Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Kim tự tháp trong quần thể đền thờ Koh Ker

 

KIM TỰ THÁP TRONG QUẦN THỂ ĐỀN THỜ KOH KER

 

Kim tự tháp trong quần thể đền thờ Koh Ker là một trong những công trình kiến trúc duy nhất không giống các kim tự tháp khác ở Campuchia. Đây là một tòa tháp đá được xây dựng trong thời kỳ Đế quốc Khmer, thế kỷ thứ 10.

Tuy nhiên trái hẳn với các công trình kiến trúc khác, nơi đây bị lãng quên và không được tu sửa nhiều thời gian qua.

 

Kim tự tháp này như một công trình xây dựng lớn trên một cánh đồng, xung quanh là hồ nước nhân tạo. Chiều dài kim tự tháp là 66m, chiều cao 40m. Tường của Koh Ker được xây bằng đá núi lửa, bọc đá da thạch vô cùng bền vững, lớp gạch bên ngoài được xếp xoay chiều và được xây lồi lõm khác nhau bằng gạch 4 và 5 mặt.

 

Chính cách xếp gạch khác nhau này, đã làm cho kim tự tháp bền vững đến tận ngày hôm nay. Các khối đá lớn được đánh bóng và sắp xếp để tạo ra các thành phần kiến trúc, trong khi các khối đá nhỏ hơn được sắp xếp để tạo ra các chi tiết trang trí.

 

Công trình này cao 7 tầng, tượng trưng cho con số linh thiêng của đạo Hindu: tầng 1 gồm 11 hàng gạch, tầng 2 gồm 13 hàng gạch, và từ tầng 3 đến tầng 7 mỗi tầng gồm 11 hàng. Gạch được gắn kết với nhau tự nhiên không dùng chất gắn kết hay xi măng, viên gạch lục giác dưới móc khóa gắn chặt những viên gạch khác.

Các mặt của kim tự tháp đều quay về hướng Đông nhưng kim tự tháp chỉ có một lối vào duy nhất năm bên hướng Tây lại nằm dưới lòng đất nên rất ít người có thể biết được lối đi này.

 

Khi nghiên cứu cấu tạo của Koh Ker, các nhà khoa học cho rằng công trình này giống như một bộ máy khuếch đại năng lượng, hình khối kim tự tháp tỏ ra thích hợp nhất để sản sinh ra năng lượng bởi nó có thể phóng đại nguồn năng lượng tự nhiên.

Mặt khác vật liệu xây dựng công trình là đá sa thạch vốn có tính chất dẫn điện, đi kèm với đá núi lửa bên trong có sắt như là nguồn điện từ.

 

Hồ nhân tạo và những con kênh quanh kim tự tháp đều được dòng nước phóng ion âm làm nguồn năng lượng và dùng năng lượng động lực học từ hơi nước. Những hình vuông đồng tâm nhỏ hơn tường và bậc thềm sẽ giúp tập trung năng lượng vào kim tự tháp.

 

Tháp chính trong quần thể đền thờ Koh Ker là Kim tự tháp Prasat Thom. Đây là một công trình kiến trúc đá đặc biệt với kiến trúc chóp tháp truyền thống của vương triều Khmer. Prasat Thom có kích thước lớn và cao khoảng 36 mét. Nó có cấu trúc bề ngoài bao gồm nhiều tầng và các gian tháp nhỏ hơn xếp chồng lên nhau. Từ trên cao, người ta có thể nhìn thấy toàn bộ quần thể đền thờ Koh Ker và các cảnh quan xung quanh.

 

Kim tự tháp Prasat Thom được xây dựng để tôn vinh các vị thần và hoàng đế của Đế quốc Khmer. Nó cũng có thể được sử dụng làm nơi cúng tế và tổ chức các nghi lễ tôn giáo.  Các công trình kiến trúc trong quần thể đền thờ Koh Ker cung cấp một cái nhìn đặc biệt về văn hóa, tôn giáo và kiến trúc của Đế quốc Khmer.

 

Sự đa dạng và vẻ đẹp của các công trình này làm cho Koh Ker trở thành một điểm đến hấp dẫn cho du khách và những người quan tâm đến lịch sử và di sản văn hóa của Campuchia. Tuy nhiên tất cả cho đến nay vẫn chỉ là những giả thuyết bởi những thành phần cấu tạo quan trọng nhất của công trinh đã bị thời gian phá hủy.

Chính vì vậy mà nguồn gốc của kim tự tháp cũng như công dụng và ý nghĩa của nó vẫn là vấn đề chưa được làm sáng tỏ.

 

Phong Hi

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2026

Đại Cồ Việt là quốc hiệu do vua Đinh Bộ Lĩnh đặt ra

 

ĐẠI CỒ VIỆT LÀ QUỐC HIỆU DO VUA ĐINH BỘ LĨNH ĐẶT RA

Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã dùng nhiều tên gọi hoặc quốc hiệu khác nhau: Trong đó, Đại Cồ Việt là quốc hiệu do vua Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng) đặt ra, tồn tại dưới thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê đến đầu thời Nhà Lý, với kinh đô ban đầu đặt tại Hoa Lư và từ tháng 7 âm lịch năm 1010 dời về tại Thăng Long.

"Đại" theo nghĩa chữ Hán là lớn, "Cồ" là âm Việt cổ của từ Cự hay Cừ cũng là lớn. Về sau, Cồ viết theo chữ Nôm gồm 2 chữ Hán là Đại ở trên và Cù ở dưới. Đinh Tiên Hoàng muốn ghép hai chữ để khẳng định nước Việt là nước lớn.

"Đại Cồ Việt có nghĩa là nước Việt rộng lớn trông suốt cả bốn cõi hay tám cõi theo lối hiểu ngày xưa, ấy là cái cao vọng của người không những muốn thống trị mà còn muốn bành trướng thế lực ra tám cõi nữa".

Đại Cồ Việt là quốc hiệu được dùng trong 8 đời vua của 3 triều Đinh, Tiền Lê, Lý, với quãng thời gian dài 86 năm (968 - 1054). Đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ 1 (1054), vua Lý Thánh Tông mới đặt lại quốc hiệu là Đại Việt. 

Sử sách ghi chép rằng: Ở thời ấy, nhà Tống (Trung Hoa) đã thành lập, thống nhất lãnh thổ và đang ra sức lập nên một đế chế như nhà Đường trước kia. Tình hình đó đặt nước ta trước nguy cơ xâm lược mới, đòi hỏi tầng lớp thống trị trong nước phải nhanh chóng thống nhất lực lượng để đối phó với nạn ngoại xâm.

Với tài năng sáng suốt, dũng cảm mưu lược hơn người, nắm trong tay một lực lượng quân sự mạnh, Đinh Bộ Lĩnh đánh đâu thắng đấy, tự xưng là Vạn thắng Vương. Cùng với các tướng đánh chiếm các vùng xung quanh Hoa Lư, rồi đánh ra Đằng Châu… quét sạch các hùng trưởng cát cứ (Mười hai sứ quân), tiếp nối quốc thống của Triệu Vũ Đế.

Năm Mậu Thìn, năm thứ I (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi tự xưng hoàng đế, lập nên nhà Đinh, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi, tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế... thể hiện ý chí độc lập của dân tộc ta mà bộ máy quân chủ nhà Đinh là đại biểu.

Đầu năm 970, Đinh Bộ Lĩnh tiến thẳng một bước, bỏ hẳn việc dùng niên hiệu của hoàng đế Trung Hoa, đặt niên hiệu là Thái Bình rồi sai sứ sang giao hảo với nhà Tống.

Năm 979, nhân tình hình nước ta không ổn định. Đinh Bộ Lĩnh và con trai đầu bị tên quan nhỏ giết chết.

Con trai nhỏ 6 tuổi Đinh Toàn lên ngôi không quán xuyến được triều chính, Lê Hoàn – thập đạo tướng quân làm phó vương nắm quyền chỉ huy quân sự, được thái hậu giao cho quyền chấp chính thay vua, các tướng nhà Đinh do nghi kỵ (sợ Lê Hoàn cướp ngôi nhà Đinh) mà khởi binh chống lại đã bị Lê Hoàn tiêu diệt.

Nhà Tống đem quân sang xâm lược. Lê Hoàn được thái hậu giao cho tuyển tướng, luyện quân chuẩn bị cuộc kháng chiến, sau đó ông được các tướng suy tôn làm vua Lê Đại Hành (nhà Tiền Lê) đến đầu năm 1005.

Mùa thu năm 980 các vương triều Trung Hoa mang quân sang xâm lược, nhưng bị chống trả quyết liệt. Tiêu biểu là chiến thắng vang dội của Lê Hoàn đã đánh thắng quân nhà Tống xâm lược (981), giết chết tướng Hầu Nhân Bảo. Năm sau (982), Lê Đại Hành mang quân đánh Chiêm Thành vì Chiêm Thành đã bắt giữ sứ giả của Đại Cồ Việt…

Thắng lợi của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống thật to lớn và nhanh chóng làm nức lòng nhân dân cả nước, củng cố vững chắc niềm tin vào khả năng bảo vệ độc lập của dân tộc.

Sau khi Lê Hoàn chết (1006), con trai Lê Long Đĩnh lên ngôi vua, nhưng không được lòng dân. Lý Công Uẩn (chỉ huy cấm quân) lên làm vua đặt niên hiệu là Thuận Thiên dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên là Thăng Long.

Sự việc này thể hiện một bước trưởng thành mới của ý thức dân tộc, mở ra một giai đoạn phát triển quan trọng của chế độ quân chủ trung ương tập quyền Việt Nam.

Sự thay đổi ngôi vua từ nhà Lê sang nhà Lý phù hợp với tình hình lúc bấy giờ, muôn dân muốn có một triều vua mới đủ uy tín để ổn định đất nước, phát triển xã hội.

Trong thế kỷ XI, nhà Lý trải qua các triều vua Thái Tổ (1010-1028), Thái Tông (1028-1054), Thánh Tông (1054-1071), Nhân Tông (1072-1127). Các vua đầu nhà Lý tổ chức lại việc cai trị, đặt quan lại, luật pháp, xây dựng quân đội, củng cố khối đoàn kết dân tộc…

Dưới thời Đinh Bộ Lĩnh, ruộng đất trong nước tập trung vào tay chính quyền trung ương. Để đảm bảo quyền sở hữu đó, nhà vua thực hiện việc phong lại các trang ấp vốn đã tồn tại của các thổ hào không chống đối,…

Để giữ vững quyền lực của chính quyền trung ương, nhà nước thời Đinh – Lê đã có một số ruộng đất riêng để vừa tự cấp, vừa phục vụ việc tế lễ (tự điền). Cơ sở kinh tế chủ yếu của xã hội vẫn là ruộng đất ở làng xã, đem chia cho nhân dân theo tập tục của làng xã hàng năm nộp tô thuế cho Nhà nước.

Ở thế kỷ 10, khi đất nước Ðại Cồ Việt bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài, cũng là lúc nảy sinh những mầm mống của một nền văn học dân tộc dưới hình thức chữ Hán và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo.

Các danh nhân như Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh là những người được triều đình trọng dụng và có tầm ảnh hưởng lớn đến văn hóa dân tộc. Đinh Tiên Hoàng là người đầu tiên lập chức tăng thống đưa phật giáo trở thành quốc đạo.

Đinh Nhài

 

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2026

Những dặm đường đầu tiên của một huyền thoại lịch sử

 

NHỮNG DẶM ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN CỦA MỘT HUYỀN THOẠI LỊCH SỬ

 

Con đường Tơ lụa như sợi chỉ vàng nối liền phương Đông và phương Tây, bây giờ chỉ còn là một khái niệm trong những cuốn sách về lịch sử, văn hóa, khảo cổ, nhưng ở nơi này, nó hiện hữu trong từng hạt cát, từng cơn gió, từng tiếng thở dài khe khẽ của sa mạc Gobi mỗi khi chiều xuống.

Sa mạc Gobi mở ra như một trang giấy khổng lồ, nơi thời gian bị gió thổi tung và lịch sử hóa thành những hạt cát. Tôi bước đi trong cái lặng im mênh mông của màu nắng vàng phủ khắp sa mạc.

Gió phả qua mặt, mang theo mùi bụi, mùi nắng cháy, mùi mồ hôi và cả mùi máu của những đoàn thương nhân đã từng đi qua nơi này hàng ngàn năm trước.

 

Con đường Tơ lụa, cái tên nghe như một giai điệu cổ, không chỉ là một tuyến giao thương, mà còn là một mạch máu của ký ức nhân loại, vẫn âm ỉ chảy trong từng thớ đất Cam Túc, trong từng hạt cát sa mạc Gobi.

 

Con đường Tơ lụa không phải là một tuyến đường đơn lẻ, mà là cách gọi chung cho mạng lưới giao thương liên lục địa hình thành từ khoảng thế kỷ II trước Công nguyên, dưới thời nhà Hán, và duy trì trong hơn 1.500 năm.

Trung tâm khởi phát quan trọng của mạng lưới này là Trường An (nay là Tây An, Trung Quốc), kinh đô phồn thịnh bậc nhất phương Đông thời bấy giờ.

 

Năm 138 trước Công nguyên, sứ thần Trương Khiên được Hán Vũ Đế cử đi sứ sang các vùng Trung Á nhằm thiết lập liên minh và mở rộng giao thương. Chuyến đi này, dù trải qua nhiều biến cố, đã góp phần khai mở các tuyến kết nối giữa Trung Hoa với Trung Á và xa hơn nữa về phía Tây.

 

Từ đó, các tuyến đường thương mại dần hình thành và phát triển thành một mạng lưới rộng lớn. Những đoàn lữ hành mang theo lụa, gốm sứ, trà, giấy… từ phương Đông, đổi lấy ngựa, thủy tinh, hương liệu và đá quý từ phương Tây.

Họ băng qua hành lang Hà Tây, đi qua Đôn Hoàng, vượt dãy Thiên Sơn, xuyên qua các sa mạc Gobi và Taklamakan, rồi tiếp tục men theo Trung Á, Ba Tư và Tiểu Á để đến khu vực Địa Trung Hải.

 

Không chỉ dừng lại ở tuyến đường bộ, các nhánh giao thương còn mở rộng sang Đông Á như bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản và xuống Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, thông qua cả đường biển và đường bộ.

Chính vì vậy, nhiều học giả ngày nay cho rằng nên gọi đây là “các tuyến đường Tơ lụa” để phản ánh đúng tính chất đa tuyến của hệ thống này.

 

Người ta còn gọi đó là “Con đường của những giấc mơ”. Nhưng với những ai từng đi qua, nó còn là con đường của khát vọng và cái chết. Nhiều thương nhân đã bỏ xác giữa hoang mạc, những đoàn lạc đà mất hút trong bão cát, những thành phố phồn hoa hóa thành di tích.

 

Và chính trên mảnh đất Cam Túc này, nơi gặp gỡ giữa văn hóa Hoa Hạ, Phật giáo Ấn Độ và văn hóa Hồi giáo, Con đường Tơ lụa đã tạo nên một bản giao hưởng văn minh rực rỡ chưa từng có.

 

Dấu ấn thời gian nơi ngã ba văn hóa

Vùng đất Đôn Hoàng là trái tim của tuyến đường ấy. Ở đây, những nhà sư Ấn Độ dừng chân trên hành trình mang kinh Phật sang Đông độ; những thương nhân Ba Tư dựng lều trại buôn lụa, hương liệu và ngọc thạch, các loại đá quý; còn những họa sư Trung Hoa khắc họa hình Phật, thần linh và cả những người lữ hành trên tường của quần thể hang Mạc Cao.

 

Trong ánh sáng mờ ảo của những hang động, ta có thể thấy cả thế giới hội tụ, nơi mà tín ngưỡng, nghệ thuật và thương mại cùng tồn tại, cùng chuyển động, cùng giao thoa và cùng để lại cho hậu thế một kho tàng văn hóa vô giá.

Có một điều kỳ diệu là dù những cuộc chiến tranh bùng nổ, triều đại đổi thay hay tôn giáo xiển dương, dòng người trên Con đường Tơ lụa chưa bao giờ ngừng lại.

 

Từ Hán đến Đường, từ Tống, Nguyên đến Minh Thanh, những đoàn lữ khách châu Âu thời Marco Polo, họ đều đi qua Cam Túc, mang theo những câu chuyện, món ăn, âm nhạc và cả tình yêu.

 

St