Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

"Cô gái Afghan" - biểu tượng của nạn nhân chiến tranh

 

"CÔ GÁI AFGHAN" - BIỂU TƯỢNG CỦA NẠN NHÂN CHIẾN TRANH

"Cô gái Afghan" - biểu tượng của nạn nhân chiến tranh làm lay động thế giới sau 4 thập kỷ lại tiếp tục phải đối diện với số phận tàn khốc.

Tháng 6 năm 1985, hình ảnh trang bìa của tạp chí National Geographic đã gây chấn động thế giới và trở thành một trong những trang bìa nổi tiếng nhất của tờ báo cho đến ngày nay. Đó là hình ảnh có tên "Cô gái Afghan" vô danh được chụp bởi phóng viên ảnh người Mỹ Steve McCurry.

 "Cô gái Afghan" - tác phẩm nhiếp ảnh báo chí có sức lay động và ảnh hưởng bậc nhất thế giới

Bức hình cô gái đeo khăn đỏ rách tả tơi, đôi mắt xanh vô cùng u buồn và ám ảnh đã được Steve McCurry chụp lại một cách tình cờ vào tháng 12 năm 1984, khi cuộc chiến tại Afghanistan đang diễn ra khốc liệt.

Danh tính của cô gái Afghan mãi đến năm 2002 mới được xác định là Sharbat Gula, một học sinh tại trường học tự mở trong trại tị nạn ở Pakistan. Sharbat Gula khi đó mới 12 tuổi, mang số phận tàn khốc khi vừa mồ côi mất cả cha lẫn mẹ, vừa phải chạy trốn tị nạn khỏi quê hương vì chiến tranh. 

Sau này, bức ảnh của cô đã trở thành hình ảnh mang tiếng biểu tượng của chiến tranh Afghanistan nói riêng và chiến tranh trên toàn cầu nói chung.

Sau khi nổi tiếng, Sharbat Gula được gọi là "nàng Mona Lisa người Afghan" và trở nên vô cùng nổi tiếng. Theo National Geographic, năm 2017, Gula được tặng một mảnh đất rộng gần 300m2 trang trí theo ý thích của bà ở thủ đô Kabul, Afghanistan. 

Phát ngôn viên của Bộ Truyền thông Afghanistan khi ấy cho biết ngôi nhà là món quà của chính phủ Afghanistan cho Sharbat Gula cùng với khoản trợ cấp khoảng 700 USD mỗi tháng cho chi phí sinh hoạt và điều trị y tế. Cuộc sống của "cô gái Afghan" ngày nào đã được êm ấm, hạnh phúc sau thảm kịch ngày còn trẻ.

Tuy nhiên, vào tháng 8 vừa qua, ác mộng chiến tranh lại một lần nữa dội xuống đất nước Afghanistan khi Taliban nổi dậy. Người dân quốc gia Trung Đông phải đối mặt với tình cảnh rơi vào thảm cảnh loạn lạc một lần nữa. "Cô gái Afghan" vì thế mà một lần nữa trở nên nổi tiếng và được nhắc đến liên tục trên truyền thông, dù gần 40 năm đã trôi qua.

Ngày 25/11, chính quyền Italy đưa ra thông báo họ đã nhận được lời xin tị nạn của "cô gái Afghan" nổi tiếng cùng gia đình. Đại diện của thủ tướng Mario Draghi cho biết chính quyền đất nước châu Âu này sẽ giúp đỡ gia đình Sharbat Gula có một cuộc sống mới an toàn và ổn định tại Italy. 

Thông tin này có nghĩa là sau 4 thập kỷ, "cô gái Afghan" với đôi mắt xanh ám ảnh vì nỗi đau chiến tranh lại một lần nữa trở thành người tị nạn, phải chạy trốn khỏi quê hương.

Italy là một trong những nước phương Tây tích cực đón nhận người dân tị nạn chiến tranh từ Afghanistan kể từ khi quân Mỹ rút lui và Taliban giành được quyền kiểm soát đất nước. Ước tính sau 3 tháng, đã có hàng triệu người dân Afghanistan chạy trốn khỏi đất nước.

Địa điểm tị nạn phổ biến nhất vẫn là các quốc gia hàng xóm. Hiện tại có hơn 3 triệu người Afghanistan tị nạn ở Iran, trong khi 1,5 triệu người tị nạn ở Pakistan.

Nguồn: NPR

 

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

Kỳ lạ viên đá hút nọc độc rắn ở Thái Bình

 

KỲ LẠ VIÊN ĐÁ HÚT NỌC ĐỘC RẮN Ở THÁI BÌNH

 

Chủ nhân hiện đang sở hữu viên đá kỳ lạ này là ông Vũ Văn Khản, ở thôn Dương Cước, xã Hồng Thái, (Kiến Xương, Thái Bình). Ông được cha ông truyền lại cho viên đá này và hơn 50 năm qua, ông Khản không sử dụng viên đa với mục đích thương mại mà chỉ dùng để cứu người lúc nguy nan.

 

Khi nghe kể về viên đá có khả năng hút nọc của các loại rắn độc, nhiều người dân tỏ ra nghi ngờ và lấy làm lạ, nhưng qua tìm hiểu thực tế tại địa phương được biết, nhiều người bị rắn cắn đã được chữa khỏi nhờ phương pháp đặc biệt này.

 

Ông Nguyễn Quang Vịnh, Trạm trưởng trạm y tế xã Hồng Thái khẳng định: “Không những người dân thôn Dương Cước mà nhiều người bị rắn độc cắn ở nơi khác đến nhà ông Khản chữa trị đều khỏi hoàn toàn và không hề có bất cứ tai biến gì”.

 

Ông Vịnh cho cho biết, ông Khản không phải là bác sĩ nhưng có viên đá rất kỳ lạ có thể hút được nọc độc của các loại rắn độc. Phương pháp chữa của ông Khản không dùng thuốc mà dùng viên đá đặt vào vết cắn. Nếu là rắn độc, viên đã tự động dính chặt vào vết cắn. Sau khi hút hết độc thì viên đá tự động rơi ra ngoài.

 

Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà cấp 4 đơn sơ nằm cuối thôn, ông Khản không giấu giếm khi chia sẻ về viên đá này.

Nhẹ nhàng lấy viên đá được bảo quản cẩn thận trong một chiếc hộp kín, ông Khản kể, từ thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, ông nội ông có nuôi giấu cán bộ trong nhà và cất giấu tài liệu bí mật cho cách mạng. Trong số các cán bộ nương nhờ tại gia đình, có một cán bộ người gốc Thanh Hóa, trước khi di chuyển, người cán bộ này tặng lại gia đình một viên đá làm vật kỷ niệm và có dặn dò là viên đá có tác dụng hút nọc mỗi khi bị rắn cắn.

 

Khi ông nội qua đời, viên đá được truyền lại cho cha ông là cụ Vũ Văn Vần. Theo ông Khản, hồi còn trẻ, nhiều lần được chứng kiến cha sử dụng viên đã để cứu người bị rắn cắn.

Ông tâm sự: “Bản thân tôi cũng không biết bên trong viên đá này có năng lượng gì, nhưng qua nhiều lần áp dụng cứu chữa cho người bệnh, tôi phát hiện ra viên đá có khả năng hút nọc độc rắn trong tức thì.

Rõ nhất là sau khi hút độc, vết thương do rắn cắn không bị sưng tấy mà hồng hào trở lại, người bệnh cũng không còn cảm giác tê buốt”.

 

Hút nọc như nam châm.

Theo quan sát bằng mắt thường, viên đá hình vuông, màu đen xám, kích thước khoảng 2,5 cm, dày 1cm, nặng khoảng 50gram. Đặc biệt, trên hai bề mặt viên đá có một lỗ tròn, bên trong lỗ tròn có khắc hình chữ U.

Theo lời ông Khản, khi có người bị rắn cắn đến nhờ chữa trị, chỉ cần lấy viên đá ra đặt lên vết cắn. Thời gian chữa trị tùy theo vết cắn sâu hay nông. Nếu vết cắn còn mới, thì chỉ cần 1 giờ đồng hồ, lâu hơn thì cũng chỉ 2 giờ đồng hồ là viên đá sẽ hút hết nọc độc,

 

Điều kì lạ là nếu vết cắn do rắn độc, viên đá sẽ dính chặt vào vết cắn, hút cho đến khi hết độc mới tự động nhả ra. "Nếu là rắn thường, không có độc tố, viên đá sẽ không dính vào da thịt mà tự động nhả ra ngoài”, ông khẳng định.

 

Mặc dù chưa được kiểm chứng khoa học, nhưng viên đá kỳ lạ mà ông Khản đang lưu giữ đã cứu sống được nhiều người thoát khỏi “thần chết”. Không những người dân trong thôn, mà các xã, tỉnh thành lân cận, khi hay tin ông có viên đá có thể chữa rắn cắn, nhiều người đã tìm đến nhà chữa trị và đều được chữa khỏi.

 

Ông Nguyễn Văn Cậy nhà ở thôn Xuân Cước (xã Hồng Thái) từng bị rắn hổ mang phì cắn vào bắp chân khi đang dọn vườn nhớ lại: “Khi bị rắn cắn, lúc đó bắp chân sưng to và đau nhức, các con cháu tôi đưa đến nhà ông Khản. Sau hơn 40 phút hút nọc bằng viên đá, tôi có thể đi lại bình thường và không còn cảm giác sưng tấy hay đau đớn”.

 

Hay như trường hợp của bà Lê Thị Thẹo ở thôn Xuân Cước trong khi đi cắt lúa bị rắn hổ mang cắn vào ngón tay. Sau khi được chuyển đến trạm y tế xã, sơ cứu, người nhà đưa bà đến nhà ông Khản, nhờ viên đá mà bà được cứu sống.

 

Trong cuốn ghi nhật ký bệnh nhân dày cả trăm trang, ông Khản kể về trường hợp một cháu bé tên Mai ở (Quỳnh Côi, Thái Bình). Ngày đó, cháu Mai bị rắn cạp nong cắn khi ra đồng cùng mẹ. Do ở xa nên khi người nhà đưa tới nơi, cháu đã mê man. Nhưng nhờ viên đá hút độc, ông Khản đã cứu sống ca bệnh thập tử nhất sinh này.

 

Một vài lý giải khoa học

Trao đổi với PV báo Công lý, Tiến sỹ Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng UIA cho biết, việc một người dân ở Thái bình có viên đá chữa rắn cắn tuy chưa giải thích được căn nguyên, nhưng về mặt khoa học thì đó là sự thực không thể phủ nhận.

 

Ông Khanh lý giải, trong thế giới tự nhiên có những chất tương sinh tương khắc nhau, có thể làm tăng hoặc giảm, thậm chí là khử hẳn (hoặc triệt tiêu) đặc tính lý hóa của nhau.

Trong thế giới động vật, có những thứ rất kỵ nhau: như khi bị rết cắn, lấy nước dãi của con gà hoặc nhựa của con ốc sên bôi vào chỗ rết cắn để chữa thì rất hiệu quả. Hay khi bị lông bọ róm thì rất ngứa rát, nhưng chỉ cần lấy ruột của chính con bọ róm đó bôi vào thì dịu ngay bởi các chất trong ruột của con bọ róm đó chính là chất “khắc tinh” với chất độc của lông bọ róm.

 

Ông Khanh lấy dẫn chứng, trên thế giới, cũng có nhiều bộ lạc chữa rắn độc hoặc các loại trùng thú cắn bằng các loại lá cây, và đặc biệt có những bộ lạc cũng dùng những viên đá để hút nọc độc. Các viên đá này có tính năng đặc biệt, có thể tương khắc với nọc độc của rắn hoặc nọc độc của trùng thú.

 

Vốn xã hội như nền tảng đạo đức của phát triển

 

VỐN XÃ HỘI NHƯ NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC CỦA PHÁT TRIỂN

Điều đáng chú ý là trong các khủng hoảng (dịch bệnh, thiên tai), chính vốn xã hội - chứ không phải tài sản vật chất - trở thành lực chống đỡ đầu tiên: từ “ATM gạo”, “siêu thị 0 đồng”, đến các nhóm thiện nguyện tự phát. Điều này chứng minh rằng, vốn xã hội không chỉ là công cụ kinh tế, mà còn là “hạ tầng đạo đức” giữ xã hội khỏi đổ vỡ.

Habermas cho rằng, xã hội chỉ tồn tại bền vững nếu giữa người với người có khả năng đạt đến đồng thuận qua giao tiếp, chứ không chỉ bằng cưỡng chế hay lợi ích. Do đó, hiện đại hóa không có nghĩa là từ bỏ truyền thống, mà là nâng cấp các giá trị truyền thống (tương trợ, tín nghĩa) lên tầm lý tính và pháp lý.

Sự chuyển hóa của vốn xã hội trong bối cảnh hiện đại, xét kỹ hơn, không phải chỉ là thay đổi hình thức kết nối, mà còn là thay đổi cách con người hiểu về chính mình trong tương quan với người khác.

Trong xã hội truyền thống, cá nhân thường coi mình như một phần của gia đình, dòng họ, làng xã; còn trong xã hội hiện đại, cá nhân vừa được giải phóng, nhưng đồng thời cũng phải tự chịu trách nhiệm về lựa chọn, uy tín và các mối quan hệ xã hội. Điều này khiến vốn xã hội trở thành thước đo phẩm chất đạo đức - không phải áp đặt từ bên ngoài, mà được lựa chọn một cách tự nguyện dựa trên lý trí.

Nếu trước đây một người giúp đỡ họ hàng như nghĩa vụ, thì ngày nay sự giúp đỡ cần đi kèm với chuẩn mực minh bạch, chia sẻ lợi ích và tôn trọng cam kết.

Đây chính là bước chuyển từ đoàn kết cảm tính (solidarity of sentiment) sang đoàn kết lý tính (solidarity of responsibility). Nói cách khác, vốn xã hội hiện đại không chỉ dựa vào cảm tình, mà dựa vào niềm tin có cơ sở

Điều này dễ thấy trong thực tế: một hợp tác xã nông nghiệp không còn hoạt động theo kiểu “ai cũng như ai”, mà yêu cầu từng thành viên tuân thủ quy trình, kỹ thuật, chất lượng sản phẩm. Nếu một hộ làm sai chuẩn, ảnh hưởng đến thương hiệu chung, họ có thể bị loại khỏi hệ thống. Như vậy, vốn xã hội hiện đại không loại bỏ tự do cá nhân, nhưng đặt tự do đó trong khuôn khổ trách nhiệm với cộng đồng.

Một chiều cạnh khác của sự chuyển hóa vốn xã hội là sự trỗi dậy của tinh thần công dân (citizenship) thay cho tư duy “làng xã - họ tộc”. Người dân không còn chỉ tìm đến trưởng họ, trưởng làng để giải quyết tranh chấp, mà tin vào pháp luật, chính quyền, các tổ chức nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội…

Điều này thể hiện quá trình chuyển dịch từ niềm tin cá nhân sang niềm tin hệ thống, đồng thời cho thấy vốn xã hội không biến mất, mà mở rộng sang không gian thể chế hóa.

Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra một nghịch lý: khi con người càng dựa vào hệ thống pháp luật, sự tin cậy trực tiếp giữa người với người có thể giảm. Xã hội càng hiện đại, tình trạng cô lập nội tâm càng tăng - con người có thể kết nối kỹ thuật số với hàng nghìn người, nhưng lại khó tìm kiếm một mối quan hệ thực sự tin cậy.

Điều này đặt ra một câu hỏi triết học quan trọng: liệu vốn xã hội hiện đại có thể duy trì chiều sâu nhân văn nếu chỉ dựa trên hợp đồng và lợi ích?

Câu trả lời nằm ở chỗ, vốn xã hội chỉ thực sự bền vững nếu nó kết hợp được giữa đạo lý truyền thống và lý tính hiện đại; giữa tình nghĩa và pháp luật; giữa tự do cá nhân và trách nhiệm chung.

Khi đó, phát triển kinh tế không làm mất đi tính người, mà ngược lại, trở thành điều kiện để khẳng định phẩm giá và tính cộng đồng của con người.