Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

Huyền thoại Toán học Việt Nam - TS Lê Bá Khánh Trình

 

HUYỀN THOẠI TOÁN HỌC VIỆT NAM - TS LÊ BÁ KHÁNH TRÌNH

 

Những ngày đầu năm mới nhắc lại một câu chuyện để lại dấu ấn trong ngành toán học Việt Nam đó là một ngày mùa Xuân cách đây 46 năm, Lê Bá Khánh Trình - học sinh lớp chuyên Toán trường THPT Quốc Học Huế - rời Huế ra Hà Nội, tham dự kỳ thi tuyển chọn thí sinh cho đội Olympic Toán quốc tế (IMO).

Không ai hình dung được, rằng hành trình ấy sau này sẽ trở thành dấu mốc đặc biệt: Chàng trai 17 tuổi năm đó giành giải nhất Olympic Toán quốc tế tại London (Vương quốc Anh) với số điểm tuyệt đối 40/40, đồng thời đoạt luôn giải đặc biệt dành cho lời giải độc đáo. Và đó cũng là khởi đầu cho hành trình gần nửa thế kỷ gắn bó với nền Toán học nước nhà của một "huyền thoại" - TS Lê Bá Khánh Trình.

 

Thầy Lê Bá Khánh Trình kể, thời học Quốc học, học sinh không có quá nhiều lựa chọn giải trí như bây giờ; thành ra đứa nào đã bước vào đội tuyển thì tự nhiên cũng say mê, cũng miệt mài, ít xao nhãng. Tài liệu ít, đến mức mỗi khi tìm được một bài toán hay, lạ từ đâu đó, cả lớp lại tụm đầu tranh luận đến tận tối, khả năng tư duy được rèn luyện sâu… Cũng vì thế mà nhớ lâu, hiểu kỹ, mọi thứ đều "ngấm" hơn, trọn vẹn hơn.

 

Thời điểm ôn đội tuyển ở Huế lại trùng chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, tháng 2/1979. Kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc dự kiến tháng 3 hoặc tháng 4, nên cả nhóm vừa học vừa chuẩn bị tâm lý: nếu chiến sự lan rộng, có thể sẽ tham gia quân sự. "Tinh thần thời đó là vậy, ai cũng sẵn sàng", thầy nói. Rất may chiến tranh kết thúc sớm, việc ôn luyện được tiếp tục.

 

Trong nhóm bốn thí sinh được chọn, chỉ riêng Lê Bá Khánh Trình không phải từ Hà Nội, ba bạn còn lại lần lượt đến từ Đại học Tổng hợp, Sư phạm Hà Nội và trường Chu Văn An. Ban đầu, sự khác biệt vùng miền khiến họ dường như có khoảng cách, chỉ chào hỏi xã giao. Nhưng không lâu sau, sự vui tính, hay đàn hát và nét "nhí nhố" khiến Khánh Trình nhanh chóng hoà nhập.

 

Thời điểm đi thi cũng đặc biệt: Việt Nam bị cấm vận nên không thể làm visa trong nước mà phải sang Liên Xô và chờ một thời gian khá lâu. Chỉ khi nhận được thông báo "visa ổn" cả nhóm mới thở phào nhẹ nhõm, yên tâm chuẩn bị sang London.

 

Sự nhầm lẫn… may mắn!

Kỳ thi Olympic Toán quốc tế gồm hai vòng thi, ở vòng thứ nhất, hôm đầu tiên có một bài toán khá hay, cách giải dựa trên một đẳng thức không hề phức tạp, nhưng nếu không từng gặp thì sẽ mất rất nhiều thời gian để xoay sở.

Thầy Trình may mắn từng nhìn thấy ý tưởng trong một tài liệu nào đó trước đây nên hoàn thành được trọn vẹn, trong khi các bạn khác chỉ xử lý được hai trong số ba bài toán.

Cũng trong ngày thi hôm đó, bài số 3 Hình học trở thành bước ngoặt bởi một sự cố bất ngờ xảy ra: Lê Bá Khánh Trình hiểu nhầm đề.

 

Đề ra tình huống hai điểm chuyển động cùng chiều, nhưng Lê Bá Khánh Trình lại giải thành hai điểm chuyển động ngược chiều. Điều oái oăm là lời giải không sai, thậm chí lại đầy đủ và chặt chẽ theo logic của tình huống mới nhưng chỉ có điều nó… không dành cho đề bài.

Khi còn khoảng 20 phút cuối, Lê Bá Khánh Trình mới phát hiện điều đó. Trong lúc nhiều thí sinh khác đã nộp bài và ra về, thầy xin giám thị cho viết nốt lời giải theo đúng yêu cầu đề bài.

 

"Thời đó giám thị khá linh hoạt, họ có phần du di. Tôi giữ luôn lời giải ngược chiều và tôi giải thêm một trường hợp khác. Đó có lẽ là may mắn của tôi" , thầy Trình nói.

Khi nộp bài, thầy chỉ thấy "thoát nạn", hoàn thành cả hai hướng giải, không nghĩ gì thêm. Không ai ngờ lời giải "ngược chiều" ấy trở thành lý do giúp hội đồng trao giải đặc biệt, bởi nó không chỉ đúng mà còn mở rộng bài toán theo cách mới, lạ và gọn đến mức gây tranh luận trong lúc chấm thi.

 

Có những nhân duyên chỉ đến một, hai lần trong đời

Bốn mươi năm sau, năm 2019, khi thầy Trình trở lại Anh trong vai trò lãnh đạo đoàn dẫn đội tuyển Việt Nam dự Olympic Toán quốc tế, một cuộc gặp bất ngờ diễn ra.

Trong một buổi, khi nhắc đến đoàn Việt Nam, một giám khảo kỳ cựu bỗng nói: "Ồ, Việt Nam ư? Có một cậu bé Việt Nam từng giành điểm tuyệt đối và giải đặc biệt năm 1979. Tôi nhớ mãi bài làm của cậu ấy".

 

Thầy Trình không có mặt tại buổi trò chuyện hôm đó, nhưng các thành viên trong đoàn kể lại với sự phấn khởi rằng người ấy chính là thành viên đang có mặt tại kỳ thi năm nay.

Hôm sau, trong buổi chấm thi Hình học, vị giám khảo này chờ sẵn trước phòng chấm để gặp cậu học trò 17 tuổi năm nào.

Ông giám khảo chia sẻ thêm: khi chấm bài năm đó, hội đồng ban đầu nhìn vào lời giải rất ngắn và chế giễu rằng thí sinh làm bừa; nhưng càng đọc, càng nhận ra rằng lời giải không chỉ đúng mà còn quá gọn, quá độc đáo, đến mức họ quyết định trao giải đặc biệt. Và từ đó, người chấm bài nhớ mãi hai chữ "Việt Nam" trong những kỳ chấm thi quốc tế.

 

Sau này đã có lần Thầy Khánh Trình nói, Toán và Văn tuy khác nhau về hình thức, nhưng giống nhau ở cốt lõi: Văn thì thầy gợi để trò cảm, còn Toán thì thầy gợi để trò mở vấn đề.

Một bài toán cũ, lời giải đã quen thuộc, đưa ra chỉ là một bài tập thuộc lòng; còn một bài toán mới, với hướng đặt vấn đề mới, khiến học sinh phải động não, phải sáng tạo, phải đối diện với lựa chọn, với sự mơ hồ, đó mới là học.

Trong các giờ dạy, nhiều khi chính học trò lại đưa ra tính chất, nhánh rẽ hay ý tưởng mà thầy chưa từng nghĩ tới, khiến lời giải trở nên gọn hơn, đẹp hơn, lạ hơn.

 

Thầy nhìn vai trò người thầy không phải là người đưa ra lời giải mà là người châm ngòi cho tư duy. Bài toán khó, hay đưa ra không phải để đánh đố trò, mà buộc trò rèn luyện kỹ năng, cũng phải động não tìm cách giải hay; trò muốn giải quyết được vấn đề, trước hết phải có tư duy liên hệ.

Rất quan trọng là người thầy đưa vấn đề làm sao gây bất ngờ để trò tìm được cách giải đẹp. Trên bục giảng, người thầy, khi trình bày vấn đề, cần tìm cách trình bày ngắn gọn nhất, xuyên suốt, để trò nắm bắt nội dung có hệ thống. Khi đưa ra vấn đề, luôn có ý thức chờ đợi học trò sẽ "cải tiến" tư duy cho mình.

 

Vấn đề thầy đưa ra tốt, nghĩa là "gợi" tốt thì trò sẽ "mở" tốt. Cũng đôi khi, chính cách giải thú vị bất ngờ của học trò lại gợi cho thầy hướng xem xét mới… Thầy trò cộng hưởng với nhau, cùng làm giàu tri thức, tư duy cho nhau.

 

Hơn bốn thập niên sau tấm huy chương IMO, điều khiến người ta nhắc đến Lê Bá Khánh Trình ngoài điểm số tuyệt đối hay lời giải đặc biệt năm 1979 còn là cách ông tiếp tục sống với toán: giản dị, bền bỉ, không khoa trương và cách ông để học trò "nâng cấp" mình theo thời gian. Có lẽ đó mới là hành trình đáng nhớ nhất.

St

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét