Thứ Hai, 17 tháng 2, 2025

Làm sao học ít hiểu nhiều

 

LÀM SAO HỌC ÍT HIỂU NHIỀU  

Học tập là một hành trình kỳ diệu có thể thay đổi nhận thức và thế giới quan của con người, và tri thức là vũ khí lợi hại nhất của mỗi cá nhân trong kỷ nguyên lao động trí óc.

Song, một người khôn ngoan không chỉ dừng lại ở việc “học”, mà còn cần phải “học cách học”. Từ đây, có một câu hỏi được đặt ra: Làm thế nào để học tập một cách hiệu quả nhất, đảm bảo được chất lượng kiến thức dung nạp và tránh lãng phí thời gian?

Bác sĩ tâm thần kiêm nhà văn Zion Kabasawa không chỉ khơi gợi và đặt ra vấn đề mà còn đi sâu vào việc nghiên cứu và trình bày những phương pháp học tập cụ thể, thực tế và khoa học nhất để tối ưu hóa quá trình cũng như thành quả của việc học.

Xây dựng cho mình phương pháp học tập riêng

Nhiều người khi nghĩ đến quá trình học tập, chỉ chú ý đến phần “lượng” mà bỏ qua phần “chất”. Tức là ta mặc định rằng lượng thời gian bỏ ra sẽ tỉ lệ thuận với chất lượng kết quả mình đạt được: học nhiều = học giỏi.

 

Không thể phủ nhận rằng nếu dành nhiều thời gian cho việc học, ta sẽ đạt được thành tựu ở một mức độ nhất định nào đó. Tuy nhiên, nếu ta chỉ biết lao đầu vào học, và xem số lượng thời gian là tiêu chí duy nhất để đánh giá mức độ hiệu quả học tập thì việc học sẽ trở nên lan man, thiếu hệ thống và từ đó việc học sẽ trở nên vô cùng lãng phí.

 

Học tập có phương pháp là tự đặt ra trong đầu câu hỏi “Học như thế nào là hiệu quả nhất?”, “Tại sao cần phải học theo (những) cách này?”, v.v. và tiến hành thực hành phương pháp đó.

 

Phương pháp vui vẻ hóa não bộ, làm điều khó hơn khả năng của mình một chút:

Giữa 3 cuốn sách chứa:

1) 10% kiến thức bạn chưa biết

2) 30% kiến thức bạn chưa biết

3) 70% kiến thức bạn chưa biết.

 

Bạn sẽ chọn cuốn nào? Theo Zion Kabasawa, cuốn sách thứ 2 là lý tưởng nhất. Bạn sẽ không thể học được nhiều điều từ cuốn đầu tiên, trong khi cuốn thứ 3 sẽ dễ dàng khiến bạn bỏ cuộc giữa chừng vì bạn thiếu kiến thức nền tảng để có thể dung nạp quá nhiều kiến thức mới.

 

Vì vậy, khi chọn tài liệu, lĩnh vực kiến thức để tìm tòi, nghiên cứu, ta không nên tham vọng chọn thứ quá khó vì quan niệm “khó thì học được nhiều”, thay vào đó, hãy lựa chọn thứ “phù hợp” với mình. Phù hợp có nghĩa là: Thứ đó đủ khó để ta học tập được nhiều điều mới, nhưng cũng đủ dễ để ta có động lực tiếp tục. Mức độ khó của kiến thức nên là một động lực “kích thích” tinh thần học tập, không phải là yếu tố khiến ta nản chí và bỏ cuộc. 

 

Phân chia nhỏ thời lượng:

 

Giữa việc học 30 phút mỗi ngày và 3 giờ liền vào một ngày chủ nhật, cách học nào sẽ hiệu quả hơn? Kabasawa cho rằng cách học phân tán sẽ có hiệu quả hơn cách học dồn tập trung ở 2 khía cạnh:

  • Thứ nhất, thay vì gây ra trạng thái chán nản, học phân tán sẽ kích thích tinh thần học tập hơn.
  • Thứ hai, học phân tán tạo điều kiện để ta ôn tập nhiều lần và dễ dàng lưu lại kiến thức.

Đầu vào (input) và đầu ra (output) của việc học

 

Tác giả định nghĩa quá trình thu nhận kiến thức (đọc, nghe giảng,..) là nhập đầu vào (input) và quá trình vận dụng kiến thức (giải bài tập, thực hành, dạy,…) là xuất đầu ra (output) - một cách định nghĩa rất trực quan và cô đọng. Nhiều người trong chúng ta thường ngộ nhận việc dung nạp thật nhiều đầu vào (input) - đọc nhiều, nghe nhiều - thì ta sẽ tự khắc trưởng thành.

 

Song, thực tế đây là một cách học lãng phí, thụ động và thiếu hiệu quả. Kabasawa khẳng định rằng mức độ trưởng thành không tỉ lệ thuận với lượng đầu vào, mà tỉ lệ thuận với lượng đầu ra (output).

 

Đầu ra (output) là hành động cụ thể (viết, dạy người khác, giải bài tập,…). Việc xuất đầu ra vừa giúp vận dụng tối đa kiến thức đầu vào, vừa giúp bạn phân định rõ những lỗ hổng, thiếu sót của bản thân. Quá trình xuất đầu ra sẽ đòi hỏi sự vận động của các cơ mà theo tác giả, sự vận động cơ có tác động rất mạnh mẽ đến bộ nhớ:

 

“Đặc điểm của bộ nhớ vận động là một khi cử động cơ thể được lưu vào, bạn gần như sẽ không bao giờ quên nó”. Ví dụ, một khi bạn đã biết chạy xe đạp, bạn sẽ (gần như) không bao giờ “quên” cách chạy nó.

 

Phương pháp Shuhari

 

Shuhari - một phương pháp học tập mà Zion Kabasawa đánh giá là “thần kỳ”. Đây là một phương pháp học có định hướng để tránh việc học một cách lãng phí. Shuhari gồm 3 phần/3 giai đoạn:

 

1.    Shu - giai đoạn tuân thủ: “ngoan ngoãn” bắt chước, không hỏi lý do để nắm vững toàn bộ kiến thức cơ bản.

2.    Ha - giai đoạn bứt phá: từng bước khám phá phong cách khác và dần phát triển.

3.    Ri - tách ra: tạo dựng phong cách riêng và đột phá.

 

Mô hình Shuhari rất dễ hình dung khi đưa vào quá trình học một ngôn ngữ mới: ngoan ngoãn học theo, không thắc mắc quá sâu và bắt chước một cách triệt để dần mở rộng, tự vận dụng và khám phá phong cách khác để phát triển xây dựng phong cách riêng theo ý muốn và đột phá.

 

Ngược lại với phương pháp Shuhari là “ông chú Ririri”. Thay vì tuân thủ 3 giai đoạn, người học mù quáng ngay lập tức tiến hành phần “Ri”. “Tự học” đang là một kỹ năng cần thiết, nhưng không phải ai cũng biết cách tự học hiệu quả. Không ít lần ta nghe những người xung quanh mình nói rằng “Muốn tự học X nhưng không biết bắt đầu từ đâu”.

 

Nhiều người đã vội vàng làm theo ý mình, tự lần mò khi bắt đầu dấn thân vào một lĩnh vực kiến thức mới, tự biến mình thành “ông chú Ririri”, khiến việc học chậm tiến bộ và không có lối thoát. “Phân định rạch ròi giữa điều bạn muốn học và điều cần học, bạn sẽ nhìn thấy mình đang ở giai đoạn nào của Shuhari. Bạn không nên học điều mình muốn học mà nên học những tri thức và phương pháp cần thiết cho bản thân”.

 

Tố Uyên

 

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2025

Phương pháp loci (định vị): 2 bước để ghi nhớ hoàn toàn mọi thứ

 

PHƯƠNG PHÁP LOCI (ĐỊNH VỊ): 2 BƯỚC ĐỂ GHI NHỚ HOÀN TOÀN MỌI THỨ

Năm 2002, Dominic O'Brien (Tác giả cuốn sách: Siêu trí nhớ) đã giành Kỷ lục Guinness Thế giới khi đọc thuộc lòng một chuỗi 2.808 lá bài (hoặc 54 bộ bài) sau khi nhìn thấy mỗi lá bài chỉ một lần, chỉ mắc một vài lỗi trong quá trình này. Điều này nghe có vẻ như một kỳ tích nhận thức bất khả thi nếu bạn là kiểu người ngay cả chìa khóa ô tô của mình để ở đâu cũng không nhớ. Nhưng đối với những Nhà vô địch Trí nhớ Thế giới như O'Brien, đó là chuyện bình thường. 

Những người được gọi là vận động viên trí nhớ này có thể ghi nhớ một số lượng lớn thông tin đáng kinh ngạc: Rajveer Meena đã đọc chính xác 70.000 chữ số của số pi. Ryu Song I có thể ghi nhớ 4.620 số ngẫu nhiên trong một giờ. Và Katie Kermode đã ghi nhớ 103 cái tên và khuôn mặt lạ trong 15 phút.

Bí quyết là gì?

Kỹ thuật này - còn được gọi là phương pháp cung điện trí nhớ - lợi dụng thực tế là bộ não ghi nhớ hình ảnh dễ dàng hơn từ ngữ, một hiện tượng được gọi là hiệu ứng vượt trội hình ảnh. Và giống như nhiều truyền thống tri thức, nó bắt nguồn từ người Hy Lạp cổ đại. 

Phương pháp loci (định vị)

Trong “The Art of Memory”, nhà sử học người Anh Frances A. Yates lưu ý rằng một trong những văn bản quan trọng nhất về các kỹ thuật ghi nhớ cổ xưa là “Ad Herennium”, được viết bởi một giáo viên hùng biện không rõ tên tuổi.

Giáo viên này phác thảo cách người Hy Lạp và La Mã cổ đại quan niệm về trí nhớ, theo đó, mỗi người sinh ra đều có 2 loại trí nhớ: tự nhiên và có điều kiện.

Tự nhiên là kiểu chúng ta có từ khi sinh ra, cho phép chúng ta hình thành và nhớ lại những ký ức mà không cần nỗ lực có chủ đích. Ngược lại, trí nhớ có điều kiện được củng cố thông qua luyện tập. Trong phương pháp định vị, quá trình luyện tập này bao gồm hai yếu tố: địa điểm và hình ảnh.

Làm thế nào để xây dựng cung điện trí nhớ?

Derren Brown - một nhà ảo thuật người Anh sử dụng phương pháp định vị trong các trò ảo thuật, chẳng hạn như bằng cách ghi nhớ thứ tự các quân bài trong bộ bài - đã giải thích cách xây dựng cung điện trí nhớ trong một cuộc phỏng vấn năm 2020 với Big Think.

“Đó có thể là con đường quen thuộc khi đi từ ga tàu đến nhà. Tất cả những gì bạn cần là vài điểm cố định dọc theo con đường ấy để bạn có thể nhớ mà không cần phải suy nghĩ. Các điểm đó có thể là một hòm thư, một cửa hàng tiện lợi, một cái cây đặc biệt… nhưng phải là những thứ quen thuộc.” Brown nói.

Tiếp theo đó là hình ảnh. Đối với bất kỳ danh sách thông tin nào bạn đang cố ghi nhớ, hãy chọn điều đầu tiên và hình thành một hình ảnh sống động về nó trong tâm trí. 

Lấy ví dụ cho điều này, Brown giả dụ bạn đang cố gắng đặt lời nhắc nhở trong đầu rằng mang một bộ đồ đến tiệm giặt khô vào buổi sáng. “Bạn phải tạo ra một hình ảnh kỳ lạ về thứ đó. [Hãy tưởng tượng] Một bộ đồ sạch sẽ trắng sáng, lấp lánh mà bạn gần như không thể nhìn thẳng vào nó.

Sau đó bạn gắn trong đầu hình ảnh bộ vest trắng sáng vào vị trí đầu tiên trong cung điện trí nhớ của mình, chẳng hạn như hộp thư quen thuộc trên con đường quen thuộc. Và bạn lặp lại quá trình ghép nối những hình ảnh kỳ lạ trong tâm trí với những vị trí cụ thể trong cung điện trí nhớ để ghi nhớ mọi thông tin.

Vào ngày hôm sau, bạn đi đi lại lại trong đầu trên con đường đó và bạn nghĩ: ‘Tại sao lại có một bộ đồ trắng trên đường nhỉ? À, mình phải mang bộ đồ đi giặt là.

Phương pháp định vị rất hữu ích cho các công việc hàng ngày, chẳng hạn như ghi nhớ một danh sách việc cần làm đơn giản.

Brown cho biết anh thường mường tượng ra một tuyến đường dài qua thành phố London để ghi nhớ tới hàng trăm thứ. Để đếm các quân bài, Brown cho biết anh hình dung ra một ngôi nhà rộng lớn ở Florentine.

“Khi chơi bài, tôi đến phòng chơi bài ở tầng trên cùng. Trong đó, tôi có một bộ sưu tập gồm 52 đồ vật, mỗi đồ vật có một liên kết dễ nhớ đến một quân bài. Ví dụ, đồng hồ chỉ 7 giờ trong một mái vòm, tượng trưng cho bảy viên kim cương.”

Để đếm quân bài trong trò xì dách 4 tụ, Brown cho biết anh đã dán 3 miếng dán lên mỗi đồ vật xuất hiện trong đầu. Khi các quân bài được chia ra, anh di chuyển trong đầu đến đồ vật tương ứng và gỡ miếng dán xuống. Nếu một quân bài xuất hiện 4 lần, anh sẽ xóa hoàn toàn món đồ tương ứng với nó.

Khi cần xác định những lá bài nào còn lại trong bộ bài, anh sẽ quét qua 52 món đồ trong đầu và bắt đầu kiểm kê. “Sau đó, tôi biết khi nào nên chơi để đặt cược cao.”

Một kỹ năng bạn hoàn toàn có thể đạt được

Điều này nghe có vẻ phức tạp, nhưng việc phát triển kỹ năng này có thể dễ dàng hơn bạn nghĩ. Trong nghiên cứu về Neuron đã nói ở trên, các nhà nghiên cứu đã sử dụng fMRI (chụp cộng hưởng từ chức năng (tên tiếng Anh là Functional magnetic resonance imaging và viết tắt là fMRI) đo lường những thay đổi nhỏ trong lưu lượng máu diễn ra trong quá trình hoạt động của não..) để so sánh hoạt động não bộ và hiệu suất ghi nhớ của các vận động viên trí nhớ đẳng cấp thế giới với những người bình thường có khả năng ghi nhớ trung bình.

Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các vận động viên trí nhớ và những người khác về cách các vùng não giao tiếp với nhau. Các vận động viên có một “mạng hồ sơ kết nối trí nhớ vượt trội” giữa các vùng não như mạng chế độ mặc định, mạng thị giác và thùy thái dương ở giữa.

Nhưng đáng ngạc nhiên hơn là một số người có khả năng ghi nhớ trung bình có thể cải thiện trí nhớ của họ thông qua phương pháp định vị. Qua một loạt các bài kiểm tra ghi nhớ trong sáu tuần, những người tham gia không phải là vận động viên đã thực hành phương pháp định vị cho thấy kết quả vượt trội hơn đáng kể so với hai nhóm đối chứng không thực hành.

Một giả thuyết cho rằng phương pháp này giúp tăng cường trí nhớ bằng cách khai thác một số kỹ năng phát triển tự nhiên của bộ não: trí nhớ trực quan không gian và điều hướng. Nói cách khác, nó như một “lối tắt” nhận thức để ghi nhớ mọi thứ, khiến thông tin không còn trừu tượng mà trở thành hình ảnh sống động.

Bộ não con người được trang bị tốt để điều hướng lĩnh vực này. Trong hàng triệu năm, sự sống sót của các loài linh trưởng phụ thuộc vào khả năng nhận biết và ghi nhớ các chi tiết không gian trong một môi trường ba chiều phong phú, cho dù đó là vị trí trú ẩn an toàn, khuôn mặt của những người trong bộ lạc hay những địa điểm tốt nhất để tìm thức ăn. 

Vì vậy, khi cố gắng ghi nhớ hàng nghìn chữ số của số pi, hoặc đơn giản là tên của những người trong bữa tiệc tối, bạn nên khai thác khả năng cổ xưa của bộ não về trí nhớ không gian và hình ảnh.

- Theo Big Think