Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2025

Thai giáo truyền thống tiết lộ cách sinh con xinh đẹp, thông tuệ, hiền đức

 

THAI GIÁO TRUYỀN THỐNG TIẾT LỘ CÁCH SINH CON XINH ĐẸP, THÔNG TUỆ, HIỀN ĐỨC

Phụ nữ thời xưa sau khi mang thai, đi đứng nằm ngồi đều chú trọng một chữ “chính”.

Ngày nay các sách vở giáo dục trẻ em rất phong phú đa dạng, những nội dung về thai giáo không thể nói là không chi tiết. Trong đó có rất nhiều phương thức thai giáo vừa hay trùng khớp với phương pháp thai giáo truyền thống thời xưa. Thật ra, người xưa từ hơn 3000 năm trước sớm đã có phương pháp thai giáo có tính hệ thống. Hiện nay xem ra vẫn còn có tác dụng rất lớn để chúng ta học tập theo.

 

Nguồn gốc của thai giáo truyền thống

Sự xuất hiện của từ “thai giáo” có liên quan tới bà Thái Nhậm, mẹ của Chu Văn Vương. Trong “Liệt nữ truyện” có ghi chép lại: Thái Nhâm tính cách đoan chính, làm việc theo đạo lý, đức hạnh. Trong thời kỳ mang thai, mắt không xem việc ác, tai không nghe chuyện tà dâm, miệng không nói lời ngạo mạn để thực hành thai giáo đối với đứa con trong bụng.

 Phẩm đức của bà Thái Nhậm đoan chính, thành tín, trang nghiêm lại chuyên nhất, khi bà mang thai, mắt không nhìn những điều không tốt, tai không nghe những lời xấu, miệng không nói những câu từ ngạo mạn. Thái Nhậm đã giáo dục đạo đức cho Văn Vương khi ấy còn trong bụng mẹ như thế.

 

Ngoài giáo dục để thay đổi người ta từ bản chất đạo đức, trong thai giáo cũng có nội dung giáo hóa về lễ nghi: Người phụ nữ thời xưa khi mang thai, ngủ không được nằm nghiêng, ngồi không được xiêu vẹo, đứng không chắn lối, không ăn thức ăn lại, thức ăn cắt không chính không ăn, ghế không ngay ngắn không ngồi.

Phụ nữ thời xưa sau khi mang thai, đi đứng nằm ngồi đều chú trọng một chữ “chính”, thậm chí những thực phẩm người phụ nữ ăn vào cũng yêu cầu cắt phải “chính”, để thai nhi có thể Khí chất thiên bẩm phải chính thì thiên lý mới toàn vẹn.

 

Người xưa không những hiểu rõ mà còn rất xem trọng thai giáo. Trong “Đại Đái Lễ Ký” ghi chép rằng: Người xưa tập hợp các đạo lý về thai giáo viết lên sách ngọc, cất trong kho vàng, đặt nơi tông miếu, dùng để cảnh tỉnh người đời sau. Điều này chứng tỏ người xưa cho rằng giáo hóa đạo đức và lễ nghi là cực kỳ quan trọng, nhỏ thì đối với một gia đình, lớn thì đối với sự hưng vong của một dân tộc, thậm chí là sự hưng vong của một quốc gia, đều xuất phát từ công lao dạy dỗ.

 

Các phương pháp dưỡng thai

Đương nhiên, ngoài thai giáo, trung y truyền thống còn phát triển thêm một hệ thống các phương pháp dưỡng thai, ví như trong “Bị cấp thiên vạn phương” Tôn Tư Mạc có viết đại ý rằng: Hoàn cảnh sinh sống cần đơn giản thanh tịnh, thai phụ cần giữ được tâm thái bình tĩnh, khống chế dục vọng, nghe những giai điệu âm nhạc tươi đẹp, đọc sách thánh hiền. Như thế, đứa trẻ càng thêm thông tuệ, hiền đức.

Thật ra, những đứa trẻ được sinh ra trong một gia đình xem trọng giáo dục như thế thì dù tư chất bẩm sinh chỉ ở mức bình thường, sau khi trưởng thành đa số cũng có thể trở thành quân tử có phẩm hạnh đoan chính.

 

Thế nên, nếu cảm xúc của thai phụ bị kích động, vui buồn thất thường hoặc không chú ý tiết chế dục vọng, thế thì sẽ ảnh hưởng vô cùng không tốt đến thai nhi. “Y Học Chính Truyền” có viết: “Con đang trong bụng mẹ, mẹ đói thì con đói, mẹ no thì con no, mẹ thích ăn cay thì khí chất thai nhi nóng nảy, động đến tình dục thì thai nhi cáu gắt, nếu ăn nhiều đồ chiên, hoặc thích đồ ăn vị chua cay kích thích, hoặc không tiết chế cơn thèm, hoặc vui buồn thất thường, đều sẽ khiến đứa con mắc bệnh”.

 

Ngoài việc luôn giữ một tâm trạng tốt, thai phụ cũng cần chú ý những điều cấm kỵ trong ăn uống. “Các Tri Dư Luận” có viết: “Con còn trong bụng mẹ, cùng một thân thể với mẹ, mẹ nóng thì con nóng, mẹ lạnh thì con lạnh, mẹ bệnh con sẽ bệnh, mẹ an con tất an. Trong ăn uống sinh hoạt thường ngày, người mẹ càng phải thận trọng, không thể không chú ý”.

Trong “Bị Cấp Thiên Kim Phương”, Tôn Tư Mạc đã liệt kê ra rất nhiều món ăn tối kỵ với thai phụ như không được ăn đồ lạnh, rượu, thịt dê, thịt ngựa, v.v, nếu không sẽ khiến thai nhi mắc bệnh. Hơn nữa, phụ nữ đang trong thai kỳ cũng cần chú ý việc uống thuốc. Điểm này y học hiện đại của chúng ta cũng có cách nhìn tương đồng, vậy nên rất nhiều dược phẩm trên bao bì đều viết lời nhắc nhở không sử dụng cho thai phụ.

 

Đương nhiên, hiện nay cũng có rất nhiều thai phụ dán ở nhà một số hình ảnh em bé, hy vọng có thể sinh một em bé xinh đẹp đáng yêu. Thật ra, phương pháp này căn bản xuất phát từ phương pháp thai giáo truyền thống gọi là “ngoại hướng nội cảm” (người mẹ bên ngoài biểu hiện điều gì thì thai nhi trong bụng cảm nhận điều đó).

 

Trong “Tiền thị nhi khoa” có viết: “Muốn con sinh ra thanh tú, thì sống tại thôn làng non xanh nước biếc. Muốn con thông minh anh tuấn, thì cần đầu tư cho chồng học tập thư nghệ”. Còn trong “Chư bệnh nguyên hậu luận” chỉ ra rằng: “Khi mang thai ba tháng là mới mang thai, thời kỳ này máu chưa lưu thông, hình dạng thai nhi sơ khởi chưa định hình, có thể thay đổi theo cảm xúc. Muốn con đoan chính nghiêm trang, mẹ cần thường nói lời đoan chính, làm điều chính, muốn con xinh đẹp, mẹ cần thường mang theo ngọc bội trắng, muốn con thông tuệ, mẹ cần đọc thi thư, đây gọi là ngoại hướng nội cảm”.

 

Tóm lại, phương pháp thai giáo thời xưa không hề lạc hậu chút nào, đó vẫn là một môn học vấn uyên thâm mà chúng ta cần đi sâu nghiên cứu, tìm tòi.

 

 

Có tâm vô tướng, tướng do tâm sinh; có tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt

 

CÓ TÂM VÔ TƯỚNG, TƯỚNG DO TÂM SINH; CÓ TƯỚNG VÔ TÂM, TƯỚNG TÙY TÂM DIỆT

Cái gọi là “tướng do tâm sinh”, ý nghĩa là: diện mạo của bạn, kỳ thực chính là sự phản chiếu nội tâm của bạn. Cách bạn suy nghĩ, cách bạn sống mỗi ngày, sẽ từng chút từng chút một khắc lên khuôn mặt bạn. Không phải nói phẫu thuật thẩm mỹ đâu nhé! Mà là tâm thái, thói quen, tính khí của bạn, cuối cùng đều sẽ âm thầm viết lên giữa lông mày và khóe mắt của bạn. 

 

Trong cổ thư Tứ Khố Toàn Thư có một đoạn văn rất thú vị: đại ý là: trước khi xem tướng một người, hãy nghe họ nói; trước khi nghe họ nói, phải quan sát hành vi của họ; nhưng nguồn gốc của tất cả những điều này, cuối cùng đều phải quay về nội tâm của họ. Tâm là gốc rễ, tướng mạo chỉ là kết quả. Bạn gieo hạt giống gì trong lòng, trên mặt sẽ nở ra hoa đó. 

 

Nói đến “tướng do tâm sinh”, có người sẽ nghĩ đây chỉ là “linh dược tinh thần” của tổ tiên, nhưng nếu bạn cho rằng đây chỉ là nói suông, vậy thì bạn đã thực sự bỏ lỡ kho báu trí tuệ mà người xưa để lại.

 

Bạn tưởng đây chỉ là lời nói của người xưa?

 

Khoa học hiện đại cũng đã chứng minh: tướng mạo con người thực ra chính là sự “biểu hiện” của nội tâm và trạng thái cơ thể. Từ góc độ y học cổ truyền: “Hữu chư nội, tất hình chư ngoại”.

Khí huyết, ngũ tạng, hệ thần kinh của bạn, tất cả đều liên quan mật thiết đến khuôn mặt; một người vui vẻ, khoan dung và lương thiện trong thời gian dài, tự nhiên sẽ mày mở mắt cười, khí sắc hồng hào; Ngược lại, người ngày nào cũng oán trời trách đất, tham lam ghen tị, thì sắc mặt đen sạm, ánh mắt lảng tránh, khóe miệng chảy xệ, ai nhìn cũng thấy khó chịu.

Vì vậy, “tâm” mới là chuyên gia trang điểm, bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ thực sự, nội tâm thế nào thì khuôn mặt sẽ như thế.

 

Tướng là gương, tâm là nguồn gốc. Muốn đẹp, muốn chuyển vận, trước hết hãy bắt đầu từ việc tu tâm! Bạn nói vận mệnh tốt hay xấu, thực ra là do chính bạn lựa chọn. Muốn thay đổi vận may, tăng cường nhân duyên, không cần đốt hương bái Phật, không cần phẫu thuật thẩm mỹ thay đổi khuôn mặt, chỉ cần tu sửa cái tâm này: học cách đối xử chân thành với người khác; luôn giữ thiện ý khi hành xử; có thể nhẫn nại và bao dung lỗi lầm của người khác.

Khi bạn thực sự đưa ba chữ “Chân, Thiện, Nhẫn” vào trong lòng, sống với nó, khuôn mặt bạn sẽ phát sáng, vận mệnh của bạn cũng sẽ thay đổi, ngay cả những người xung quanh cũng sẽ cảm thấy bạn ngày càng thân thiện, ngày càng đáng yêu. Lúc này nhìn vào gương, bạn cũng sẽ mỉm cười với chính mình. 

 

Thanh Ngọc

 

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2025

10 dấu hiệu chứng tỏ năng lực toán của học sinh đang mất dần đều

 

10 DẤU HIỆU CHỨNG TỎ NĂNG LỰC TOÁN CỦA HỌC SINH ĐANG MẤT DẦN ĐỀU

Thầy giáo Trần Mạnh Tùng, giáo viên Toán trường THPT Lương Thế Vinh, Hà Nội đã đưa ra những dấu hiệu học sinh chứng tỏ năng lực toán của học sinh đang yếu dần.

 

1) Mất gốc:

Đây là biểu hiện đáng lo ngại nhất. Với hình thức thi trắc nghiệm, nhiều học sinh có thói quen làm bài ngược dẫn đến học ngược: Đi từ trên ngọn xuống, thử đáp án, thay số,… để chọn đáp án đúng. Lâu dần, học sinh mất kiến thức cơ bản.

 

2) Tùy tiện:

Biểu hiện này vô cùng nguy hiểm. Do quá trình làm bài trắc nghiệm, nhiều em bằng mọi cách cố tìm đáp số, trong đó có những cách không chính xác thậm chí nhắm mắt đưa chân, làm liều, làm ẩu,… hình thành thói quen tùy tiện, vô tổ chức.

 

3) Mất phương hướng:

Có nhiều em học sinh thậm chí không có phương pháp để giải quyết các bài toán cơ bản. Đứng trước một bài toán bình thường, nhiều em lơ ngơ, không biết bắt đầu từ đâu, thậm chí không biết mình đang làm gì…

 

4) Cẩu thả:

So với các thế hệ trước, học sinh ngày nay khá là cẩu thả. Các em thường không biết trình bày tuần tự và hay mắc những lỗi rất ngớ ngẩn.

Mặc dù hiện tại hình thức thi trắc nghiệm là phổ biến nhưng trong quá trình học các em cần luyện tập khả năng trình bày, tư duy logic chứ không phải học chỉ để qua kỳ thi.

 

5) Phụ thuộc máy tính:

Phần lớn học sinh của “thời trắc nghiệm” lệ thuộc một cách “mù quáng” vào máy tính. Bấm máy vô tội vạ, như là nô lệ của máy tính. Đi học mà không có máy tính thì vật vã, lo lắng, thậm chí … không dám làm bài.

Đáng tiếc là một số giáo viên lại cổ súy cho việc sử dụng máy tính trong bài thi trắc nghiệm Toán dẫn đến sự phụ thuộc ngày càng gia tăng.

 

6) Lười học:

Có người nói rằng: Chúng ta đang thực hiện một nền giáo dục bôi đen. Không chỉ lười học, nhiều em còn lười suy nghĩ, ngại khó. Bài hơi dài 1 tí là bỏ, có khi không thèm đọc hết đề.

Ngày nay, hiện tượng học qua loa, học đối phó, thậm chí không học trở nên vô cùng phổ biến, nhất là với các em ý thức tự giác kém.

Thậm chí có học sinh còn tự hào khoe rằng: “Bài tập về nhà có đến 50 câu, em chỉ khoanh trong một nốt nhạc”.

 

7) Thiếu suy luận logic:

Mục tiêu lớn nhất của môn Toán là rèn cho học sinh tư duy logic. Mục tiêu này đang dần bị phá sản khi những lập luận có lí, sắc bén của học sinh bây giờ được coi là xa xỉ.

 

8) Ngây ngô khi học Toán đại học:

Vào đại học chủ yếu học tự luận, có phân tích, có chứng minh, học sinh lâu rồi không được rèn, lại hổng kiến thức cơ bản nên nhiều em gặp khó khăn.

Một số đồng nghiệp của tôi dạy Toán ở đại học cũng kêu trời về chất lượng yếu kém về Toán của sinh viên mấy năm gần đây. Có nơi còn phải bố trí giảng viên dạy lại Toán phổ thông cho sinh viên.

 

9) Tâm lí ỷ lại, chờ may rủi:

Hiện nay, các kì thi trong trường phổ thông phổ biến với 4 mã đề. Học sinh có nhiều cách để dò mã đề và chuyển đáp án cho nhau như: ra ám hiệu, chuyền giấy nháp, mượn thước kẻ, máy tính,…

Nhiều em trông chờ vào những sự trợ giúp đấy mà không lo học hành. Nếu không được trợ giúp vẫn còn phương án điền bừa chờ vận may. Tâm lí này hình thành một lớp người thụ động, không có chí tiến thủ.

 

10) Không cảm nhận được vẻ đẹp của Toán học:

Học vì điểm số khiến học sinh không còn cảm nhận được vẻ đẹp của Toán học nữa. Mục tiêu học tập của các em chỉ là điểm cao, vượt qua kỳ thi… Tất nhiên, không phải tất cả đều như vậy, nhưng số lượng những em học sinh này lại chiếm đại đa số.

Lâu dần, cảm nhận Toán học của các em cũng thui chột, thậm chí không còn phân biệt được đúng sai trong rất nhiều trường hợp đơn giản. Ví dụ như, gặp phương trình sinx = 2 vẫn cố bấm máy tính để tìm x.

 

Trần Phong