Thứ Ba, 21 tháng 3, 2023

Nam Cao và truyện Một đời người

Bốn nhà văn, nhà báo: Tô Hoài, Xuân Thủy, Nam Cao - Báo "Cứu quốc" (thứ nhất, thứ hai và thứ tư từ trái qua) và Nguyễn Huy Tưởng - Báo "Văn nghệ".

NAM CAO VÀ TRUYỆN MỘT ĐỜI NGƯỜI

Nam Cao là một trong những gương mặt đầu tiên được Tô Hoài nhắc tới trong sách Những gương mặt (bài Một Lớp người). Cũng như các nhà văn lớp người cầm bút khi ấy Nam Cao hiện ra trong tác phẩm với bao diễn biến buồn vui, băn khoăn, trăn trở, khao khát, nỗi niềm, suy tư...

Nam Cao lớn lên trong một gia đình khá giả bị sa sút. Bố Nam Cao buôn gỗ và có cửa hàng bán gỗ tiện ở Nam Định, nhưng do nghiện cờ bạc, rượu chè, cùng với việc tiền kiếm được không lại với ăn tiêu cơ nghiệp cứ xuống dần. Sau ông phải bán cả cửa hiệu, trở về làng, nghèo khó và gia đình lục đục hơn trước.

Nói về chuyện sa sút này, Tô Hoài cho biết thêm cứ trông vào cuộc đời mấy anh em Nam Cao thì có thể tưởng tượng ra phần nào. Nam Cao, anh lớn nhất, được học đến tốt nghiệp tiểu học lên tới bậc thành chung, mười một năm. Các em trai không không biết cửa trường học ở đâu. Người thì gồng thuê gánh mướn, sống đời cố nông. Người vào Nam Kỳ làm phu cao su. Riêng có người em út, năm 1945 còn là thiếu nhi, đến năm 1954, được đi học thành kỹ sư.

Nam Cao lấy vợ sớm. Vợ chồng Nam Cao lấy nhau do cha mẹ gả bán từ khi còn ít tuổi, theo phong tục thông thường thời ấy. Lấy vợ chưa đầy 1 năm thì Nam Cao vào Sài Gòn làm việc sổ sách cho người cậu ruột tên là Ngôn - người có nhiều ảnh hưởng nhất đến quyết định tham gia hoạt động sau này của Nam Cao. Ông Ngôn sau bị Pháp truy lùng và trục xuất về quê vì liên quan đến Nam Kỳ khởi nghĩa.

Tô Hoài cho biết trong sáng tác, Nam Cao thường viết rất thật, thật đến nỗi bất cứ sáng tác nào của ông, Tô Hoài cũng có thể tìm ra và đoán được chuyện này Nam Cao thấy ở đâu, nghe ai kể, nhân vật ấy là ai.

Lần ấy, sau khi viết xong tiểu thuyết Sống mòn (tên ban đầu là Chết mòn, Nam Cao nói "Bao giờ những người trong tiểu thuyết này chết đi, mình mới đem in thành sách. In bây giờ thì không dám nhìn mặt ai nữa!".

Tô Hoài cũng cho biết không những viết rất thật, Nam Cao còn rất thương người.

Tô Hoài kể, một lần ông và Nam Cao rủ nhau đi từ Hà Nội xuống Nam Định để tìm cái viết.

Đêm đó, hai ông tìm chỗ ngủ, sục sạo các nhà trọ, nhà nào cũng chật khách. Hai ông đến nhà săm (tiếng Pháp là Chambre - nhà chứa trọ, phòng cho thuê thường có gái điếm). Nhà này cũng không còn phòng trống.

Hai ông trở ra cửa thì có tiếng gọi lại: "Các anh ở tạm phòng em vậy. Em đi ngủ nhờ nhà bạn cũng được". Dù biết đây là gái làm tiền loại thuê tháng nhà trọ, nhưng hai ông vẫn bằng lòng vì lúc này rất khó tìm được chỗ ngủ.

Rồi thì cô gái này cũng chẳng đi đâu cả. Đêm hôm đó, Tô Hoài nghe thấy tiếng khóc ri rỉ bên cạnh đầu, rồi tiếng Nam Cao rì rầm khuyên can gì đó. Tô Hoài không thủng đầu đuôi câu chuyện ra sao. Sáng ra Nam Cao kể lại với giọng rất xúc động.

Nam Cao nói nhờ hỏi chuyện tình cờ mà biết được hóa ra cô ấy là em của một người bạn ở Sài Gòn. Chẳng may yêu đương lỡ dở rồi cuộc đời chồng con mấy phen đau đớn, rồi giận đời đen bạc, cô cắt tóc đi tu, rồi sa chân lỡ bước tới đây...

Tô Hoài thì không tin, nhưng trông nét mặt của Nam Cao ông không dám nói.

Trở về nhà Tô Hoài ở Nghĩa Đô, Nam Cao hì hục viết. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, ông viết xong một truyện lấy tên Một đời người, theo câu chuyện cô gái điếm kể đêm ấy ở nhà săm Phương Đông. Chỉ có điều Nam Cao đặt tên cho nhân vật một cái tên rất "đầm" là cô Suy - gian.

Rồi truyện Một đời người được đem bán cho Nhà xuất bản Cộng Lực, được chủ Nhà xuất bản ứng trước cho 80 đồng. Cuốn truyện này sau đó được nhà xuất bản đưa đi kiểm duyệt, nhưng bị bỏ chỉ vì cách đặt tên Tây cho nhân vật rồi bắt nó đi làm đĩ.

Hồi ấy, 80 đồng bạc không phải là nhỏ đối với những người giật gấu vá vai quanh năm như Nam Cao và Tô Hoài. Huống chi, Nam Cao còn vợ con nheo nhóc ở quê, tháng tháng đợi chồng gửi tiền về đỡ đần.

Ấy vậy mà, vào một buổi chiều, Nam Cao rủ Tô Hoài đáp tàu về Nam Định. Ông cầm theo 50 đồng tiền nhuận bút - bản quyền tác phẩm về để biếu cô gái điếm - cái cô mà Tô Hoài nghi ngờ là câu chuyện làm quà của cô điếm với khách làng chơi, còn Nam Cao thì cho là em của một người bạn cũ ở Sài Gòn, ông thương xót và nói nếu sẵn tiền sẽ đưa cả 80 đồng cho cô ấy.

Nhưng cuối cùng Nam Cao không gặp được cô gái điếm. Tìm mấy nhà săm cũng không thấy. Nam Cao ân hận mãi về lần không gặp này.

Cũng trong sách Những gương mặt (bài Một Lớp người), Tô Hoài còn kể về sự phát triển của con người và văn chương Nam Cao trong kháng chiến chống Pháp. Tiếc rằng khi đang ở độ chín, ông hy sinh khi mới 33 tuổi.

Nguồn: Xứ Đoài mây trắng bay




Thứ Hai, 20 tháng 3, 2023

Chuyện về 3 chú chim


CHUYỆN VỀ 3 CHÚ CHIM

Câu chuyện về ba chú chim bên dưới đây sẽ phần nào làm rõ, đâu mới là yếu tố quyết định thành công cũng như vị trí trong cuộc sống của một con người.

Xưa kia có ba chú chim nhỏ, chúng cùng được sinh ra và lớn lên. Đến một ngày, ba chú chim đã đủ lông đủ cánh nên phải rời xa cha mẹ để đi đến một nơi nào đó tự lập sinh sống.

Ba chú chim nhỏ bay qua những ngọn núi cao rồi lại qua những dòng sông và cả những cánh rừng rộng. Khi chúng bay tới một ngọn núi, thì một chú chim nhỏ hạ cánh xuống ngọn cây và nói:

 

‘Chỗ này thật là tốt, thật là cao! Các cậu nhìn xem, những bầy dê bầy cừu, thậm chí cả những chú ngựa danh tiếng lẫy lừng cũng đều đang hướng lên nhìn chúng ta một cách thèm muốn. Có thể sinh sống ở đây thật là tốt, chúng ta nên thỏa mãn mới phải!’.

Thế là chú chim nhỏ quyết định dừng chân tại đây để yên ổn cuộc sống của mình mà không tiếp tục bay đi nữa.

 

Nhưng hai chú chim kia lại thất vọng, lắc đầu và nói: ‘Ngươi đã thỏa mãn và muốn sống ở chỗ này rồi sao? Hai chúng ta còn muốn bay tiếp lên chỗ thật cao nữa cơ!’

Nói xong, hai chú chim còn lại tiếp tục bay đi, đôi cánh của chúng trở nên cường tráng hơn, cuối cùng chúng bay lên đến những tầng mây đủ sắc màu trên bầu trời.

 

Một chú chim trong đó cảm thấy say mê với cảnh sắc này, không kìm được lòng mình, nó đắc chí nói: ‘Ta không muốn bay nữa, đời này có thể bay lên đến mây xanh là thành tựu lớn nhất của ta rồi! Cậu không biết là chúng ta đã rất giỏi rồi sao?’.

 

Chú chim còn lại khổ sở nói: Không, ta tin tưởng nhất định còn có một cảnh giới cao hơn nữa. Nhưng thật tiếc là, bây giờ ta chỉ còn có thể một mình theo đuổi mà thôi!’. Nói xong, nó vỗ cánh và hướng về phía mặt trời mà bay tiếp…

 

Cuối cùng, chú chim dừng lại sinh sống ở trên ngọn cây kia trở thành chú chim sẻ. Chú chim dừng lại ở giữa những đám mây trở thành chú chim nhạn. Còn chú chim màu đỏ thứ ba bay về phía mặt trời thì trở thành một chú chim ưng hùng mạnh.

 

Có thể thấy, chính bởi vì ba chú chim có ba nhu cầu khác nhau đối với bản thân mình cho nên vị trí của những chú chim cũng chẳng thể giống nhau được.

Chú chim sẻ tuy vẫn còn có thể bay xa hơn nữa nhưng đã thỏa mãn với những ngọn cây, cho nên thế giới của nó chỉ có thể nhìn thấy những bầy cừu, bầy ngựa mà thôi.

 

Còn chú chim nhạn thỏa mãn với những đám mây xanh, cho nên nó mãi mãi sống trong những tầng mây. Còn chú chim ưng hùng mạnh đã không ngừng theo đuổi mục tiêu của mình, cố gắng đạt được mục tiêu cao nhất có thể, nên thế giới của nó rộng rãi mênh mông.

 

Lời bàn:

Mỗi người được sinh ra trong hoàn cảnh khác nhau cho nên nền tảng và xuất phát điểm cũng có những sai khác. Nhiều người vẫn cho rằng, chính xuất phát điểm là thứ ảnh hưởng đến thành công của một cá nhân trong nhiều mặt của cuộc sống.

Con người ta về cơ bản cũng vậy, tầm nhìn cũng như sự nỗ lực trong cuộc sống quyết định rất nhiều đến vị trí mà họ có thể đạt được. Nếu một nhân viên chỉ muốn an phận làm công việc chuyên môn, đến tháng nhận một khoản lương ổn định để nuôi sống bản thân, họ sẽ mãi thoải mái trong vùng an toàn của mình và sống với những sự yên ổn.

 

Nhưng cũng có người muốn lãnh đạo, dẫn dắt tập thể, đương đầu với khó khăn để thử thách bản thân, họ xứng đáng với vai trò làm sếp.

Cũng có người muốn tự mình dựng xây một điều gì đó, làm chủ bản thân, đứng trên vai những người khổng lồ để phóng tầm nhìn vươn ra thế giới, họ khởi nghiệp để chinh phục ước mơ.

 

Chẳng có lựa chọn nào là xấu và kém cỏi nếu chúng ta hạnh phúc và cảm thấy ổn yên với vị trí mà mình đang đứng.

Cuộc đời là hàng ngàn biến số khác nhau và chính tầm nhìn cũng như sự nỗ lực quyết định tất cả chứ không phải xuất phát điểm của mỗi cá nhân.

Để sống chung với nhau trong hòa bình


ĐỂ SỐNG CHUNG VỚI NHAU TRONG HÒA BÌNH

 

(Trích trong cuốn sách “Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và môi sinh” của Sư Ông Làng Mai)

 

Khi chúng ta gieo một hạt bắp xuống lòng đất ẩm, khoảng một tuần sau hạt bắp sẽ nảy mầm và dần dần trở thành một cây bắp con. Ta có thể hỏi cây bắp con: “bắp ơi, em có nhớ lúc em còn là một hạt bắp không?” Có thể cây bắp con không nhớ, nhưng nhờ quan sát, ta biết cây bắp con đã đến từ hạt bắp.

 

Khi nhìn vào cây bắp, ta không còn thấy hạt bắp, và ta tưởng là hạt bắp đã chết, nhưng kỳ thực hạt bắp đâu có chết, mà hạt bắp đã trở thành cây bắp. Khi chúng ta thấy được hạt bắp trong cây bắp là chúng ta có thứ tuệ giác mà Bụt gọi là vô phân biệt trí.

 

Vô phân biệt trí là không có sự phân biệt giữa hạt bắp và cây bắp, vì hạt bắp và cây bắp có trong nhau, chúng chỉ là một thứ. Ta không thể tách hạt bắp ra khỏi cây bắp và ngược lại. Nhìn sâu vào cây bắp con ta có thể thấy được hạt bắp, hạt bắp chỉ thay hình đổi dạng. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp.

 

Nhờ có thiền tập, ta thấy được những điều mà người khác không thấy. Nhờ có quán chiếu, ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái, giữa cây bắp và hạt bắp.

Cho nên chúng ta cần sự thực tập để giúp ta thấy rằng chúng ta tương tức với nhau.

 

Khổ đau của một người là khổ đau của tất cả mọi người. Nếu người Hồi giáo và Cơ Đốc giáo, hay người Ấn Độ giáo và Hồi giáo, người Do Thái và người Palestin nhận ra rằng họ đều là anh em với nhau, khổ đau của bên này cũng là khổ đau của bên kia thì chiến tranh sẽ chấm dứt mau chóng.

 

Nếu chúng ta thấy được rằng chúng ta và các loài sinh vật khác đều có chung một bản thể thì đâu có sự chia cách hay phân biệt, chúng ta sẽ sống chung hòa bình với mọi loài, với thiên nhiên.

Thấu suốt được tính tương tức, ta sẽ không còn phàn nàn, đổ lỗi cho nhau, sẽ không còn bóc lột, chém giết nhau. Chỉ với ý thức sáng tỏ đó mới mong cứu vãn được trái đất xinh đẹp của chúng ta.

 

Là người, chúng ta vẫn nghĩ rằng ta và thế giới thực vật và động vật khác biệt nhau, chẳng có gì liên quan với nhau. Cho nên đôi khi ta bâng khuâng không biết nên đối xử với thiên nhiên như thế nào.

Nếu chúng ta hiểu rằng con người và thiên nhiên không thể tách rời nhau thì ta sẽ biết cách đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình, với tất cả sự cẩn trọng nhẹ nhàng, với tất cả tình thương yêu, không có sự bạo động.

 

Cho nên nếu chúng ta không muốn mình bị thương tổn thì không nên làm thương tổn thiên nhiên, vì làm thương tổn thiên nhiên là làm thương tổn chính mình và ngược lại.

Chúng ta cần phải thấy rõ rằng số phận của mỗi người đóng góp vào số phận chung của toàn thể nhân loại. Nếu chúng ta muốn sống bình an hạnh phúc, chúng ta cũng phải giúp cho những loài khác sống bình an hạnh phúc.

 

Một nền văn minh mà trong đó ta phải chém giết và bóc lột lẫn nhau để sống là một nền văn minh không lành mạnh.

Muốn có một nền văn minh lành mạnh, tất cả mọi người dân phải có quyền bình đẳng về giáo dục, về công việc làm, có đủ thức ăn, chỗ ở, không khí và nước uống trong sạch. Họ có tự do đi lại và có thể ở bất cứ nơi đâu.

 

Nền kinh tế, chính trị nào phủ nhận những quyền lợi này của con người là phá sản toàn bộ nhân loại. Ý thức được những gì đang xảy ra cho nhân loại là việc làm cấp thiết để kịp thời sửa chữa những tổn hại đang có mặt khắp nơi.

 

Muốn cho nhân loại sống chung với nhau trong hòa bình, chúng ta phải biết hợp tác với nhau trong tinh thần hòa hợp để giúp nhau tồn tại. Nếu chúng ta cứ tiếp tục sống tách biệt nhau, chỉ để tâm đến những nhu yếu nhỏ bé của riêng mình thì chúng ta không đóng góp gì cho nền hòa bình chung rất thiết yếu cho sự sinh tồn của cả nhân loại.