Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

“3 hồn 7 vía” là gì?

 

“3 HỒN 7 VÍA” LÀ GÌ?

 

Dân gian xưa thường quan niệm con người có 3 hồn 7 phách (bảy vía). Cổ nhân thường nói nếu con người mất đi hồn phách thì người ta chỉ là một cái xác không hồn. Vậy 3 hồn 7 vía rốt cuộc là gì?

 

Người xưa quan niệm, con người gồm có phần thể xác và linh hồn. Người ta sở dĩ nói năng, đi lại, sinh hoạt được là nhờ linh hồn trú ngụ ở thể xác. Khi chết đi, linh hồn rời bỏ thân xác thịt. Thể xác nát vữa, còn linh hồn thì bất tử.

 

Thể phách chính là thân xác thịt, tinh anh chính là linh hồn. Thực ra, quan niệm “3 hồn 7 vía” có nguồn gốc từ Đạo giáo. Họ cho rằng con người sống được là nhờ “tam hồn thất phách” này điều chỉnh mọi hoạt động và tư duy.

 

Ba hồn này chính là 3 bộ phận tổ hợp thành thần khí của con người. Người ta mất đi một hồn hoặc hai hồn thì vẫn còn có thể sống sót. Nhưng nếu đã mất đi ba hồn thì sẽ trở thành một cái xác không hồn, sống đời thực vật.

 

Hồn thứ nhất là Thai Quang là một trong ba hồn quan trọng nhất của con người. Nếu một sinh mệnh không còn Thai Quang thì người đó quả thật đã chết.

Có câu chuyện kể rằng, một thầy thuốc Trung y khám bệnh cho vị giám đốc nọ. Sau khi bắt mạch và thăm khám liền nói: “Ông hãy về nhà chuẩn bị hậu sự đi thôi”.

 

Vị giám đốc nọ nghe thấy hầm hầm tức giận nói: “Ông bị điên à. Nếu y thuật của ông cao siêu đến vậy hãy nói thử xem tôi chết vào ngày nào?”. Sau khi thầy thuốc phán ngày tháng cụ thể, vị giám đốc liền nói: “Tới ngày đó tôi sẽ làm mấy bàn tiệc tại tiệm cơm Vương Phủ Tỉnh mời ông ăn”.

 

Khi vị giám đốc nọ đứng dậy trả tiền đi về, thầy thuốc Trung y vẫn khẳng định: “Tôi không lấy tiền của người sắp chết”. Và quả nhiên, vị giám đốc thực sự đã không sống qua khỏi ngày mà thầy thuốc đoán trước.

 

Các thầy thuốc Trung y cổ đại chỉ cần xem phần “Thần”, chính là Thai Quang, của người ta có còn hay không là biết được sinh tử.

 

Hồn thứ hai gọi là Sảng linh. Trên thế giới có rất nhiều người sở hữu khả năng tính nhẩm siêu hạng. Lại có những những người có thể nói chính xác thứ của một ngày bất kỳ mà bạn yêu cầu.

Điều này không dùng logic tính ra được, đó là một bản năng thiên phú. Sảng linh quyết định trí lực, trí tuệ cũng như phản ứng nhanh chậm của con người. Sảng linh chính là một bộ phận của hồn người.

 

Vì thế Khổng Tử nói: “Sinh ra đã biết là đệ nhất, học rồi mới biết chỉ là đệ nhị”. Nhiều người bị thiểu năng trí tuệ, chính là Sảng linh đã bị mất.

 

Hồn thứ ba gọi là U tinh. Nó quyết định tính cách của một người, cũng quyết định việc trong tương lai họ sẽ yêu thương ai. Người ta thường nói “bị ai đó lấy mất hồn”, “tinh thần chán nản”, “hồn xiêu phách tán”  

 

Hồn mà họ ám chỉ ở đây chính là U tinh. Rất nhiều người sau khi thất tình đau khổ tột cùng, nhìn ai cũng không thấy thuận mắt, không muốn gắn bó nữa. Đó là bởi vì U tinh tiêu mất rồi, chính là đã hao tổn, kiệt quệ tinh thần.

 

Vậy khi người ta đi ngủ, những hồn này sẽ ở vào trạng thái nào? Thai quang vốn dĩ chiếu sáng toàn thân nhưng lúc này ánh sáng bắt đầu giảm tối đi, người ta sẽ tiến vào giấc ngủ. Nhưng “phách” của họ vẫn hoạt động. 

Người xưa nói, gan tàng hồn, phổi tàng phách. Khi người ta chết, phách sẽ rời khỏi thân thể.

 

Trung y cho rằng thân thể có một cánh cửa, gọi là phách môn, nó là cửa mà phách sẽ rời khỏi thân thể người. Phách môn cũng chính là hậu môn. Bởi thế thời xưa khi cấp cứu người sắp chết thì việc đầu tiên là phải bịt hậu môn lại.

 

Thất phách là gì?

Đạo giáo quan niệm, thất phách (7 vía) của người ta bao gồm: Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế và Xú Phế.

Người Việt thì có cho rằng: Nam có 7 vía, nữ có 9 vía. Điều này có thể xuất phát từ quan niệm thân thể người nam có “thất khiếu” (7 lỗ) còn người nữ thì có “cửu khiếu” (9 lỗ).

Thất phách này có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều tiết cơ thể con người. Mỗi phách lại đảm đương một nhiệm vụ khác nhau như: hô hấp, tiêu hóa, sinh sản, nhịp tim…

 

Sách “Xuân vũ dật thưởng” chép rằng, khi mới sinh ra, người ta sống được 7 ngày gọi là Lạp (còn gọi là Cữ), lúc ấy mới có 1 vía. Sau 49 ngày thì đứa trẻ mới có đủ 7 vía thành người. Tiếp đó, sau 100 ngày thì đứa trẻ tròn 1 tuổi (nghĩa là cộng cả 9 tháng thai nhi trong bụng mẹ). Bé trai đủ 7 ngày, gái 9 ngày gọi là đầy Cữ.

Còn trong “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn cũng viết: “Tục nước ta sinh con được 3 ngày thì chỉ làm vài mâm cỗ cúng Thuần Dưỡng Bà. Đến ngày thứ 7, thứ 9, đầy 100 ngày thì làm lễ cáo gia tiên, yến tiệc linh đình”.

 

Sau khi người ta chết, cứ 7 ngày là 1 kỳ tang, mất đi 1 vía. Sau bảy lần cúng kỳ tang thì cúng tuần Chung thất, tức là hết vía (49 ngày). Sau 100 ngày là cúng Tốt khốc (thôi khóc).

Theo quan niệm dân gian, sau 100 ngày, hồn vía người ta đã hoàn toàn thoát ly khỏi thân xác thịt, đã chết thực sự.

 

Khi ấy, người nhà chỉ còn niệm tưởng thương nhớ người đã mất trong lòng mà không khóc nữa. Lễ cúng ngoài mâm cơm chay mặn thông thường, còn cần đèn nhang, bông trái, trà nước. Ngày giỗ đầu gọi là lễ Tiểu tường, giỗ thứ hai là lễ Đại tường. Từ đó về sau, người ta chỉ còn cúng người đã mất vào dịp giỗ và Tết.

 

Trong quan niệm của nhà Phật, vong hồn người chết phải qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày rồi mới được siêu thoát.

 

Tục gọi hồn

Khi hồn vía người ta xuất ra khỏi thân xác thịt thì coi như họ đã chết. Một khi đã xuất ra thì không thể quay trở lại. Nhưng cũng có những trường hợp hết sức đặc biệt. Vì một lý do nào đó, hồn vía người ta vẫn có thể nhập trở về thân thể. Bởi vậy, người Việt thường có tục lệ gọi hồn.

Dân gian quan niệm, khi ốm nặng hoặc bất tỉnh, trải qua một chấn động khủng khiếp nào đó thì người ta sẽ “mất vía”, hồn phách đột ngột tách ly khỏi thân thể. Đó là tình huống mà người ta vẫn gọi là “hồn xiêu phách tán”.

Thân thể người ta sẽ cứng đờ, hai mắt thất thần, đồng tử không động đậy, mồm miệng há hốc hoặc ngậm cứng, đồng thời hơi thở rất yếu, tai ù điếc không nghe thấy âm thanh.

 

Để hoàn lại sự sống cho họ, buộc phải có nghi thức gọi hồn. Người nhà thường trèo lên mái nhà hoặc chạy ra ngã ba đường, vừa đi về vừa gọi hồn vía người bị nạn để mong họ có thể trở lại.

Câu gọi hồn quen thuộc là: “Bớ ba hồn bảy vía ông… ở đâu thì về với con cháu”.

Ở một số trường hợp, cách gọi hồn này tỏ ra khá linh nghiệm. Người đang bất tỉnh nhân sự, mất ý thức có thể dần dần hồi lại, tất nhiên phải kèm theo một số biện pháp chăm sóc y tế đặc biệt khác.

 

Sự sống sau cái chết là điều đã được khoa học hiện đại thừa nhận từ lâu. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thuyết vô Thần, người ta vẫn còn gặp trở ngại trong việc chứng thực sự thực đó. Phật gia quan niệm rằng, sau khi chết, người ta đích thực chỉ mất đi phần xác thịt tức là “thể phách”, còn linh hồn, phần “tinh anh” thì mãi trường tồn, lại đi qua kiếp luân hồi để tái tạo sự sống ở kiếp sau.

 

Đi sang kiếp sau, linh hồn ấy vẫn mang đầy đủ nợ nghiệp và phúc báo ở kiếp trước. Bởi vậy, nếu muốn có được phúc báo thì phải biết gây thiện, tránh ác, tu sửa tâm tính, sống thanh bạch, trung thực ở ngay trong đời này.

 

An Nhiên

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

Sống trên đời thuận theo tự nhiên, vạn sự tùy duyên thì cuộc đời bạn sẽ an nhiên

 

SỐNG TRÊN ĐỜI THUẬN THEO TỰ NHIÊN, VẠN SỰ TÙY DUYÊN THÌ CUỘC ĐỜI BẠN SẼ AN NHIÊN

 

Người sống tùy duyên là sống người thuận theo tự nhiên

Trên thế giới này, duyên phận không đâu là không có mặt. Trên đường đời của con người, nếu như có thể hiểu được tùy duyên, thái độ nhân sinh của chúng ta tất nhiên là ung dung và độ lượng.

 

Trên con đường nhân sinh đầy những biến động, nếu như chúng ta hiểu được tùy duyên, tâm tình của chúng ta tất nhiên là thoải mái và tự do. Chúng ta có thể vui vẻ, bình thản và cũng sẽ ít chịu dày vò của đau khổ mà hòa mình cùng tự nhiên.

 

Tùy duyên là hành sự không trái với tự nhiên, phàm là việc gì cũng đều là thái độ nhân sinh có quy củ, mọi nhân duyên đều có sinh có diệt, nếu có thể thuận theo tự nhiên, sẽ có niềm vui bất ngờ trong sinh mệnh chúng ta.

 

Vậy nên, đừng nói đời người quá vô thường, đừng nói cuộc sống quá vô tình, chỉ là bởi chúng ta đã thiếu một phần tùy duyên trong sáng vô tư.

 

Người tùy duyên là người khoan dung

Tùy duyên là một loại tâm thái lạc quan, cởi mở, mọi sự thuận theo tự nhiên, không đi quá phận, không tranh tranh đấu đấu, tuân theo quy luật khách quan, không cứng nhắc, không cưỡng cầu, mà trong viên dung, hòa hợp chiểu theo sự phát triển tự nhiên.

 

Tùy duyên không đâu không có mặt, hợp tan, vui buồn, được mất đều tùy duyên. Có những lúc rất nhiều sự tình quả thật không thể thuận theo chính mình.

Trong sinh mệnh, ngoài nỗ lực, lập trường, nguyên tắc ra thì tùy duyên chính là luôn luôn hiện hữu vậy.

 

Tùy duyên không phải tùy tiện và trốn tránh

Tùy duyên không phải không hành động, không cầu tiến, không gánh trách nhiệm, mà là với người, với sự việc ta so sánh ít mà lý giải nhiều.

Không phải trốn tránh mà là bình tĩnh lựa chọn, là có thể đối đãi lấy bỏ được mất, có được và từ bỏ một cách độ lượng.

 

Tùy duyên không phải tùy tiện, mà là phán đoán một cách lý tính, biết được điều gì nên làm, điều gì không nên làm. Giữ vững kiên định trong tâm, mà hành sự không chủ quan, không trái đạo lý, không trái với lương tâm.

 

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Giọng nói có thể tiết lộ vận mệnh và phúc khí

 

GIỌNG NÓI CÓ THỂ TIẾT LỘ VẬN MỆNH VÀ PHÚC KHÍ

Giọng nói của con người có đặc trưng của hình tượng ngũ hành, mỗi giọng đều mang theo đặc trưng sang hay hèn, có phúc khí hay không và hành sự có thành công hay không.

Đổng Bang Đạt gặp cao nhân xem tướng, nghe giọng nói đoán vận mệnh đều ứng nghiệm

 

Đổng Bang Đạt (1696 – 1769) người Phú Dương tỉnh Chiết Giang, làm quan đời Thanh, đồng thời là nhà thư họa nổi tiếng, là tiến sỹ năm Ung Chính thứ 11, tên thụy là Văn Khác. Khi ông làm Thị lang bộ Công, ông đã kể lại chuyện của mình. 

 

Thuở nhỏ, ông ở dưới quê huyện Phú Dương. Một hôm, ở nhà hàng xóm có một cụ già trong thôn ngồi chơi, nghe tiếng ông đọc sách bèn nói: “Đây là quý nhân đó”, và xin được gặp ông.

Cụ già ngắm nghía ông kỹ lưỡng nhiều lần, lại hỏi ông ngày giờ sinh.

 

Sau đó cụ trầm tư rất lâu rồi nói: “Vận mệnh, tướng mạo của cậu đều là quý tướng nhất phẩm, nên đến năm này sẽ làm tri huyện, đến năm này quản lý huyện lớn, đến năm này sẽ thăng làm thực tế thăng thụ, đến năm này sẽ thăng làm thông phán, đến năm này sẽ thăng làm tri phủ, đến năm này sẽ từ chức tri phủ thăng làm bố chính sứ, đến năm này thăng làm tuần phủ, đến năm này sẽ thăng làm tổng đốc.

Mong cậu hãy quý trọng bản thân, đến lúc đó sẽ biết tôi nói không sai”.

 

Rõ ràng cụ già thôn quê này là người hiểu “Giọng nói là một trong những mấu chốt quan trọng để xem tướng người, vô cùng quan trọng.

Xem xét phân biệt kỹ lưỡng thì hầu như là không sai. Nếu không thì sao có thể nghe giọng nói mà phân biệt được người quân tử và kẻ tiểu nhân”.

 

"Con người thiên bẩm hình hài từ ngũ hành cho nên thanh khí cũng tương xứng với hình tượng của ngũ hành. Thế nên thanh thổ thì thâm hậu, thanh mộc thì cao vang, thanh hỏa thì cường liệt, thanh thủy thì chậm mềm, thanh kim thì hòa nhuận.

 

Người giọng nói nhẹ thì không có khả năng quyết đoán sự việc. Người có giọng nói phá thanh thì làm việc không thành công. Người có giọng nói đục thì vận mưu không phát. Người có giọng nói thấp thì thô lỗ không văn vẻ. Người có giọng nói trong trẻo ngân nga như nước suối chảy thì cực hiển quý. Người có giọng nói trôi chảy vang rõ, tự thấy như tiếng vọng trong vại thì chính là người ngũ phúc đủ đầy”.

 

Điều đó có nghĩa là giọng nói của con người có đặc trưng của hình tượng ngũ hành, mỗi giọng đều mang theo đặc trưng sang hay hèn, có phúc khí hay không và hành sự có thành công hay không.

 

Khi Đổng Văn Khác Công kể lại những điều này với mọi người chính là lúc ông đang làm Thị lang bộ Công. Còn nói về “năm này thăng tổng đốc” thì lúc ấy chưa đến thời gian đó. Sau này, Đổng Công vào năm đó được thăng làm Thượng thư bộ Lễ, quan phẩm và bổng lộc quả nhiên phù hợp với lời đoán “năm này thăng làm tổng đốc”.

 

Do đó, cụ già thôn quê nói trên có thể xem được vận mệnh của Đổng Văn Khác đến mức độ như thế thì đã là vô cùng đầy đủ rồi. Nếu vận mệnh không phải đã định từ trước khi sinh ra thì sao có thể dự đoán được tương lai chính xác như thế này?

 

Nếu Đổng Văn Khác Công sau này chỉ là một anh phu xe hoặc một anh thợ rèn thì mới chứng minh vận mệnh không phải là tiền định, thuật toán mệnh là lừa đảo khoác lác.

 

Kiến Thiện