Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Nghiên cứu đầu tiên về tình yêu

 

NGHIÊN CỨU ĐẦU TIÊN VỀ TÌNH YÊU

 

Trong nửa đầu của thế kỷ 20, nhiều nhà tâm lý học tin rằng thể hiện tình cảm với con trẻ chỉ đơn thuần là một cử chỉ tình cảm không mang lại mục đích gì. Tình cảm cha mẹ được coi là sự nuông chiều hoặc thậm chí là một thói xấu.

Theo nhiều nhà tư tưởng lúc bấy giờ, thể hiện sự yêu thương chỉ làm lây lan bệnh tật và dẫn đến nhiều vấn đề tâm lý ở người trưởng thành.

 

Tuy vậy, một nhà tâm lý học người Mỹ tên Harry Harlow đã rất hứng thú tìm hiểu một chủ đề không dễ gì định lượng và đo lường – chính là tình yêu. Trong một chuỗi các thí nghiệm gây tranh cãi được thực hiện trong suốt những năm 1960, Harlow đã mô tả được tác động mạnh mẽ của tình yêu, đặc biệt là sự thiếu vắng nó. 

Công trình của ông mô tả tác động thảm khốc của việc thiếu đi tình yêu thương ở khỉ Rhesus con. Harlow mô tả rằng sự phát triển lành mạnh thời thơ ấu nằm ở tình yêu thương và sự chăm sóc do cha mẹ và người chăm sóc cung cấp.

 

Thí nghiệm của Harlow thường bị coi là vô đạo đức và quá sức độc ác, tuy nhiên chúng lại khai mở nhiều sự thật cơ bản ảnh hưởng lên cách chúng ta hiểu về sự phát triển của trẻ.

 

Nghiên cứu của Harry Harlow về tình yêu.

Harlow để ý thấy rằng nghiên cứu thực nghiệm về tình yêu nhận được rất ít sự chú ý. Lúc bấy giờ, hầu hết các quan sát đều chủ yếu thuộc về triết học và giai thoại.

“Vì thiếu thử nghiệm, nên các học thuyết về bản chất nền tảng của tình yêu thương chỉ phát triển đến mức quan sát, trực giác và phỏng đoán, dù là được nghiên cứu bởi nhà tâm lý học, nhà xã hội học, nhà nhân chủng học, bác sĩ hay nhà phân tâm học,” ông lưu ý.

 

Lúc bấy giờ, nhiều học thuyết hiện có về tình yêu đều tập trung vào ý tưởng cho rằng gắn bó thời thơ ấu giữa mẹ và con chỉ đơn thuần là một phương thức để trẻ có được thức ăn, giải khát, và tránh bị đau. Tuy vậy, Harlow lại tin rằng quan điểm theo thuyết hành vi này về gắn bó mẹ con là một cách giải thích thiếu thỏa đáng.

Mối quan hệ mẫu tử cung cấp không chỉ là thức ăn và sự bảo vệ, Harlow phát biểu. Kết nối này còn mang lại tình yêu và sự yêu thương, và ông tin rằng, chính điều đó mới là thành tố tối quan trọng cho sự phát triển lành mạnh của trẻ.

 

Thí nghiệm khỉ mẹ.

Thí nghiệm nổi tiếng của ông được thực hiện trên khỉ rhesus con bằng cách cho chúng lựa chọn hai “khỉ mẹ” khác nhau. Một con được làm từ vải bông mềm nhưng không cho ăn. Con còn lại làm từ thép nhưng cung cấp dưỡng chất từ bình sữa trẻ em.

Harlow tách khỉ con khỏi khỉ mẹ thật một vài giờ sau sinh và để chúng được “nuôi” bởi những khi mẹ giả này. Thí nghiệm mô tả rằng khỉ con dành phần lớn thời gian với khỉ mẹ vải hơn là với khỉ mẹ dây thép.

Nói cách khác, khỉ sơ sinh sẽ tìm đến khỉ mẹ dây thép chỉ vì thức ăn nhưng thích dành thời gian nhiều hơn bên khỉ mẹ vải bông mềm để được thoải mái khi không cần ăn.

 

Dựa trên phát hiện này, Harry Harlow kết luận rằng tình yêu thương là yếu tố nền tảng nằm sau nhu cầu tiếp xúc thân mật.

Nghiên cứu này mô tả tầm quan trọng của tình yêu thương, đặc biệt là “sự thoải mái tiếp xúc” lên sự phát triển lành mạnh thời thơ ấu. Trẻ gắn bó với người chăm sóc mang đến cho chúng sự ấm áp và tình yêu thương, và tình yêu thương này không chỉ đơn thuần dựa trên cung cấp chất dinh dưỡng.

 

Tại sao thí nghiệm làm giả khỉ mẹ lại thiếu đạo đức?

Thí nghiệm khỉ mẹ của Harlow thiếu đạo đức vì cách người làm thí nghiệm đối xử với khỉ con. Thí nghiệm khỉ mẹ này tàn nhẫn một cách không cần thiết. Khỉ con thiếu đi sự chăm sóc mẫu tử và tiếp xúc xã hội.

Trong những thí nghiệm sau này, Harlow hoàn toàn cô lập những con khỉ trong một thứ mà ông gọi là “hố sâu tuyệt vọng.” Tác động từ sự thiếu thốn này gây hậu quả nghiêm trọng cho những con khỉ con bị giam cầm. Mặc dù thí nghiệm mang đến cái nhìn sâu hơn về tầm quan trọng của tiếp xúc thân mật lên sự phát triển sớm thời thơ ấu nhưng thí nghiệm này quá mức tàn nhẫn và vô đạo đức.

 

Nghiên cứu sau này của Harry Harlow.

Nghiên cứu sau này mô tả rằng khỉ con sẽ tìm đến khỉ mẹ vải bông để có được sự thoải mái và an toàn. 

Harlow tận dụng kỹ thuật “tình huống kỳ lạ” tương tự như kỹ thuật được tạo ra bởi nhà nghiên cứu về tính gắn bó Mary Ainsworth. Khỉ con được cho khám phá căn phòng hoặc có mặt hoặc không có mặt của khỉ mẹ giả.

Khỉ con nào ở với khỉ mẹ vải sẽ coi khỉ mẹ vải như một chốn nương tựa an toàn để khám phá căn phòng. Khi khỉ mẹ giả bị mang đi khỏi phòng, tác động để lại là cực kỳ ghê gớm. Khỉ con không còn chỗ an toàn để khám phá và thường sẽ co rụt lại, cúi gằm, lắc lư, la hét và khóc rống lên.

Thí nghiệm của Harry Harlow mang đến bằng chứng không thể chối cãi rằng tình yêu thương mang tính sống còn cho sự phát triển bình thường ở trẻ. Các nghiệm khác sau này của Harlow tiết lộ sự tàn phá lâu dài do bởi sự thiếu thốn tình yêu thương, đưa đến các vấn đề tâm lý, tổn hại tinh thần nghiêm trọng, thậm chí tử vong cho chủ thể.

 

Tác động của nghiên cứu.

Công trình của Harlow, cũng như nghiên cứu quan trọng của các nhà tâm lý học John Bowlby và Mary Ainsworth, đã giúp tác động, tạo nên những thay đổi chính yếu trong cách tiếp cận chăm sóc trẻ của các trại trẻ mồ côi, các cơ quan nhận con nuôi, các nhóm dịch vụ xã hội và các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ.

Công trình của Harlow giúp ca ngợi và gợi ra vô vàn nghiên cứu về tình yêu, sự yêu thương và các mối quan hệ giữa người với người.

 

Công trình nghiên cứu của Harry Harlow từng gây tranh cãi lúc bấy giờ và tiếp tục thu hút phê bình cho đến ngày nay. Mặc dù những thí nghiệm như thế này cho thấy thế tiến thoái lưỡng nan lớn về đạo đức, nhưng công trình của ông đã giúp truyền cảm hứng cho một sự thay đổi trong cách ta nghĩ về con trẻ và sự phát triển, giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn cả bản chất và tầm quan trọng của tình yêu.

 

St

 

Tấm gương phản chiếu đặc biệt mang tên ‘trẻ em’

 

TẤM GƯƠNG PHẢN CHIẾU ĐẶC BIỆT MANG TÊN ‘TRẺ EM’

 

Trẻ nhỏ bắt chước các hành vi xã hội thông qua việc quan sát bằng mắt, lắng nghe bằng tai từ những người, những sự việc mà trẻ thấy. Vì vậy, vai trò của người lớn cực kỳ quan trọng, là tấm gương để trẻ bắt chước, soi chiếu và hình thành tính cách.

Albert Bandura - nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ đã chứng minh rằng, sự bắt chước không chỉ ảnh hưởng đến hành vi của con người mà còn ảnh hưởng đến tư duy và cảm xúc của họ, đặc biệt là với trẻ em ở giai đoạn dưới 6 tuổi. Vì vậy, vai trò của người lớn cực kỳ quan trọng, là tấm gương để trẻ bắt chước, soi chiếu và hình thành tính cách. Người Việt xưa cũng đúc kết bằng câu ca dao "Lá vàng là bởi đất khô - Nhìn cây sửa đất - Nhìn con sửa mình".

 

"Nếp nhà" - Môi trường nhào nặn nên tính cách con trẻ

Qua nghiên cứu về trẻ nhỏ, tiến sĩ, bác sĩ, nhà giáo dục Maria Montessori cũng khẳng định rằng: "Bắt chước là bản năng đầu tiên của một trí tuệ nảy mầm".

Theo tâm lý học, trẻ nhỏ bắt chước các hành vi xã hội thông qua việc quan sát bằng mắt, lắng nghe bằng tai từ những người, những sự việc mà trẻ thấy. Đây là một quá trình phát triển tâm lý tự nhiên mà chúng ta sẽ thấy ở tất cả các trẻ nhỏ, diễn ra mạnh mẽ ở giai đoạn vàng 0-6 tuổi. Những thói quen tưởng chừng như vô hại của người lớn thực sự có tác động rất lớn đến sự phát triển của trẻ nhỏ.

 

Việc bắt chước của trẻ diễn ra ở cả hành vi tích cực và hành vi tiêu cực. Trẻ bắt chước các hành vi của ba mẹ thể hiện rằng não bộ của con đang phát triển tốt. Đó cũng chính là nhu cầu khám phá của trẻ nhỏ.

Để có thể bắt chước những hành động của ba mẹ, con cần quan sát, phân tích chúng, ghi nhớ thông tin và cuối cùng là thực hiện theo. Vì vậy, thực chất bắt chước cũng là một quá trình học hỏi của trẻ. Việc con bắt chước nhanh và chính xác hành động của ba mẹ chứng tỏ rằng con có thể quan sát và tư duy tốt.

 

Ở Việt Nam, không khó để bắt gặp những lời nói dối mà ba mẹ cho là vô hại như việc đưa con đến bệnh viện khám hoặc tiêm phòng nhưng lại nói rằng đưa con đi công viên. Có thể các bậc Phụ huynh nghĩ rằng, những lời nói dối ấy là tốt cho con mà không nghĩ rằng con có lẽ đã đã bị tổn thương.

Đến độ tuổi trưởng thành, con có thể tư duy logic và hiểu rằng tại sao ba mẹ lại làm như vậy, nhưng nếu con còn nhỏ, con sẽ luôn nhớ tới việc mình bị lừa dối khi ba mẹ nói muốn đưa con đi công viên.

 

Hoặc thực trạng "thích xem, lười đọc" đang ngày càng trở nên phổ biến ở cả người lớn và trẻ nhỏ. Ba mẹ không thể yêu cầu trẻ yêu thích đọc sách còn mình thì thoải mái với các thiết bị điện tử như điện thoại, ipad...

Văn hóa đọc hình thành nơi trẻ bắt đầu từ cha mẹ. Một đứa trẻ hàng ngày nhìn thấy mẹ cha say sưa đọc sách, lớn lên cùng sách có thể sớm phát triển nhân cách ngay từ giai đoạn đầu cuộc đời.

Bắt chước giúp trẻ phát triển não bộ và hành vi

 Ở chiều ngược lại, sẽ có lúc trẻ bắt chước các hành vi tiêu cực như cáu gắt, nổi nóng với những người xung quanh, vứt đồ đạc bừa bãi... vì vô tình nhìn thấy người lớn cư xử như vậy. Đây là hành động bắt chước này nhằm gây sự chú ý của người lớn. Lúc nãy, hãy bình tĩnh hướng dẫn và điều chỉnh con kịp thời.

 

Tạo nếp sống tốt trong chính gia đình của mình với những quy tắc cơ bản chính là tạo cho trẻ môi trường phát triển lành mạnh. Vì vậy, trước khi mong cầu con cái trở thành một người tốt trong tương lai, hãy làm mẫu ở hiện tại.

 

Trường học - Ngôi nhà thứ 2 để con phát triển toàn điện

Để con phát triển trí tuệ cảm xúc và hoàn thiện nhân cách, ba mẹ nên tìm kiếm môi trường giáo dục mà tại đó, con được tôn trọng và hướng về những điều tích cực.

Thực tế, ba mẹ có thể quan sát được tình yêu thương với trẻ nhỏ của một môi trường giáo dục thông qua sự tôn trọng mà trường học dành cho con.

Ví dụ, khi ở trường, các con có thể tự do lựa chọn hoạt động học tập yêu thích, thể hiện quan điểm, cảm nhận của mình về các vấn đề... Bằng lời nói và hành động nhẹ nhàng, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ con biết cách làm, biết cách thức hoạt động của lớp học, không can thiệp, làm ngắt quãng khi con tập trung làm việc.

Trẻ cần được tôn trọng từ những điều nhỏ nhất trong môi trường học tập của mình

"Trăm nghe không bằng một thấy." Những lời lẽ giáo điều chưa chắc trẻ tiếp thu, nhưng những lời nói, hành vi của cha mẹ, thầy cô, những người gần gũi với chúng nhất, sẽ rất dễ làm cho con ghi nhớ, bắt chước và làm theo.

Giáo viên và nhà trường đồng thời là cầu nối giữa ba mẹ và con cái giúp ba mẹ dễ dàng hơn trong việc bước vào thế giới của con, làm bạn với con, đồng thời tác động lớn đến sự nhất quán giữa phương pháp giáo dục tại trường và tại gia đình

 

Bên cạnh đó, để phát triển thể chất, trí tuệ và kỹ năng, trẻ cần có không gian riêng và được khuyến khích làm những việc mà mình yêu thích.

Môi trường học tập lý tưởng cho trẻ là nơi con được tham gia các hoạt động học tập, trải nghiệm để phát triển đầy đủ về thể chất, kỹ năng xã hội, tình cảm, thẩm mỹ và nhận thức thông qua các bài học và hoạt động, tạo cho trẻ ý thức độc lập, tự kỷ luật, khả năng tập trung và sự nhạy bén với môi trường xung quanh; phát triển sự tự tin, khả năng tư duy, sáng tạo & khơi dậy được sự ham thích học tập vốn có của trẻ.

Một môi trường giáo dục tốt giúp trẻ rèn luyện tính tự lập

Thực tế chứng minh rằng, hiệu quả giáo dục không đơn thuần thu gọn trong phạm vi kết quả học tập của con mà là cả quá trình con thay đổi thói quen, tác phong theo ngày tháng. Đó chính là cốt lõi hình thành nên một đứa trẻ trí tuệ đa tài.

Qua thời gian, mỗi đứa trẻ đều sẽ tích lũy kiến thức và phát triển các kỹ năng của bản thân theo cách riêng, nhưng hiệu quả giáo dục sẽ tăng lên nhiều lần nếu có phương pháp giáo dục đúng cách và phù hợp. Và đó cũng chính là nền tảng cốt lõi cho sự phát triển của trẻ trong tương lai.

 

Quang Vũ