Trời là một thuộc Dương, Đất là hai thuộc Âm, Đứa trẻ sinh ra vào ban ngày thì giống cha, sinh ra vào ban đêm thì giống mẹ. Nơi Âm khí cực thịnh thì sinh giống cái, nơi Dương khí cực thịnh thì sinh giống đực

 

Một là số Dương của Trời, chủ quản Thiên can thuộc Dương. Số lượng Thiên can là mười, lại chủ quản loài người, nên con người hoài thai mười tháng thì sinh ra. Tám nhân chín bằng bảy mươi hai; hai là số đứng đầu của số chẵn (số ngẫu), số chẵn là Âm nên không thể tự chủ, phải nương theo số lẻ (số kỳ) thuộc Dương làm chủ.

 

Số lẻ chủ quản mười hai địa chi (thập nhị thần), mười hai địa chi chủ quản tháng, tháng chủ quản loài ngựa, nên ngựa hoài thai mười hai tháng thì sinh ra.

 

Bảy nhân chín bằng sáu mươi ba; ba chủ quản Bắc Đẩu, Bắc Đẩu chủ quản loài chó, nên chó hoài thai ba tháng thì sinh ra.

 

Sáu nhân chín bằng năm mươi tư; bốn chủ quản bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, bốn mùa chủ quản loài lợn, nên lợn hoài thai bốn tháng thì sinh ra.

 

Năm nhân chín bằng bốn mươi lăm; năm chủ quản ngũ âm, ngũ âm chủ quản loài linh trưởng (vượn khỉ), nên vượn khỉ hoài thai năm tháng thì sinh ra.

 

Bốn nhân chín bằng ba mươi sáu; sáu chủ quản lục luật, lục luật chủ quản loài hươu mi (mi lộc), nên hươu mi hoài thai sáu tháng thì sinh ra.

 

Ba nhân chín bằng hai mươi bảy; bảy chủ quản tinh tú, tinh tú chủ quản loài hổ, nên hổ hoài thai bảy tháng thì sinh ra.

 

Hai nhân chín bằng mười tám; tám chủ quản bát phong, bát phong chủ quản loài côn trùng, nên côn trùng tám ngày thì nở ra ấu trùng.

 

Các loài chim và cá đều là loài đẻ trứng (noãn sinh) nhưng lại thuộc về động vật tính Dương, cho nên cá bơi dưới nước, chim bay trên không; vì vậy vào tiết Lập đông, chim yến chim sẻ bay vào biển hóa thành sò ngao (cáp).

 

Tập tính sinh hoạt của vạn vật đều không giống nhau: tằm chỉ ăn lá dâu mà không uống nước, ve sầu lại chỉ uống nước mà không ăn thức ăn, phù du thì không ăn cũng không uống; các loài có vảy vỏ như rùa, cá lại kiếm ăn vào mùa hè và ẩn nấp vào mùa đông.

 

Các loài chim và cá nuốt chửng thức ăn thì có tám lỗ (khiếu) và đẻ trứng, còn các loài thú nhai thức ăn thì có chín lỗ và đẻ con (thai sinh). Động vật bốn chân không mọc lông vũ cánh, còn động vật có sừng thì không mọc răng trên.

 

Động vật không sừng như lợn thì mỡ lỏng và phần thân trước gầy, động vật có sừng như bò thì mỡ đặc và phần thân sau gầy.

 

Đứa trẻ sinh ra vào ban ngày thì giống cha, sinh ra vào ban đêm thì giống mẹ. Nơi Âm khí cực thịnh thì sinh giống cái, nơi Dương khí cực thịnh thì sinh giống đực. Loài gấu ngủ đông ẩn nấp, chim di cư chuyển chỗ theo mùa.

 

Nước màu trắng thích hợp sinh ra ngọc, nước màu đen thích hợp sản sinh đá mài, nước màu xanh thích hợp sản sinh đá bích, nước màu đỏ thích hợp sinh ra chu sa, nước màu vàng thích hợp sản sinh vàng kim, nước trong vắt thích hợp cho loài rùa sinh tồn.

 

Như vậy, nước sông Phần đục mà thích hợp cho cây gai dầu (ma) phát triển, nước sông Tế hòa hợp thích hợp cho cây lúa mạch, nước Hoàng Hà trung hòa thích hợp cho các loài đậu, nước sông Lạc thanh thoát thích hợp cho các loài ngũ cốc, nước sông Vị nhiều sức lực thích hợp cho cây kê, nước sông Hán trọng an thích hợp cho cây tre, nước Trường Giang hậu nhân thích hợp cho lúa nước, còn con người vùng bình nguyên thông tuệ thích hợp gieo trồng ngũ cốc.