Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Vì sao quân Mông Cổ san bằng cả châu Âu nhưng đành ‘bó tay’ với Đại Việt?

 

VÌ SAO QUÂN MÔNG CỔ SAN BẰNG CẢ CHÂU ÂU NHƯNG ĐÀNH ‘BÓ TAY’ VỚI ĐẠI VIỆT?

Một trong những chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đó chính là 3 lần đại thắng quân Nguyên Mông. Tuy nhiên, có nhiều thắc mắc đưa ra rằng giai đoạn đó quân Mông Cổ vô cùng mạnh mẽ, hùng hậu nhưng tại sao dân ta lại có thể đánh bại?

Thế kỷ XIII, Mông Cổ được coi là đế chế hùng hậu khi thường xuyên đưa quân đi xâm lược, bành trướng tại nhiều nước châu Á và châu Âu.

Đương thời, mỗi lần nghe thấy bốn từ “Thiết kỵ Mông Cổ”, cả đại lục Âu, Á, Phi đều không khỏi run sợ… Họ được mệnh danh là bất khả chiến bại, vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu là chiến thắng vang dội đến đó. Đội quân Mông Cổ đi đến đâu cỏ không thể mọc được.

Theo sử biên niên của nước Pháp thì mối lo sợ trước quân Mông Cổ đã làm đình trệ cả sự buôn bán”. Ở Đức xuất hiện bài kinh cầu nguyện “Chúa cứu vớt chúng con khỏi cơn thịnh nộ của Tác-ta – Mông Cổ”.

Ở phía Nam quân Mông Cổ chiếm Trung Quốc, Cao Ly, tấn công Nhật Bản… Một đế quốc Mông Cổ rộng mênh mông được tạo lập từ bờ biển Hắc Hải đến tận Thái Bình Dương.

Quân đội Mông Cổ với lực lượng kỵ binh thiện chiến đánh đâu thắng đấy! Nhưng cả ba lần xâm lược Đại Việt, với 1 triệu quân, thì bị đánh cho đại bại. Chủ tướng Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để quân lính “kéo” về Vân Nam. Toa Đô, dũng tướng khét tiếng của Mông Cổ bị rơi đầu. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp bị bắt, trở thành vật tế sống ở mộ các vua Trần…Nguyên nhân nào khiến đội quân Mông Nguyên đại bại ở Việt Nam?

Trời giúp Đại Việt

Nguyên nhân cơ bản cho chiến thắng này là chính sách đoàn kết nội bộ của những người lãnh đạo.

Ngoài ra phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước – và bảo vệ quyền lợi dòng tộc – số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ như Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản…

Bên cạnh đó, chiến thắng của nhà Trần có được nhờ rất lớn vào sự sáng suốt của các tướng lĩnh trong chiến thuật, đứng đầu là Trần Hưng Đạo. Trong khi tác chiến, các tướng lĩnh nhà Trần chủ động tránh lực lượng hùng hậu người Mông mà đánh vào các đạo quân người Hán bị cưỡng bức theo quân Mông sang Đại Việt.

Tâm lý của những người mất nước và phải chịu sự quản thúc của người Mông khiến các đạo quân này nhanh chóng tan rã, sức kháng cự thấp. Một cánh quân tan rã có tác động tâm lý lớn tới các đạo quân còn lại trên toàn mặt trận.

Thời tiết ở Việt Nam không thuận lợi với quân Nguyên

Ngoài những nguyên nhân trên thì còn một nguyên nhân nữa vô cùng quan trọng khiến Mông Cổ phải chịu thất bại tại Đại Việt là thời tiết.

Nước ta trong mùa hè có khí hậu nóng ẩm, một loại khí hậu mà người Mông Cổ không ưa. Vào những lúc giao mùa, thời tiết thay đổi; quân Mông Cổ không chịu nổi khí hậu này.

Quân Mông Cổ quen ở vùng khô lạnh, trong khi đi chiến đấu thường uống máu ngựa sống để tăng thêm sinh lực. Tuy nhiên ở miền Bắc Việt Nam, do khí hậu ẩm nên khi máu ngựa tuôn ra ngoài chứa đựng nhiều vi khuẩn có hại, quân Mông Cổ uống vào sinh bệnh tật, mất sức chiến đấu.

3 CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG XÂM LƯỢC TRONG THẾ KỶ XIII

Cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ lần I năm 1258

Giai đoạn đầu thế kỷ XIII, quân đội Mông Cổ vô cùng hùng mạnh và hiếu chiến. Khi này, nhà nước Mông Cổ đưa ra sách lược tấn công và xâm chiếm nước Đại Việt ta để làm bước đệm thực hiện gọng kìm tiến lên phía Nam Trung Quốc để tiêu diệt Nam Tống.

Khi này, nhà Trần đã ra lệnh bắt giam sứ giả Mông Cổ để biểu lộ quyết tâm nhất quyết chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, vua quan nhà Trần còn đưa ra lệnh sắm sửa vũ khí và xây dựng quân đội, dân binh, ngày đêm tập luyện.

Vào tháng 1/1258, quân đội Mông Cổ chính thức bước vào nước ta qua đường sông Thao với 3 vạn quân do Ngột Lương Hợp Thai đứng vị trí số 1. Tuy nhiên, đi đến Bình Lệ Nguyên thì đã bị chặn lại. Tiếp đó, quân Mông Cổ lại liên tục đánh vào Thăng Long khiến nhà Trần tạm rút khỏi đây để nhường chỗ cho kế sách “vườn không nhà trống”.

Khi này, quân đội Mông Cổ với chủ trương lấy cuộc chiến tranh nuôi cuộc chiến tranh đã rơi vào trạng thái thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng. Nắm bắt thời cơ này, quân đội ta đã mở cuộc phản công lớn ở Đông Bộ Đầu, đánh cho địch phải rút khỏi Thăng Long chạy về nước vào ngày 29/01/1258 .

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285

Lần xâm chiếm lần 2 bắt đầu vào tháng 12 âm lịch năm 1284 khi quân đội Mông Cổ dưới sự chỉ huy của Trấn Nam vương Thoát Hoan (con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt) và A Lý Hải Nha, vượt qua biên giới và nhanh chóng chiếm được Thăng Long vào đầu tháng 1 âm lịch năm 1285 sau thắng lợi của đội quân do Ô Mã Nhi chỉ huy tại Vạn Kiếp và Phả Lại (đông bắc Thăng Long).

Cùng thời gian đó, đội quân do Toa Đô chỉ huy sau khi tấn công Chiêm Thành bằng đường qua Lão Qua cũng di chuyển về phía bắc và nhanh chóng tiến tới Nghệ An vào cuối tháng 1 âm lịch, tại đây đội quân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Kiện nhanh chóng đầu hàng.

Tháng 2 âm lịch, Trần Bình Trọng đánh quân Nguyên tại bãi Đà Mạc, bị thua và bị giết. Tháng 3 âm lịch, Trần Lộng, Trần Ích Tắc và gia thuộc cũng đầu hàng quân Nguyên.

Tuy nhiên, hai vua Trần và Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã thay đổi chiến thuật từ phòng ngự sang phản công và một lần nữa đánh bại quân Mông Cổ. Tháng 4 âm lịch, tướng Trần Nhật Duật giành thắng lợi trong trận Hàm Tử (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

Tháng 5 âm lịch, tướng Trần Quang Khải đánh bại Toa Đô tại Chương Dương (nay thuộc Hà Nội) và sau đó các vua Trần đã giành thắng lợi trong trận chiến lớn tại Tây Kết nơi Toa Đô bị giết chết. Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hoá, hai vua Trần đuổi theo nhưng không kịp, bắt được hơn 5 vạn dư đảng đem về, Ô Mã Nhi chỉ còn một chiếc thuyền vượt biển trốn thoát.

Trong khi đó, đội quân của Thoát Hoan và Lý Hằng bị Trần Hưng Đạo đánh bại tại Vạn Kiếp, phải bỏ chạy về Tư Minh. Lý Hằng bị xạ tiễn bắn chết còn Thoát Hoan phải chui vào ống đồng mới thoát được.

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần 3 (1287 đến 1288)

Lần xâm chiếm thứ ba vào Đại Việt của quân đội nhà Nguyên diễn ra vào cuối năm 1287 và được tổ chức tốt hơn so với lần trước, với việc đưa vào lực lượng thủy quân lớn hơn và nhiều lương thực thực phẩm hơn.

Quân đội Mông Cổ, dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan, tiến tới Vạn Kiếp và hội quân tại đây với quân đội của Ô Mã Nhi và quân Nguyên cũng nhanh chóng giành được thắng lợi ban đầu rồi xuôi dòng về phía đông. Thủy quân của nhà Nguyên nhanh chóng giành được thắng lợi tại Vân Đồn (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay) nhưng thuyền chở lương thực, thực phẩm nặng nề đi sau lại bị tướng Trần Khánh Dư đánh tan. Kết quả là quân Mông Cổ tại Thăng Long bị thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng.

Không có lương thực, thực phẩm tiếp tế, Thoát Hoan buộc phải rút quân khỏi Thăng Long về Vạn Kiếp. Các nhóm bộ binh của nhà Trần được lệnh tấn công quân đội Mông Cổ tại Vạn Kiếp.

Đầu tháng 3 âm lịch năm 1288 thủy quân của Ô Mã Nhi tiến tới sông Bạch Đằng để đón thuyền lương do Trương Văn Hổ chỉ huy. Một đội thủy quân nhỏ của Đại Việt ra khiêu chiến và nhanh chóng rút lui để nhử thủy quân nhà Nguyên vào bãi cọc nhọn.

Quân Nguyên trúng kế và rơi vào trận địa mai phục sẵn của Đại Việt. Hàng nghìn thuyền nhẹ của Đại Việt từ hai bên bờ nhanh chóng xuất hiện, tấn công dữ dội và đánh tan sức kháng cự từ quân Nguyên. Quân đội Mông Cổ cố gắng rút lui ra biển trong sự hoảng loạn. Bị va phải cọc, thuyền của họ bị vỡ hay mắc kẹt, nhiều thuyền bị chìm.

Quân Nguyên phải nhảy xuống sông để bơi vào bờ, bị chết đuối rất nhiều. Các tướng như Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc, Sầm Đoàn, Phàn Tiếp v.v bị bắt sống. Cùng thời gian đó, quân đội Đại Việt liên tục tấn công và đánh tan đội quân của Thoát Hoan trên đường rút chạy qua Lạng Sơn. Cố gắng lần này của Hốt Tất Liệt trong việc xâm chiếm Đại Việt cũng tan thành mây khói.

Nguyệt Hòa

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2025

Gặp người kéo cờ trong lễ Tuyên ngôn độc lập diễn ra cách đây 80 năm

 

GẶP NGƯỜI KÉO CỜ TRONG LỄ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP DIỄN RA CÁCH ĐÂY 80 NĂM

Đúng ngày này của 80 năm về trước, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bà Lê Thi - một nữ sinh Đồng Khánh đã vinh dự được kéo lá cờ tổ quốc trong giờ phút thiêng liêng ấy.

Câu chuyện cắm cờ ngày Tết độc lập diễn ra cách đây 80 năm, nhưng qua lời kể của bà, cảm xúc tràn về như mới diễn ra ngày hôm qua vậy. Bà Lê Thi bồi hồi nhớ lại: “Việc tôi được chọn kéo cờ trong lễ Tuyên ngôn Độc lập là hoàn toàn ngẫu nhiên, không hề được báo trước.

Ngày đó, tôi dẫn đầu đoàn Phụ nữ cứu quốc tiến về quảng trường Ba Đình. Một cán bộ trong Ban tổ chức đến thông báo cử người lên kéo cờ. Các chị em đồng thanh “Thi lên đi”. Khi ấy, tôi run lắm nên vẫn đứng yên.

Đang lưỡng lự thì trên gọi, dưới thúc, tôi “liều” bước lên”. Khi bà lên đến nơi đã thấy một chị du kích người Tày đại diện cho An toàn khu đứng ở đó, chưa kịp hỏi tên nhau, hai cô gái đã được dẫn đến cột cờ chuẩn bị nghi lễ. Bà Thi cho biết:

“Được chọn lên để kéo cờ là may mắn của tôi. Đây cũng là lần đầu tiên tôi và nhiều người được nhìn thấy Bác, vị cha già kính yêu của dân tộc.

Khi đứng trước lá cờ Tổ quốc thiêng liêng, làm một nhiệm vụ trọng đại mà không được tập trước... nên bà rất run. “Tôi lo lắm, mình kéo cờ nhỡ tắc thì sao? Đang miên man trong dòng suy nghĩ thì có tiếng nói cắt ngang: “Chuẩn bị kéo cờ”. Tôi vội vàng nói với chị du kích người Tày: Chị thấp chị nâng cao cờ lên, em cao hơn sẽ kéo. Hai chị em thỏa thuận như thế và “nín thở” kéo cờ. Đến khi lá cờ đã lên cao, tung bay trong bản nhạc Tiến quân ca tôi mới dám thở phào”. .

-------- 

* Bà Lê Thi là một trong hai người vinh dự kéo cờ trong Lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình. Bà đại diện cho phụ nữ Kinh, trong khi một nữ du kích dân tộc Tày đại diện cho phụ nữ miền núi, cùng nhau kéo lá cờ đỏ sao vàng lên. Sau này, bà Lê Thi được biết đến với vai trò là nguyên Viện trưởng Viện Triết học Việt Nam, được trao tặng nhiều huân chương và huy chương cao quý của Đảng và Nhà nước. 

Lễ mừng quốc khánh 2/9 đầu tiên tổ chức ở pháp

 

LỄ MỪNG QUỐC KHÁNH 2/9 ĐẦU TIÊN TỔ CHỨC Ở PHÁP

Ngày 2 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam đang thăm và đàm phán với Chính phủ Pháp, đã sử dụng lễ kỷ niệm trọng đại của dân tộc vào quá trình đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thực dân muốn đẩy Việt Nam vào con đường chiến tranh.

Tròn 1 năm sau, ngày 2/9/1946 nhiều hoạt động kỷ niệm ngày lịch sử trọng đại ấy được tổ chức ở trong nước; đồng thời lần đầu tiên lễ mừng Quốc khánh Việt Nam được tổ chức ở ngay Paris, thủ đô nước Pháp.

 

Bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn đại biểu Việt Nam sang đàm phán với nước Pháp, lúc thế nước như "ngàn cân treo sợi tóc". Bên trong, đất nước ngổn ngang công việc thiết lập và bảo vệ nền Dân chủ cộng hòa; nhan nhản "thù trong giặc ngoài" đang lăm le bóp chết chính quyền còn trứng nước. Bên ngoài, chưa có một quốc gia xa-gần nào công nhận nền tự do độc lập của Việt Nam, thậm chí chính giới Pháp còn đang ráo riết toan tính tái lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam.

 

Chiều tối ngày 2/9/1946, giữa lòng châu Âu còn nhiều cách biệt, giữa Paris đang nuôi dã tâm phục hồi "chính quốc", Chủ tịch Hồ Chí Minh đang làm Thượng khách của chính phủ Pháp, đã hiện diện tại một sự kiện chưa từng có ở thủ đô Paris, để kỷ niệm Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (do Hội Liên hiệp Việt kiều và Hội Hữu nghị Pháp - Việt tổ chức).

 

Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày bài diễn văn bằng tiếng Pháp nói về ngày trọng đại của quốc dân Việt Nam đã thoát khỏi ách nô lệ và chế độ thuộc địa, trở thành nước tự do và độc lập. Tại chính nơi có các thế lực hiếu chiến đang muốn thủ tiêu nền độc lập, xóa bỏ chế độ dân chủ cộng hòa mà người Việt Nam vừa giành lại được,

Người nói "Hôm nay, Nhân dân Việt Nam kỷ niệm lần thứ nhất bản Tuyên ngôn long trọng của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa".

 

Thay mặt cho Nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh "tin tưởng rằng, nước Pháp đã kháng chiến và giành được giải phóng sẵn sàng công nhận nền độc lập của chúng tôi, điều cần thiết phải có để một dân tộc mong muốn kết bạn với các dân tộc khác". Người nói với đồng bào mình và các bạn Pháp "Nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam là Tổ quốc đang hồi sinh của chúng ta không bao giờ bị chia cắt và không gì chia cắt được".

Đặc biệt là chuyến đi 4 tháng lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn mang về nước 4 trí thức người Việt đã thành danh, gồm: Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Võ Quí Huân, Vũ Đình Huỳnh, về Việt Nam tham gia kháng chiến.

 

Lần đầu tiên người Việt Nam trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài kỷ niệm long trọng Quốc khánh Việt Nam; cũng là lần đầu tiên lễ kỷ niệm độc lập được tổ chức công khai trên đất Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam đang thăm và đàm phán hợp tác với Chính phủ Pháp, đã sử dụng lễ kỷ niệm trọng đại của dân tộc vào quá trình đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực thực dân đang đẩy Việt Nam vào con đường chiến tranh.

 

Theo báo điện tử chính phù 28-8-2025