NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ ĐÃ VIẾT NÊN CÂU CHUYỆN HÒA
BÌNH
Từ mái tóc dài xanh mướt
tuổi đôi mươi, những người phụ nữ ấy đã tết lại thành niềm tin son sắt: “Non
sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm
tốt đẹp, rực rỡ”. Trong lời Bác dạy, họ tìm thấy lý tưởng để sống, để chiến
đấu, để hy sinh vì độc lập, tự do và sự lớn mạnh của Tổ quốc.
Người bước vào bàn đàm phán quốc tế, mang theo khí phách của một dân tộc anh
hùng; người âm thầm vận động thanh niên giữa lòng đô thị bị kiểm soát; chỉ huy
lực lượng trong lòng địch; người gài mìn hẹn giờ, tiêu diệt và gieo kinh hoàng
vào sào huyệt quân thù. Họ là những tượng đài sống - hiện thân của lòng kiên
trung, bản lĩnh, sự thông minh và đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam.
Cùng
với đồng chí, đồng đội của mình, họ đã viết nên những trang sử vẻ vang của dân
tộc, góp phần mở ra cánh cửa và đặt nền móng để thế hệ hôm nay có thể viết tiếp
câu chuyện hòa bình.
Đó
là: Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước Trương
Mỹ Hoa và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Lài. Ba con người, ba
cuộc đời - đều tỏa sáng bằng những công việc, thành tích mang đậm dấu ấn riêng,
nhưng tất cả cùng được soi rọi bởi một ngọn nguồn: Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Mang
dáng hình đất nước đến Hội nghị Paris
“Chúng
tôi không chỉ đi theo cách mạng bằng trái tim của người yêu nước, mà còn bằng
lý trí của người tin vào chân lý” là lời khẳng định của bà Nguyễn Thị Bình,
người phụ nữ duy nhất ký tên vào bản hiệp định Paris lịch sử chấm dứt
chiến tranh, lập lại hòa bình cho Việt Nam.
Thấm
nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà đã kiên định với lý tưởng cách mạng
từ những ngày đầu tham gia kháng chiến. Người phụ nữ nhỏ bé nhưng mang trong
mình khí phách và tầm vóc của cả thế hệ: Đoàn kết, bản lĩnh và đầy trí tuệ.
Ở
tuổi 99, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình vẫn toát lên thần thái điềm
tĩnh, minh triết với bản lĩnh thép, như trong những thước phim tư liệu khi bà
đảm nhiệm vai trò Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền nam Việt Nam tại Hội nghị Paris (1968-1973). Khi đó, truyền thông
phương tây ví khả năng đàm phán của bà như “khiêu vũ giữa bầy sói” và trân
trọng gọi bà là Madame Bình.
Ánh
sáng cách mạng giữa đêm đen đô thị
Trong
căn phòng yên tĩnh, chúng tôi xin phép được ngồi cạnh bà để phỏng vấn. Mặc áo
vest trắng ngà, môi tô son đỏ, ánh mắt kiên định, giọng ấm và vang, đôi bàn tay
nồng ấm của bà đã nắm tay tôi trong suốt cuộc trò chuyện rất lâu, vừa trân
trọng lại thật gần gũi.
Với
sự hỗ trợ của cô con dâu - nhà giáo Mai Thục Trinh (vì có lúc bà nghe không
rõ), chúng tôi đã trò chuyện với Madame Bình về những dấu mốc không quên trong
cuộc đời cách mạng của bà.
Bà
Nguyễn Thị Bình sinh năm 1927 tại Sa Đéc (cũ), nay là tỉnh Đồng Tháp, tên khai
sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Mẹ bà
là cụ Phan Thị Châu Lan - con gái của nhà yêu nước Phan Chu Trinh. Cha bà là cụ
Nguyễn Đông Hợi, từng là viên chức trong ngành trắc địa, được điều qua
Campuchia làm việc cho nên cả gia đình cũng chuyển đến sống tại thủ đô Phnôm
Pênh.
Thời
niên thiếu, bà theo học tại Trường Lycée Sisowath - ngôi trường trung học danh
tiếng bậc nhất ở xứ sở Chùa tháp, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Ngay từ
khi còn nhỏ, cô bé Châu Sa đã thể hiện tư chất thông minh, học rất giỏi, nhất
là môn Toán và cũng đã sớm bộc lộ tinh thần yêu nước, lòng tự trọng dân tộc mỗi
khi tranh luận, thậm chí sẵn sàng ẩu đả với bạn học nếu nghe thấy họ nói xấu
người giúp việc là “Annamite” (An Nam-mít, hàm ý kỳ thị, khinh miệt).
Năm
1945, cụ Hợi đưa gia đình trở về nước rồi vào chiến khu D tham gia kháng chiến;
được phân công làm Trưởng ban Công binh Nam Bộ, đơn vị chuyên sản xuất vũ khí
cho quân đội.
Cha
bận việc nước, mẹ lại mất khi Châu Sa mới 16 tuổi, là chị cả trong gia đình, cô
gái nhỏ đã sớm thay cha mẹ chăm lo cho các em, gánh vác việc nhà. Chính những
năm tháng sớm trưởng thành ấy đã gieo vào tâm hồn Châu Sa hạt giống của nghị
lực, tinh thần tự lập và bản lĩnh kiên cường - tiền đề để hình thành nên một
“bông hồng thép” của cách mạng Việt Nam sau này.
Tham
gia các hoạt động yêu nước trong phong trào sinh viên, học sinh từ cuối những
năm 1940 với bí danh là Yến Sa, đến năm 1948, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản
Đông Dương. Trong vỏ bọc một giáo viên dạy Toán và tiếng Pháp với tên mới là
Nguyễn Thị Xuân, bà đã có thời gian vừa dạy học ở Sài Gòn vừa hoạt động cách
mạng.
Khi
tổ chức điều ra bắc, bà đổi tên thành Nguyễn Thị Bình (để giữ bí mật và thể
hiện khát vọng hòa bình); được giao phụ trách công tác đối ngoại của Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam, sau đó giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao đầu
tiên của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam và là Trưởng
đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris.
Khắc
ghi lời Bác Hồ dạy
Xem
những thước phim về Madame Bình ở Hội nghị Paris, có lẽ tất cả mọi người, nhất
là những thế hệ sinh ra khi đất nước đã hòa bình như chúng tôi đều thật sự tự
hào và xúc động.
Xuất
hiện với hình ảnh người phụ nữ mặc áo dài truyền thống màu hồng sậm, tóc búi
gọn gàng, phong thái lịch thiệp, thái độ tự tin nhưng chừng mực, bà đã gây ấn
tượng mạnh với dư luận quốc tế ngay khi bước xuống máy bay. Bà kể, đoàn đàm
phán không mang theo những bài diễn văn hoa mỹ, mà mang trong tim tinh thần
đoàn kết và quyết tâm sắt đá: Nhất định giành thắng lợi.
Thuộc
nằm lòng các chỉ thị của Đảng, của tổ chức; với lợi thế ngoại ngữ giỏi, luôn
giữ được sự bình tĩnh, tỉnh táo và thể hiện bản lĩnh khi đối diện thách thức mà
không nao núng; giữa bủa vây các câu hỏi hóc búa mà không rối trí; trước sự
châm biếm vẫn linh hoạt ứng phó; bà đã thuyết phục được hầu hết những nhà báo
khó tính bằng khả năng đối thoại thông minh và năng lực ngoại giao kiệt xuất.
Trong
rất nhiều cuộc họp báo tại Paris, Madame Bình thể hiện xuất sắc bản lĩnh và sự
nhanh trí, thậm chí có lúc khiến các nhà báo quốc tế bất ngờ khi bà chất vấn
ngược lại trước những câu hỏi hóc búa.
Khi
chúng tôi thắc mắc “Câu hỏi nào bà thấy khó nhất trong quá trình đàm phán?”, bà
bật cười rồi nhẹ nhàng kể lại: “Không có câu hỏi nào có thể làm khó chúng tôi.
Bác Hồ đã căn dặn đoàn đàm phán là dĩ bất biến, ứng vạn biến, nghĩa là kiên
định mục tiêu nhưng trong mọi tình huống cần linh hoạt, mềm dẻo, và quan trọng
nhất là phải giữ vững niềm tin rằng ta nhất định sẽ chiến thắng.
Thí
dụ khi họ hỏi Có quân đội miền bắc ở miền nam hay không? thì chúng tôi đã trả
lời: Dân tộc Việt Nam là một, cho nên người Việt Nam cho dù ở bắc hay nam nhưng
khi đứng trước quân xâm lược đều sẽ có trách nhiệm chiến đấu. Có những câu, họ
cố tình hỏi đi hỏi lại nhiều lần, nhưng chúng tôi chỉ trả lời: Điều tôi nói đã
rõ rồi, không có gì phải nói thêm”.
Gần
5 năm kiên trì đấu trí, Hội nghị Paris đã trải qua 201 phiên họp công khai, 45
cuộc họp riêng cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn và hàng nghìn
cuộc mít-tinh chống chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Những con số ấy là minh chứng
cho một cuộc đấu tranh ngoại giao khốc liệt nhưng đầy chính nghĩa, chúng ta đã
giành thắng lợi bằng sự đoàn kết, ý chí, bản lĩnh và niềm tin vào chân lý hòa
bình.
Trong
suốt cuộc trò chuyện với chúng tôi, chỉ một giây phút thoáng qua, âm giọng của
nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình có chút chùng xuống:
“Vì
hoạt động cách mạng cho nên tôi không có thời gian chăm lo cho gia đình, có lúc
không làm tròn vai trò của người vợ, người mẹ. Các con vì thế cũng thiệt thòi
nhiều… Nhưng tôi cho rằng đó là sự hy sinh cần thiết”.
Nói
đến đây, bà khẽ đưa ánh mắt về phía con dâu - nhà giáo Mai Thục Trinh, như tìm
kiếm một sự sẻ chia, thông cảm.
Với
nhiều thế hệ người Việt Nam, nữ tướng Nguyễn Thị Bình không chỉ là một nhà
ngoại giao kiệt xuất, mà còn là biểu tượng cho khí phách và trí tuệ Việt Nam,
người cộng sản kiên định với lý tưởng Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân
tộc. Trên con đường ấy, ngọn lửa cách mạng tiếp tục được truyền trao, trong đó
có bà Trương Mỹ Hoa, người đã dành trọn cuộc đời để cống hiến cho lý tưởng cao
cả, tiếp nối và thắp sáng khát vọng hòa bình.
Nguồn: https://nhandan.vn/