Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

Trẻ sinh ra vào ban ngày giống cha, sinh vào ban đêm giống mẹ

 

TRẺ SINH RA VÀO BAN NGÀY GIỐNG CHA, SINH VÀO BAN ĐÊM GIỐNG MẸ

Bài viết này giới thiệu đến độc giả một phần nội dung trong thiên “Địa Hình” của “Hoài Nam Tử”.

 

Trời là một thuộc Dương, Đất là hai thuộc Âm, Đứa trẻ sinh ra vào ban ngày thì giống cha, sinh ra vào ban đêm thì giống mẹ. Nơi Âm khí cực thịnh thì sinh giống cái, nơi Dương khí cực thịnh thì sinh giống đực

 

Một là số Dương của Trời, chủ quản Thiên can thuộc Dương. Số lượng Thiên can là mười, lại chủ quản loài người, nên con người hoài thai mười tháng thì sinh ra. Tám nhân chín bằng bảy mươi hai; hai là số đứng đầu của số chẵn (số ngẫu), số chẵn là Âm nên không thể tự chủ, phải nương theo số lẻ (số kỳ) thuộc Dương làm chủ.

 

Số lẻ chủ quản mười hai địa chi (thập nhị thần), mười hai địa chi chủ quản tháng, tháng chủ quản loài ngựa, nên ngựa hoài thai mười hai tháng thì sinh ra.

 

Bảy nhân chín bằng sáu mươi ba; ba chủ quản Bắc Đẩu, Bắc Đẩu chủ quản loài chó, nên chó hoài thai ba tháng thì sinh ra.

 

Sáu nhân chín bằng năm mươi tư; bốn chủ quản bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, bốn mùa chủ quản loài lợn, nên lợn hoài thai bốn tháng thì sinh ra.

 

Năm nhân chín bằng bốn mươi lăm; năm chủ quản ngũ âm, ngũ âm chủ quản loài linh trưởng (vượn khỉ), nên vượn khỉ hoài thai năm tháng thì sinh ra.

 

Bốn nhân chín bằng ba mươi sáu; sáu chủ quản lục luật, lục luật chủ quản loài hươu mi (mi lộc), nên hươu mi hoài thai sáu tháng thì sinh ra.

 

Ba nhân chín bằng hai mươi bảy; bảy chủ quản tinh tú, tinh tú chủ quản loài hổ, nên hổ hoài thai bảy tháng thì sinh ra.

 

Hai nhân chín bằng mười tám; tám chủ quản bát phong, bát phong chủ quản loài côn trùng, nên côn trùng tám ngày thì nở ra ấu trùng.

 

Các loài chim và cá đều là loài đẻ trứng (noãn sinh) nhưng lại thuộc về động vật tính Dương, cho nên cá bơi dưới nước, chim bay trên không; vì vậy vào tiết Lập đông, chim yến chim sẻ bay vào biển hóa thành sò ngao (cáp).

 

Tập tính sinh hoạt của vạn vật đều không giống nhau: tằm chỉ ăn lá dâu mà không uống nước, ve sầu lại chỉ uống nước mà không ăn thức ăn, phù du thì không ăn cũng không uống; các loài có vảy vỏ như rùa, cá lại kiếm ăn vào mùa hè và ẩn nấp vào mùa đông.

 

Các loài chim và cá nuốt chửng thức ăn thì có tám lỗ (khiếu) và đẻ trứng, còn các loài thú nhai thức ăn thì có chín lỗ và đẻ con (thai sinh). Động vật bốn chân không mọc lông vũ cánh, còn động vật có sừng thì không mọc răng trên.

 

Động vật không sừng như lợn thì mỡ lỏng và phần thân trước gầy, động vật có sừng như bò thì mỡ đặc và phần thân sau gầy.

 

Đứa trẻ sinh ra vào ban ngày thì giống cha, sinh ra vào ban đêm thì giống mẹ. Nơi Âm khí cực thịnh thì sinh giống cái, nơi Dương khí cực thịnh thì sinh giống đực. Loài gấu ngủ đông ẩn nấp, chim di cư chuyển chỗ theo mùa.

 

Nước màu trắng thích hợp sinh ra ngọc, nước màu đen thích hợp sản sinh đá mài, nước màu xanh thích hợp sản sinh đá bích, nước màu đỏ thích hợp sinh ra chu sa, nước màu vàng thích hợp sản sinh vàng kim, nước trong vắt thích hợp cho loài rùa sinh tồn.

 

Như vậy, nước sông Phần đục mà thích hợp cho cây gai dầu (ma) phát triển, nước sông Tế hòa hợp thích hợp cho cây lúa mạch, nước Hoàng Hà trung hòa thích hợp cho các loài đậu, nước sông Lạc thanh thoát thích hợp cho các loài ngũ cốc, nước sông Vị nhiều sức lực thích hợp cho cây kê, nước sông Hán trọng an thích hợp cho cây tre, nước Trường Giang hậu nhân thích hợp cho lúa nước, còn con người vùng bình nguyên thông tuệ thích hợp gieo trồng ngũ cốc.

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

Thai giáo cổ đã xuất hiện hơn 2000 năm vẫn còn giá trị

 

THAI GIÁO CỔ ĐÃ XUẤT HIỆN HƠN 2000 NĂM VẪN CÒN GIÁ TRỊ

 

Trong nhiều nền văn hóa Đông Á, người xưa tin rằng thai nhi không phải chỉ là “một khối tế bào đang lớn lên”, mà đã mang “thần thức”, khả năng cảm nhận những rung động tinh tế của thế giới qua mẹ. Do đó, mọi lời nói, cảm xúc, âm thanh, hình ảnh mà người mẹ tiếp xúc đều như “khắc vào ngọc, khắc vào xương” của đứa trẻ.

Những trước tác cổ này xem thai giáo là một phần của Lễ, là “khoá học đầu đời” của con, đồng thời là “khoá tu nội tâm” của mẹ.

Thai kỳ được chia thành 10 tháng âm lịch, mỗi tháng mẹ thực hành một phương pháp để dưỡng thân – tâm – khí.

Tháng 1: Ăn gạo thơm, thịt nai, uống nước trong: dưỡng huyết, đặt nền sức khỏe.

Tháng 2: Tránh nhạc loạn, tranh màu sặc sỡ: dưỡng tâm trí thanh khiết.

Tháng 3: Không giận dữ: định hình xương cốt.

Tháng 4: Nghe đàn cổ cầm, đọc thơ, ngắm tranh: dẫn khí chất tao nhã.

Tháng 5: Kiêng đồ sống lạnh, không nói ác: nuôi dưỡng tạng khí.

Tháng 6: Đi đứng chậm rãi, cười vừa phải: giữ khí điều hòa.

Tháng 7: Tránh tiếp xúc đàn ông lạ: giữ sự an tĩnh.

Tháng 8: Nghe kinh Nho – Phật: mở trí tuệ.

Tháng 9: Không may vá, không leo trèo: bảo toàn an thai.

Tháng 10: Giữ tâm an tĩnh, tránh lo sợ: chuẩn bị đón sinh nở.

Câu chuyện về thai giáo nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa:

Thái Nhậm chính thất của Chu Thái Vương Cổ Công Quán Phủ, mẹ của Chu Văn Vương (người sáng lập đạo đức nhà Chu, tác giả Bát quái hậu thiên).

Khi mang thai Văn Vương, Thái Nhậm:

Mắt nhìn không thấy điều ác,
Tai không nghe nhạc dâm đãng,
Miệng không nói lời kiêu ngạo,

Ngày ngày ngồi ngay ngắn, nghe tiên sinh đánh cổ cầm thất huyền (đàn cổ cầm 7 dây thời ấy). Các khúc thường nghe: Cao Sơn Lưu Thủy, Dương Xuân Bạch Tuyết, những bản mang tính chất thanh tịnh, trang nghiêm nhất.

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2025

Sự xuất hiện y học cá thể hóa ở thế kỷ 21

 

SỰ XUẤT HIỆN Y HỌC CÁ THỂ HÓA Ở THẾ KỶ 21

- Y Học Cá Thể Hóa (Personalized Medicine) hay Y Học Chính Xác (Precision Medicine)

Trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21, những tiến bộ đáng kinh ngạc của di truyền học hiện đại, đặc biệt là thành quả nghiên cứu tế bào gốc và bản đồ gen người đã giúp các nhà khoa học dự đoán được phản ứng của cơ thể nhờ phân tích bộ gen của chính người bệnh.

Xu hướng “cá thể hóa” trong y học phương Tây đang được đánh thức để hình thành mô hình mới đầy hấp dẫn: Y học chính xác.

Y học chính xác hay y học cá thể hóa (PM) được hiểu một cách đơn giản là điều trị đúng bệnh nhân với đúng thuốc, đúng liều, và vào đúng thời điểm. Nói rộng hơn, PM có thể được coi là công tác y tế chăm sóc phù hợp với các đặc điểm cá nhân, nhu cầu và sở thích của mỗi bệnh nhân trong tất cả các khâu bao gồm: phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị và theo dõi.

Thực ra, ý tưởng này có nguồn gốc từ thời cổ đại: Hipprocrates - “cha đẻ của nghề y”- đã từng kê đơn “người nào thuốc ấy”, không ai giống ai, dựa trên đặc thù bệnh mà mỗi người mắc phải.

Ngày nay, y học hiện đại cũng đang sử dụng các nguyên tắc trên nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ từ thành tựu của công nghệ gene.

PM là mô hình y tế đề xuất phương pháp chăm sóc sức khỏe tùy biến, với các quyết định (chẩn đoán, dự phòng, chăm sóc, điều trị) và các sản phẩm (thuốc, thực phẩm…) được thiết kế riêng cho từng bệnh nhân dựa trên thông tin di truyền của chính họ và đặc thù căn bệnh.

Căn cứ vào bản đồ gene của mỗi người, PM sử dụng những chẩn đoán phức tạp và tinh tế để đưa ra phác đồ điều trị chính xác, phù hợp với đặc điểm di truyền của từng người ở cấp độ phân tử.

Hiện nay, PM mới dừng lại ở mức độ phân nhỏ nhóm bệnh nhân để đưa ra phương pháp điều trị, nhưng khi bản đồ gen người hoàn toàn được giải mã, PM sẽ càng thêm hoàn thiện. Khi đó, các bác sĩ có thể thiết kế những mô hình chăm sóc sức khỏe “vừa khít” và hoàn hảo cho từng bệnh nhân.

Cơ sở khoa học của PM là các thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực công nghệ gene, cụ thể là sử dụng dữ liệu từ dự án bộ gene người và các kỹ thuật di truyền.

Năm 1990, dự án sinh học hợp tác toàn cầu có tên gọi là Human Genome Project - HGP được triển khai với sự tài trợ và quản lý của Bộ Năng lượng và Viện Sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ.

Dự án hệ gene người kết thúc cũng là lúc bắt đầu nền y học hệ gene, bản đồ gene người đang được nghiên cứu ứng dụng thường ngày trong y khoa.

Bác sĩ Collins, Viện trưởng Viện Nghiên cứu hệ gene người của Mỹ cho rằng, bản đồ gene người như quyển sách giáo khoa về y học, đưa ra vô số phương cách mới hỗ trợ điều trị và phòng bệnh cho từng cá thể.

Sự hiểu biết về hệ gene người giúp tạo nên các công cụ chẩn đoán mới, phát hiện sớm hơn các bệnh như ung thư, đái tháo đường, tăng cholesterol máu...

Các bác sĩ có thể xác định đặc điểm hệ gene của tế bào ác tính, từ đó đưa ra liệu pháp điều trị dựa trên các đột biến gene. Cách tiếp cận này hứa hẹn mang lại hiệu quả điều trị cao và hạn chế tối đa tác dụng phụ.

Với trình tự gene có được, cùng với các kỹ thuật di truyền hiện đại, hoàn toàn có thể xác định được nguy cơ mắc bệnh ngay khi cơ thể đang khỏe mạnh. Đây chính là một trong những tiền đề cho sự phát triển của PM, xu hướng phát triển tất yếu của y học.

St