Thứ Hai, 16 tháng 6, 2025

Khổng Tử dạy 6 điều vui vẻ nhất kiếp người, bạn có được bao nhiêu?

 

KHỔNG TỬ DẠY 6 ĐIỀU VUI VẺ NHẤT KIẾP NGƯỜI, BẠN CÓ ĐƯỢC BAO NHIÊU?

Trong cuộc sống thường nhật, mỗi người đều có những sở thích khác nhau, và đương nhiên, đó phải là điều mang cho bạn cảm giác vui vẻ. Là con người thì ai cũng muốn tránh khổ tìm vui, tìm những gì khiến mình vui vẻ.

1. Niềm vui học tập

Luận Ngữ viết: “Học nhi thời tập chi, bất cũng duyệt tử” (Nếu có thể thời thời khắc khắc đều ôn tập lại những kiến thức đã học, như vậy chẳng phải rất vui sao?).

Đối với bất cứ ai, học tập chính là một quá trình dần dần tiến bộ, không ai có thể một bước lên mây, một ngày mà thành tài, thân đầy trí thức được. Tri thức là dựa vào việc bản thân không ngừng truy cầu, không ngừng tích lũy mà có. Trong quá trình học tập, khó khăn, chán nản là điều không tránh khỏi, tuy nhiên, niềm vui và hạnh phúc cũng từ đó mà sinh ra.

Niềm vui học tập sẽ tràn ngập trong thân và tâm người học, không gì sánh được.

 

2. Niềm vui giao hữu

Luận Ngữ viết: “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc tử” (Có bằng hữu từ phương xa đến thăm chẳng phải là điều rất vui sao?).

Là bằng hữu không nhất thiết phải ngày ngày hội tụ nhưng lại có thể nhớ về nhau, hiểu về nhau, đây quả là không việc gì trân quý bằng. Mỗi khi nhắc tới người bằng hữu này, liền có thể khiến cho chúng ta từ nội tâm cho đến bề ngoài đều hiện ra sự vui vẻ, an ủi. Nguyên nhân chính là họ hiểu bạn và bạn cũng lại hiểu họ.

Cao sơn lưu thủy, tri kỷ khó tìm, Khổng Tử là người kết giao bằng hữu rộng khắp mọi nơi nên ông lại càng hiểu rõ hơn niềm vui của việc kết giao.

 

3. Niềm vui của âm nhạc

Luận Ngữ – Thái Bá viết: “Thành vu nhạc” (Yêu thích âm nhạc).

Khổng Tử có một đoạn thời gian học âm nhạc, và đó cũng là quá trình khiến thầy giáo kinh ngạc đến thán phục không ngớt. Đừng cho rằng Khổng Tử là người chỉ am hiểu về đạo lý trời đất mà không hiểu về âm nhạc, nên nhớ rằng, Khổng Tử có một quá trình học nhạc rất kinh điển.

Kỳ thực thời đại của Khổng Tử chính là thời đại lễ nhạc bị suy thoái, cho nên ông là người rất dụng tâm phục hưng lại lễ nhạc. Nếu là người không am hiểu lễ nhạc, sao ông có thể làm được việc đó.

Khổng Tử cho rằng một người yêu thích âm nhạc có thể từ từ bồi dưỡng ra nhân cách tốt đẹp, nguyên nhân bởi âm nhạc là kết hợp giữa sự thiện lương và mỹ diệu, là giao thoa của trời đất.

 

4. Niềm vui giáo dục

Luận Ngữ – Thuật Nhi Thiên viết: “Học nhi bất yếm, hối nhan bất quyện” (Khi học thì cảm thấy không thỏa mãn, khi dạy thì cảm thấy không biết mệt).

Nói tới điều này, có thể có người cảm thấy học tập là việc vui vẻ, nhưng việc dạy học đôi khi lại nằm ngoài tầm kiểm soát, khiến người ta phải chùn bước. Đặc biệt đối với xã hội chúng ta ngày nay, điều này càng phức tạp hơn.

Tuy nhiên cổ nhân có câu: “Danh sư xuất cao đồ” (Thầy giỏi sẽ dạy ra trò tài). Cảm giác của một người thầy khi đào tạo ra được những nhân tài hữu ích cho xã hội, đó cũng là niềm vui không gì có thể so sánh.

Theo Sử Ký ghi chép, cuộc đời Khổng Tử tổng cộng có 72 người học trò tài năng xuất chúng, mỗi người mỗi tài mỗi nghệ, ảnh hưởng vô cùng rộng lớn tới các thế hệ sau này. Khổng Tử cũng trở thành “Vạn thế sư biểu” danh thơm vạn cổ.

 

5. Niềm vui sơn thủy

Luận Ngữ – Ung Dã viết: “Tri giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn” (Người minh trí thì yêu nước, người nhân nghĩa thì yêu núi).

Bậc minh trí yêu thích nước cũng là bởi vạn sự trên đời luôn thiên biến vạn hóa không ngừng, và nước cũng lại như thế, vạn sự tùy duyên, uyển chuyển thay mình tùy theo thế sự. Còn bậc nhân nghĩa thích núi chính bởi sự ung dung tĩnh lặng, trầm lặng của núi.

Khi đối diện với núi sông trùng điệp, cảnh tượng hùng vĩ thì nào ai có thể không động lòng vui vẻ? Khi cảm xúc đến từ nội tâm cùng với sự mỹ lệ của tự nhiên cùng phối ngẫu, chính là lúc mang lại cho con người sự vui vẻ thuần khiết nhất.

 

6. Niềm vui ăn uống

Luận Ngữ – Hương Đảng viết: “Thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế” (Lương thực không ngại chế tác tỉ mỉ, thịt thì không ngại cắt nhỏ).

Đối với vấn đề ăn uống Khổng Tử lại có một nghiên cứu rất công phu. Khổng Tử cho rằng gia vị nêm nếm không vừa khẩu vị thì không ăn, cắt thái không đẹp cũng không ăn, thịt để quá ba ngày cũng không ăn…

Không chỉ vậy mà còn có cả quy định: “Khi ăn không nói, khi ngủ không chuyện”, ăn uống cũng cần phải có hành vi quy phạm. Cho nên, có người nghiên cứu cho rằng, Khổng Tử khi ăn không chỉ là ăn thức ăn mà còn thưởng thức được cả sự tinh túy trong đó, hiểu được cách ăn thế nào mới ngon.

 

Chúng ta thử nghĩ, đứng trước một bàn ăn đầy những món không những dậy mùi thơm phức mà còn chế biến tinh xảo đẹp đẽ thì ai lại không vui cho được? Cho nên quan điểm của Khổng Tử đối với ẩm thực sớm đã trở thành một phần của văn hóa, trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển ẩm thực Á Đông.

 

Có người cho rằng Khổng Tử là cổ nhân, lại là bậc thánh nhân, bác học uyên thâm cho nên niềm vui của ông chưa hẳn đã hợp với chúng ta ngày nay, hơn nữa những giải thích này cũng chưa hẳn đã chuẩn xác. Tuy nhiên, bất luận từ cổ chí kim, rất nhiều đạo lý là tương thông với nhau.

 

Khi chúng ta gặp những lúc không vui, hoặc khi khó nạn, sao không thử một lần trải nghiệm qua những việc này xem bản thân mình có tìm được niềm vui hay không? Rất có thể, chúng ta sẽ tìm được cho mình cách giải quyết vấn đề, hoặc giả hiểu được chính bản thân mình một cách khách quan.

 

Minh Vũ

 

 

 

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2025

Bác sĩ Alexandre Yersin sống bình dị nơi xóm Cồn Nha Trang

 

BÁC SĨ ALEXANDRE YERSIN SỐNG BÌNH DỊ NƠI XÓM CỒN NHA TRANG

Nếu bạn đã từng một lần được tiêm chủng, chích ngừa…hãy biết ơn người đã cứu mạng mình.

Nếu bạn đã từng được thưởng thức một ly cà phê hay ca cao nóng… hãy nhớ ơn người đã mang chúng về Việt Nam

Nếu bạn đã từng được ăn cà rốt, súp lơ, su su… hay ngắm nhìn vẻ đẹp của hoa lay-ơn, cẩm tú cầu… đừng quên người đã trồng nên chúng…

 

***

Bởi tình yêu với thành phố biển Nha Trang, bác sĩ Alexandre Yersin đã quyết định dành cả cuộc đời mình cho mảnh đất này. Ông dựng nhà từ một lô cốt 2 tầng bỏ hoang lâu ngày và mở phòng khám cho bà con ở xóm Cồn. 

Sống bình dị nơi xóm Cồn

Dù là một tỷ phú, cổ đông chính của Hongkong and Sanghai Bank (nay là ngân hàng HSBC) nhưng Alexandre Yersin luôn thích sống cùng những người dân lao động nghèo. Người dân nơi đây hàng ngày tiếp xúc với ông, họ không hề có cảm giác xa lạ như một người nước ngoài, mà thấy gần gũi như người làng. Vậy nên, họ gọi ông với cái tên thân thương là “ông Năm”.

 

Ông Năm chẳng bao lâu đã trở thành bạn với đám trẻ con. Thỉnh thoảng, ông cho chúng kẹo và tiền lẻ để mua quà. Ông cũng thường xuyên chiếu phim cho chúng xem, dạy chúng về thiên văn, khí tượng. Có lần, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông chẳng những không nổi giận mà còn căn dặn người giúp việc: “Đừng rầy đánh, người ta sợ”.

 

BS Kiều Xuân Cư – người may mắn từng được tiếp xúc với ông Năm kể lại:

“Nhà Yersin sát bãi biển, có thư viện mở và tủ sách hồng dành cho trẻ em. Kỷ niệm cách đây hơn tám mươi năm, nhưng tôi vẫn nhớ giọng nói của “ông Năm” mỗi lúc gọi chúng tôi là “người bạn nhỏ thân thiết”. Ngày ấy, tôi thường cùng đám bạn khoảng 12 – 14 tuổi, đạp xe từ Thành (Diên Khánh) xuống Nha Trang tắm biển, mỗi lần vào thư viện của bác sĩ hỏi mượn sách, đều được ông phát kẹo và được nói chuyện bằng tiếng Pháp”

 

Thời ấy, người dân xóm Cồn có thói quen hay uống rượu say, cãi lộn, chửi bới, gây gổ, thậm chí ẩu đả. Ông Năm lặng lẽ lấy máy quay phim, ghi lại những chuyện không hay ấy. Sau đó, mời mọi người đến xem phim, hỏi họ có hay không, đẹp không? Ai cũng cảm thấy xấu hổ. Nhờ đó mà xóm Cồn gần như không còn nạn say rượu, chửi rủa hay đánh nhau.

 

Vì Nha Trang thường có bão táp nên ông Năm làm thêm trên nóc nhà một vòng tròn để dựng kính thiên văn. Nhờ đó, ông biết được thời tiết nắng mưa để giúp ngư dân đi biển. Ông làm hai cái bồ to, có đường kính một mét, trên sơn màu đen. Khi có bão, hai cái bồ được kéo lên hai cây cột bằng phi lao trên núi Sinh Trung để báo hiệu. Thời bấy giờ, ngư dân tránh được tai họa do bão cũng đều là nhờ ông. 

 

Tháng 11 năm 1939, đoán biết rằng một cơn bão lớn sẽ đổ vào bờ biển Nha Trang, ông Năm vội tập trung tất cả ngư dân xóm Cồn vào trong nhà mình. Cơn bão biển dữ dội đêm ấy đã cuốn trôi nhiều nhà cửa xóm Cồn, nhưng bà con vẫn an toàn. Từ hôm ấy, ông Năm được nhiều người dân xóm Cồn tặng cho danh hiệu “người đã trị cơn sóng thần”.

Nhà nhân văn lớn nặng lòng với dân nghèo

Người dân xóm Cồn lưu truyền rất nhiều câu chuyện về ông Năm của họ. Kể rằng, một hôm đi xe đạp từ nhà đến sở, ông Năm bị một tài xế bất cẩn đụng ngã. Không nói một lời nào, ông vội vã dựng xe đạp lên, rồi đi đến viện để băng bó, không đả động gì đến lỗi sai của người tài xế.

Lần khác, ông gặp người nông phu nằm ngủ trên chiếc xe bò dưới gốc cây bàng. Mặt trời lên cao, bóng mát đổi chiều, ông bảo những người phụ tá đẩy xe bò vào chỗ mát cho họ ngủ ngon. 

 

Ông Năm bỏ tiền riêng thuê kéo ống nước, đặt máy nước nhiều nơi cho dân sử dụng. Ông còn thường khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân nghèo. Ông tự coi mình như một người dân trong làng, một người có phần may mắn hơn người khác, vì vậy ông thấy cần có bổn phận an ủi và giúp đỡ những người kém may mắn hơn.

 

Mẹ hỏi con có thích ngành y không. Có và không. Con rất vui được chữa trị cho những người đến nhờ con khám, nhưng con không muốn biến y học thành một cái nghề, nghĩa là con sẽ không bao giờ có thể đòi một người bệnh trả tiền vì đã chữa bệnh cho người đó. Con coi y học là thiên chức, là mục vụ. Đòi tiền để chữa trị cho bệnh nhân thì chẳng khác nào nói với người đó rằng: tiền hay mạng sống.

(Trích Thư gửi mẹ của bác sĩ Alexandre Yersin)

 

Alexandre Yersin đến với người Việt bằng một tấm lòng nhân văn và chân thật hiếm có. Ông thông thạo tiếng Việt, sống chan hòa, vui buồn cùng bà con, như những người thân trong nhà. Có người bảo ông không có vợ và phải sống cô độc, nhưng tôi cho rằng, ông không cô độc chút nào. Ông có một trái tim đủ lớn để yêu thương và bao dung tất cả mọi người. 

 

Trần Phong

 

 

Cuộc đời và sự nghiệp của bác sĩ Alexandre Yersin

 

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA BÁC SĨ ALEXANDRE YERSIN

Alexandre Emile John Yersin sinh ngày 22/09/1863 tại miền Đông tổng Vaud, hạt Lavaux, tỉnh Morges, nước Thụy Sĩ.

A. Yersin là con út trong gia đình có ba người con, có mẹ là người Pháp, cha là người Thụy Sĩ.

 

Sau khi tốt nghiệp trung học, năm 1883 Yersin đến Lausanne để học y khoa, rồi sang Marburg, Đức, tiếp tục theo ngành học của mình. Năm 1885, ông đến Pháp, nghiên cứu y học tại Hotel-Dieu de Paris (bệnh viện lâu đời nhất Paris, liên kết với Khoa Y thuộc Đại học Paris Descartes). Năm 1886, ông gia nhập viện nghiên cứu của Louis Pasteur tại Trường Sư phạm Paris do lời mời của Émile Roux, và tham gia việc phát triển huyết thanh ngừa bệnh dại.

 

Ở tuổi 25, ngay sau khi nhận văn bằng Tiến sĩ Y khoa với luận án Étude sur le Développement du Tubercule Expérimental (Nghiên cứu về sự phát triển của bệnh lao bằng thực nghiệm), A. Yersin liền sang Berlin để kịp ghi danh theo học lớp vi trùng học kỹ thuật do Robert Koch giảng dạy. Trở về Paris, A. Yersin xin nhập quốc tịch Pháp bởi vì lúc ấy chỉ có công dân nước Cộng hòa Pháp mới được hành nghề y. Ông gia nhập Viện Pasteur ở Paris mới được thành lập vào năm 1889, làm người cộng tác với Roux, hai người cùng khám phá ra độc tố bạch hầu (do trực khuẩn Corynebacterium diphtheriae tạo ra). 

 

Đến Đông Dương

Tuy nhiên, nhà khoa học trẻ đầy triển vọng này không chịu hài lòng với môi trường học thuật đỉnh cao ở Paris. Năm 1890, A. Yersin quyết định rời nước Pháp để đến Đông Dương (lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp). Phải đợi đến năm 26 tuổi, A. Yersin mới thấy biển lần đầu tiên, lúc ấy ông là một bác sĩ trẻ được cử đi công cán ở làng chài Grandcamp.

Trải nghiệm này khơi mở khát vọng được đi và khám phá cũng như sẵn lòng từ bỏ tương lai xán lạn trong nghiên cứu khoa học ở Paris như là một môn đệ của Louis Pasteur. A. Yersin viết cho mẹ, "Con sẽ không buồn nếu phải rời Paris vì con thấy chán ngấy kịch nghệ, đám thượng lưu làm con kinh tởm, và đời mà không đi thì còn gì là đời".

 

Khi biết chắc không thể thuyết phục A. Yersin ở lại Paris, Louis Pasteur viết thư cho Công ty Messageries Maritimes (Vận tải Hàng hải), đề cử A. Yersin làm bác sĩ trên tàu.


A. Yersin nhận nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho hành khách và thủy thủ đoàn trên tàu Volga chạy tuyến Sài Gòn – Manila, chuyên chở 67 hành khách cùng vài tấn hàng hóa. Đang lúc làm bác sĩ trên tàu Volga, qua lại giữa hai thành phố Sài Gòn và Manila, A. Yersin tự tổ chức cho mình những chuyến thám du ở Philippines và Nam Kỳ, tích lũy kiến thức cùng kinh nghiệm cho ước mơ khám phá những vùng đất mới của ông.

 

Trong thời gian này, Albert Calmette, một môn đệ khác của Louis Pasteur, đến Sài Gòn tìm gặp A. Yersin đề nghị hợp tác trong nỗ lực thành lập Viện Pasteur ở Sài Gòn.

Năm sau, A. Yersin được thuyên chuyển sang tuyến hàng hải mới mở Sài Gòn – Hải Phòng, làm bác sĩ trên tàu Saigon trọng tải chỉ bằng nửa tàu Volga, di chuyển dọc bờ biển. Thời ấy chưa có tuyến đường bộ nối liền hai miền Nam Bắc.

A. Yersin dùng thời gian rảnh rỗi trên tàu để ký họa địa hình bờ biển và dưới sự hướng dẫn của thuyền trưởng, học cách sử dụng kính lục phân, nghiên cứu môn trắc địa cũng như thu thập kiến thức toán học cần thiết cho công việc quan sát thiên văn học.

 

Cả chuyến đi cũng như chuyến về, con tàu đều dừng lại ở Nha Trang, một vịnh biển yên tĩnh đầy nắng. Lần nào đến Nha Trang, A. Yersin cũng bị mê hoặc bởi vùng đất hoang dã với mảng thực vật trên đất liền đẹp rực rỡ, bên trên sừng sững những đỉnh núi mây mù chưa từng ai đặt chân đến, cũng chưa hề được vẽ bản đồ.

 

Thám hiểm

Năm 1891, A. Yersin xin thôi việc ở Messageries, quyết định đến sống tại Nha Trang. Ông cho dựng một ngôi nhà gỗ ở Xóm Cồn, và mở một phòng khám. Ông Năm (A. Yersin được người dân ở đây gọi như thế) là bác sĩ người Âu đầu tiên hành nghề trong vùng này.

Ở đây, ông chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Ông thực hiện những chuyến thám du hàng trăm cây số trong những vùng đồi núi, vào ở trong các ngôi làng của người dân tộc thiểu số, học chút ít ngôn ngữ, săn bắn và chữa bệnh cho họ.

 

Muốn tìm một con đường bộ vào Sài Gòn, A. Yersin đi ngựa đến Phan Rí, thuê người dẫn đường vào rừng, ông tìm ra cao nguyên Di Linh, nhưng không thể đi tiếp, phải trở lại Phan Thiết, rồi lấy thuyền về Nha Trang. Dù vậy, A. Yersin vẫn tiếp tục ý định khám phá dải rừng núi bí hiểm dọc theo dãy Trường Sơn, lúc ấy là một vùng hiểm trở hoang vu, là nơi sinh sống của những bộ tộc thiểu số không chịu khuất phục triều đình.

Với mục tiêu tìm một con đường bộ từ Nha Trang ven Biển Đông băng qua dãy Trường Sơn để đến sông Mekong phía bên kia, A. Yersin sử dụng phần còn lại của món tiền tiết kiệm còm cõi đang cạn dần để mua trang thiết bị và lên kế hoạch cho chuyến thám hiểm.


Ngày 23 tháng 9 năm 1892, đoàn thám hiểm gồm bảy thành viên, với vài con ngựa, hai con voi, và một khẩu súng săn hiệu Winschester, dưới sự lãnh đạo của A. Yersin khởi hành từ Nha Trang ra Ninh Hòa rồi lên Ban Mê Thuột.

Ba tháng sau khi rời Nha Trang, đoàn thám hiểm đến Stung Treng bên bờ sông Mekong. A. Yersin bán lại mấy con ngựa và voi rồi cùng các bạn đồng hành lên thuyền độc mộc về Phnom Penh. Những tấm bản đồ ông vẽ được gởi sang Luang Prabang bên Lào để đối chiếu với những ghi nhận của Phái đoàn Pavie, rồi chuyển về Paris. A. Yersin về Pháp, ở lại Paris trong ba tháng để ghi danh theo học ở Đài Thiên văn Montsouris, và từ chối gia nhập Phái đoàn Pavie.

Nhờ sự vận động của Louis Pasteur, A. Yersin nhận được sự trợ giúp của Hãng đường biển để mua dụng cụ và thêm khoản tiền trang trải chi phí cho những chuyến thám hiểm.

 

Năm 1892, ít lâu sau chuyến thám hiểm lần thứ nhất, theo lời khuyên của Albert Calmette, A. Yersin gia nhập đoàn y sĩ hải ngoại để khỏi phải lo lắng về mặt tài chính. Sau 28 năm phục vụ, năm 1920 ông về hưu với cấp bậc Đại tá Quân y.

Tháng 6 năm 1893, được sự ủy thác của Toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan, A. Yersin tổ chức đoàn thám hiểm theo đường bộ từ Biên Hòa ra Đồng Nai, lên Di Linh, cuối cùng khám phá Cao nguyên Lâm Viên.

 

Trong nhật ký đề ngày 21 tháng 6 năm 1893, A. Yersin ghi nhận có vài làng của người sắc tộc D'Lat nằm rải rác trong vùng, "Từ trong rừng thông bước ra tôi sững sờ khi đối diện một bình nguyên hoang vu giống như mặt biển tràn đầy những làn sóng màu xanh lá cây. Sự hùng vĩ của rặng Langbiang hòa lẫn vào đường chân trời Tây Bắc tạo nên bối cảnh tráng lệ, gia tăng vẻ đẹp của vùng đất này”.

Đến năm 1899, tại vùng đất được A. Yersin khám phá, Toàn quyền Paul Doumer cho thiết lập một khu nghỉ dưỡng cho người Âu châu, sau trở thành Đà Lạt.

 

Với sự trợ giúp từ chính quyền – được cung cấp vật dụng, nhân lực, tiền và vũ khí - quy mô của chuyến thám hiểm lần này lớn hơn nhiều so với lần trước, đôi khi lên đến tám mươi người đi quanh co dưới tán lá rừng. Để đổi lại, A. Yersin phải khảo sát tìm ra những con đường mới để phát triển thương mại, những địa điểm thích hợp để chăn nuôi gia súc, cũng như kiểm kê tài nguyên rừng và khoáng sản.

 

Trên đường về, khi vừa đến một ngôi làng người thiểu số thân quen vừa bị bọn cướp – khoảng năm mươi người là tù vượt ngục – đốt phá. Cùng những người can đảm nhất trong đoàn thám hiểm, A. Yersin quyết định truy đuổi băng cướp khi bọn chúng dừng chân, đốt lửa và kiểm kê chiến lợi phẩm. A. Yersin giơ khẩu súng ngắn lên nhưng Thục, thủ lĩnh băng cướp, nhảy đến đẩy chệch nòng súng. A. Yersin lĩnh một nhát chùy vào chân gãy cả xương, bị rựa chặt đứt nửa ngón cái của bàn tay trái, bị Thục đâm ngọn giáo vào ngực. Bọn cướp bỏ đi vì đinh ninh A. Yersin đã chết.

 

Theo sự hướng dẫn của A. Yersin, người ta khoét rộng vết thương, rút mũi giáo, khử trùng, nẹp chân, đặt ông lên một chiếc cáng kết bằng tre và dây rừng, khiêng đi suốt nhiều ngày đến tận Phan Rang. Ở đó có một chuyên gia điện tín báo cho Calmette ở Sài Gòn biết để gởi thuốc đến. Trong khi các vết thương lên sẹo. Sau đó, ông được đưa về Sài Gòn, viết tường trình, vẽ bản đồ, và phác thảo những tuyến đường tiềm năng.


A. Yersin chuẩn bị cho chuyến thám hiểm thứ ba, chuyến đi dài nhất và nhiều tham vọng nhất của ông, với dự định mở một con đường mới từ Trung Kỳ sang Lào, khác với con đường của Pavie qua Điện Biên Phủ.

Trước khi A. Yersin lên đường, Thục bị bắt, ông chứng kiến cuộc hành hình để lại nhiều cảm xúc.


Cuối năm 1893, với một lực lượng hùng hậu - ngoài 54 người tùy tùng còn có một toán lính tập mang súng theo hộ tống - A.Yersin khởi hành từ Biên Hòa lên Đà Lạt, đi tiếp đến cao nguyên Đắk Lắk, vào Attopeu ở Nam Lào, rồi đi theo hướng đông ra biển. A. Yersin đến Đà Nẵng vào ngày 17 tháng 5 năm 1894. Cuộc khảo sát lần thứ ba này thăm dò một vùng đất rộng lớn trải rộng từ vĩ tuyến 11 ở phía Nam đến vĩ tuyến 16 ở phía Bắc, và từ sông Mekong ở phía Tây đến bờ biển Việt Nam ở phía Đông.

 

Trang nhật ký ngày 11 tháng 4 của A. Yersin ghi, "Đường đi thật là khủng khiếp. Trong 4 ngày liên tiếp, chúng tôi phải vượt qua một vùng núi hiểm trở, trèo xuống, leo lên, cứ đơn điệu như thế mãi làm cho chúng tôi rất mệt mỏi. Cây cối chen chúc. Không có đường mòn. Chúng tôi phải khòm lưng chui qua các bụi tre. Vì trời mưa nên rừng có nhiều vắt không thể tả được. Những người Việt Nam đi cùng với chúng tôi bị sốt rét mặc dầu đã uống thuốc ngừa..."


Nghiên cứu bệnh dịch hạch

Trong khi A. Yersin đang chuẩn bị cho cuộc thám hiểm thứ tư thì bệnh dịch đã bộc phát ở miền Nam Trung Hoa và lan truyền xuống Đông Dương. Tháng 5 năm 1894, dịch phát mạnh ở Hồng Kông, gây tử vong cao, và trở thành mối đe dọa cho tất cả cảng biển có giao dịch thương mại với Trung Hoa, trong đó có cảng Hải Phòng. Nhà cầm quyền thuộc địa cử A. Yersin đến Hồng Kông để nghiên cứu bệnh dịch.

 

Ngày 15 tháng 6 năm 1894, A. Yersin đặt chân đến Hồng Kông, trông thấy xác người chết vì dịch hạch trên đường phố, giữa những vũng nước, trong các khu vườn, trên ghe thuyền đang cắm neo. A. Yersin ghi lại quan sát ban đầu của mình, "Tôi nhận thấy có rất nhiều chuột chết trên mặt đất. Ba ngày trước đó, Kitasato - Bác sĩ người Nhật Bản trong ngành vi trùng học đã đến Hồng Kông cũng để nghiên cứu bệnh dịch. Với sự hỗ trợ từ người Anh, Kitasato lập một phòng thí nghiệm trong Bệnh viện Kennedy Town,

A. Yersin chỉ được phép đến quan sát nhóm Kitasato làm việc. A. Yersin ngạc nhiên về phương pháp làm việc của Kitasato: Khám nghiệm máu và cẩn thận khảo nghiệm các cơ phận của tử thi nhưng bỏ qua chỗ sưng bạch hạch.


Năm ngày sau, ông quyết định hoạt động độc lập. Với sự trợ giúp của Vigano, một người Ý sống ở Hồng Kông, A. Yersin làm việc trong một cái lán bằng tre phủ rơm và đã xác định được nguyên nhân của bệnh dịch.

Sau khi đoàn khoa học gia người Nhật ra đi, người Anh muốn giữ A. Yersin ở lại Hồng Kông nhưng ông từ chối. Bởi vì những tường trình ban đầu của Kitasato còn mơ hồ và đôi khi có những mâu thuẫn, nhiều người tin rằng A. Yersin là người duy nhất tìm ra trực khuẩn. Tuy nhiên, một cuộc phân tích hình thái học về những gì Kitasato khám phá cho thấy "Kitasato đã khảo nghiệm trực khuẩn gây bệnh ở Hồng Kông vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 năm 1894", chỉ một thời gian ngắn sau khi Yersin công bố khám phá của ông (ngày 20 tháng 6). Do đó, "không thể bác bỏ sự đóng góp" của Kitasato. Cũng nên biết rằng, trực khuẩn gây bệnh phát triển tốt hơn trong môi trường nhiệt độ thấp, vì vậy, phòng thí nghiệm được trang bị kém của A. Yersin lại có lợi thế hơn trong cuộc chạy đua với Kitasato.


A. Yersin là người đầu tiên chứng minh rằng trực khuẩn hiện diện ở chuột bệnh và người bệnh là một, nhờ đó ông đã giải thích được phương thức truyền bệnh. Cũng trong năm ấy, khám phá này được cộng tác viên Émile Duclaux gửi đến Viện Hàn lâm Khoa học Pháp trong bài báo nhan đề La Peste Bubonique de Hong-Kong (Bệnh dịch hạch ở Hồng Kông).

Từ năm 1895 đến 1897, A. Yersin nghiên cứu thêm về bệnh dịch hạch. Năm 1895 ông trở lại Viện Pasteur ở Paris và cùng với Émile Roux, Albert Calmette và Armand Borrel đã điều chế ra huyết thanh chống bệnh dịch hạch đầu tiên.

Cùng năm đó, ông trở về Đông Dương và lập một phòng thí nghiệm nhỏ tại Nha Trang để sản xuất huyết thanh, (năm 1905 viện này trở thành một chi nhánh của Viện Pasteur). Năm 1896, ông thành lập trại chăn nuôi Suối Dầu, nuôi ngựa để sản xuất huyết thanh.


Năm 1896, A. Yersin đến Quảng Châu, được phép tiêm huyết thanh được điều chế tại Nha Trang cho một chủng sinh đang mắc bệnh tại đây, và mau chóng thu được kết quả. Ông trở thành người thầy thuốc đầu tiên cứu sống một bệnh nhân dịch hạch. A. Yersin tiếp tục cuộc hành trình chống bệnh dịch hạch bằng huyết thanh với những điểm đến kế tiếp là Hạ Môn, Formosa (nay là Đài Loan), rồi Macao. Song, khi đến Bombay (Ấn Độ), A. Yersin đối diện với một môi trường phức tạp hơn nhiều – người bệnh từ chối vào bệnh viện cách ly, loài chuột phát triển mạnh bởi vì người dân không chịu sát sinh, sự đố kỵ của người Anh đối với người Pháp – ông không làm được gì, cuối cùng phải rút lui để lại một đống hỗn độn cho Paul-Louis Simond, người đồng nghiệp được Viện Pasteur cử đến thay thế ông.

 

Sau Bombay, A. Yersin quyết định trở về Nha Trang trong năm 1898. Với sự hỗ trợ từ Toàn quyền Doumer, ông xây dựng Viện Pasteur Nha Trang.

A. Yersin mua một khu đất rộng 500 héc-ta ở Suối Giao (nay là Suối Dầu) để làm nông nghiệp và chăn nuôi. Ông cho trồng cây cà phê Liberia, các loại cây thuốc, cây coca để sản xuất cô-ca-in sử dụng trong ngành dược, tuyển chọn nhiều loại thực vật và động vật từ khắp nơi trên thế giới để nuôi trồng tại đây, biến nó thành một cộng đồng nông nghiệp và khoa học với một trạm xá phục vụ cư dân trong vùng. Trong thời gian này, sản xuất huyết thanh chống dịch cho bò là nguồn thu nhập chính của A. Yersin. Trung tâm thí nghiệm này về sau trở thành Viện thú y đầu tiên ở Đông Dương.

 

Là người đầu tiên nhập giống cây cao su về trồng tại Việt Nam, A. Yersin trở thành chủ một đồn điền cao su lúc đầu rộng khoảng 100 hec-ta, kiếm tiền đủ để nuôi sống Viện của ông.

Về Nha Trang lập trang trại là khởi điểm cho một giai đoạn khác trong cuộc đời A.Yersin: Sống ẩn dật, để lại đằng sau ánh hào quang của một huyền thoại sống – người đẩy lùi bệnh dịch hạch và là người khám phá cao nguyên Lâm Viên - để sống với niềm đam mê mới: Nghiên cứu, thực hành nông nghiệp và chăn nuôi.
Từ Suối Giao, sau một chuyến thám hiểm ngắn với Armand Krempf – hai ngày đi thuyền và hai ngày leo núi – A.Yersin phát hiện ngọn núi Hòn Bà. Trong năm 1915, ông tiến hành di thực các loài thực vật và động vật, gieo các loại hạt giống và xây dựng một ngôi nhà gỗ kiểu Thụy Sĩ.

 

Ông nghiên cứu điểu học, nghề làm vườn, và sưu tầm các loại hoa. Ông cũng mở một chiến dịch trồng rừng đồng thời khuyên dân làng bỏ tập tục chặt đốt cây rừng. Ông dựng chuồng nuôi chim và đưa về lãnh địa rộng 15.000 héc-ta của mình các loài chim lạ. Ông trồng thử nghiệm cây canh-ki-na để sản xuất thuốc ký ninh chữa bệnh sốt rét. Ông tìm ra thổ nhưỡng thích hợp cho loại cây này ở vùng đất Dran (nay là Đơn Dương) và Di Linh.


A. Yersin dùng số tiền có được nhờ những giải thưởng khoa học để xây dựng một con đường dài 30 cây số quanh co uốn khúc từ Suối Giao lên Hòn Bà. Nhờ con đường này, A. Yersin chuyển một máy phát điện lên ngôi nhà gỗ, lắp đặt hệ thống đèn, khởi động một máy dẫn nước để tưới cây, và đặt mua từ Pháp một chiếc xe Citroën bánh xích, cùng loại với "những chiếc xe đã băng qua sa mạc Sahara."

A. Yersin thích biết mọi thứ, ông là chuyên gia về nông học nhiệt đới, nhà vi trùng học, nhà dân tộc học, nhiếp ảnh gia, nghiên cứu khí tượng.

Ông mua máy điện lượng kế, làm một con diều thật lớn thả lên độ cao một ngàn mét để đo điện khí quyển và dự đoán giông bão. Ông muốn giúp những người dân chài dự báo khi có lốc xoáy trên biển. A. Yersin thuyết phục Fichot, một kỹ sư thủy văn phục vụ trong hải quân và rất say mê thiên văn học, đến sống với ông trong ngôi nhà ở Xóm Cồn với kính thiên văn và máy quan tinh được lắp đặt trên sân thượng để cùng nhau nghiên cứu khí tượng.

 

Trong những ngày cuối đời, A. Yersin gắn bó với niềm đam mê mới: Văn chương. Ở tuổi tám mươi, ông lại học tiếng Latin, tiếng Hy Lạp, và biên dịch những tác phẩm của Phèdre, Virgile, Horace, Salluste, Cicéron, Platon, và Démosthène.


Từ trần

Ngày 1 tháng 3 năm 1943, A. Yersin từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang, ông để lại di chúc, "Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Hãy chôn tôi nằm úp xuống. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không điếu văn”. Dù vậy, rất đông người tìm đến để đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Nhiều người dân Xóm Cồn và Nha Trang than khóc và để tang cho ông. Đoàn người đưa tang dài đến hơn ba cây số. 


Hội ái mộ A.Yersin tỉnh Khánh Hòa