Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước: Chuyện tình “Hương Giang dạ khúc”

 

NHẠC SĨ LƯU HỮU PHƯỚC: CHUYỆN TÌNH “HƯƠNG GIANG DẠ KHÚC”

 

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921-1989) sinh ra và lớn lên ở Ô Môn - Cần Thơ. Mảnh đất phù sa Tây Đô đã ngấm những cung bậc đờn ca tài tử vào ông ngay từ thuở mới lọt lòng. Cậu bé Lưu Hữu Phước học cổ nhạc với các cụ gần nhà, rồi tự học tân nhạc. Năm 16 tuổi, Lưu Hữu Phước đã viết ca khúc đầu tay “Non sông gấm vóc”.

 

Tốt nghiệp trung học ở trường Petrus Ký, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học Trường cao đẳng Y Dược. Thế nhưng, khoảng thời gian 1940-1944, trên phố phường Thăng Long không tạo ra một bác sĩ lành nghề, mà lại hun đúc một nhạc sĩ trứ danh.

 

Chứng kiến đất nước đang bị giày vò bởi ngoại xâm, Lưu Hữu Phước đã viết hàng chục ca khúc cổ vũ tinh thần yêu nước và chí khí thanh niên: “Người xưa đâu tá”, “Bạch Đằng giang”, “Ải Chi Lăng”, “Hồn tử sĩ”, “Thượng lộ tiểu khúc”, “Hờn sông Gianh”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Ta đi cùng”, “Xếp bút nghiên”, “Tiếng gọi thanh niên”, “Bài hát thiếu sinh quân”, “Thiếu nữ Việt Nam”, “Việt nữ gọi đàn”…

 

Sau 20 năm hoạt động trên đất Bắc, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước trở lại chiến trường miền Nam năm 1965, lần lượt đảm nhận các vị trí Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa của Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Hai bài hát quan trọng của Lưu Hữu Phước góp phần trực tiếp cho cuộc thống nhất non sông là “Giải phóng miền Nam” và “Tiến về Sài Gòn”.

 

Dù chưa ai đưa ra thống kế chính xác, nhưng nhạc sĩ Lưu Hữu Phước có lẽ là một trong những người viết hùng ca nhiều nhất trên thế giới. Tuy nhiên, trong gia tài của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước cũng có một bản tình ca, tên là “Hương Giang dạ khúc”.

 

Sinh thời, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước không công bố “Hương Giang dạ khúc”, nhưng nhiều đồng nghiệp của ông vẫn truyền tụng giai thoại lãng mạn xung quanh bài hát này.

Theo chính bút tích của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước thì “Hương Giang dạ khúc” được viết năm 1943. Đặc biệt hơn, trên bản thảo “Hương Giang dạ khúc” có mấy chữ đề tặng “Thương về Thu Hương”. Vậy người được gọi trìu mến “Thu Hương” có ý nghĩa gì trong bài hát?

 

“Thu Hương” là cô gái Huế từng viết thư bày tỏ sự hâm mộ dành cho nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, khi ông đang học Y Dược ở Hà Nội. Lá thư đầu tiên, Thu Hương viết bằng tiếng Pháp khiến nhạc sĩ Lưu Hữu Phước không hài lòng. Ông hồi âm: “Thưa cô, cô là người Việt, mà tôi cũng là người Việt, không hiểu tại sao cô lại viết thư cho tôi bằng tiếng Pháp? Vì thế cô cho phép tôi trả lời cô bằng tiếng Việt”.

 

Thư sau, Thu Hương bộc bạch: “Vì tôi quý trọng nhạc sĩ lắm, nhưng mà tôi là con gái không có quyền gọi nhạc sĩ bằng Anh mà gọi bằng Ông thì xa xôi quá. Vì thế tôi đã mượn tiếng Pháp để tự xưng là Je (tôi) và gọi nhạc sĩ bằng Vous (anh) một cách bình thường mà lại giữ được sự thân mật. Nếu điều đó đã vô tình làm nhạc sĩ bực bội thì tôi xin nhận lỗi vậy”.

 

Thư đi thư lại, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước rất cảm mến Thu Hương. Nhân một chuyến tàu từ Nam ra Bắc, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đã quyết định dừng lại Huế để tìm… Thu Hương.

Đáng tiếc địa chỉ mà Thu Hương ghi trên thư chỉ là nơi… nhận giùm. Không gặp được người trong mộng, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước tìm một chỗ quen tá túc. Danh tiếng như Lưu Hữu Phước lúc ấy thì nhiều người quý mến lắm.

Trong ngôi nhà mà nhạc sĩ Lưu Hữu Phước dừng chân, có một cô gái tên Lan tình nguyện dắt ông đi thăm thú xứ Huế. Theo chân nàng Lan đi khắp miền sông Hương núi Ngự, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước vẫn ngơ ngẩn nghĩ về Thu Hương.

 

Và bài hát “Hương Giang dạ khúc” ra đời vào cái đêm nhạc sĩ Lưu Hữu Phước ngỡ rằng mình đã bị vụt mất mối tình đẹp: “Nhón chân bước xuống thuyền, tình tôi thương nhớ… Làn hương thu, mờ trong bóng chiều, vờn rung nắng ngà, nhẹ đưa đưa xa, làn hương thu…”.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước có biết đâu, “làn hương thu” mà ông gọi thầm thì chính là… Lan! Vâng, chính là Lan đã dùng tên Thu Hương để viết thư cho nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, nhưng đứng trước mặt thần tượng thì cô không dám thú nhận điều đó. Rồi sự đời vần xoay, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và người đẹp Thu Hương không còn liên lạc nữa.

 

Giáo sư Trần Văn Khê kể, năm 1961 có dịp ghé New York và gặp một phụ nữ Huế theo chồng định cư ở đó. Người phụ nữ tên Lan dò hỏi: “Ông có biết bài hát “Hương Giang dạ khúc không?”. Giáo sư Trần Văn Khê trả lời bằng cách hát nguyên cả bài hát “Hương Giang dạ khúc”. Nghe xong, bà Lan ôm mặt khóc và thổ lộ bà là Thu Hương đã thành cảm hứng cho nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác vào năm 1943.

 

Năm 1976, Giáo sư Trần Văn Khê đã trực tiếp kể lại câu chuyện trên cho nhạc sĩ Lưu Hữu Phước nghe. Giáo sư Trần Văn Khê nói thêm, “Thu Hương” bất hạnh qua đời vì một tai nạn giao thông ở Mỹ năm 1967. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước im lặng, rồi lấy tay lau nước mắt.

Gia Quan

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2025

Phương pháp “ngủ nhanh” của Tôn Tư Mạc và 10 cách dưỡng sinh

 

PHƯƠNG PHÁP “NGỦ NHANH” CỦA TÔN TƯ MẠC VÀ 10 CÁCH DƯỠNG SINH

 

Tôn Tư Mạc là danh y thời Đường, người đời tôn xưng ông là “Vua thuốc”. Bộ sách Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương, do ông biên soạn là bộ bách khoa lâm sàng sớm nhất của Trung Quốc. Bài viết này chia sẻ phương pháp “ngủ nhanh” của Tôn Tư Mạc cùng 10 cách dưỡng sinh của ông.

Phương pháp “ngủ nhanh” của Tôn Tư Mạc

Phương thuốc này gồm hai vị dược liệu: táo đỏ và phần trắng của hành lá.

– Táo đỏ: Bồi bổ tâm tỳ, bổ khí huyết, cường kiện gân cốt.

– Phần trắng hành lá: Phát tán hàn tà, thông sướng dương khí, điều hòa cơ thể, khiến khí cơ lưu thông không trở ngại.

Hai vị thuốc phối hợp giúp tăng khí huyết và thúc đẩy lưu thông khí huyết.

Nguyên liệu: 20 quả táo đỏ, 5 đoạn phần trắng hành lá.

 

Cách làm:

– Cho táo đỏ vào nồi, thêm 1 bát nước sạch, đun sôi to lửa 20 phút.

– Sau đó cho 5 đoạn hành trắng vào, đun thêm 10 phút.

– Ăn táo, uống nước canh. Dùng vào 1 tiếng trước khi đi ngủ mỗi tối.

 

Công hiệu: An thần trấn tĩnh, hỗ trợ điều trị mất ngủ.

Đối tượng áp dụng: Mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư.

10 cách dưỡng sinh của Tôn Tư Mạc

1. Chải đầu khô

Xoa hai lòng bàn tay vào nhau 36 lần cho nóng, sau đó từ trán vuốt lên đỉnh đầu, qua sau gáy xuống cổ. Sáng tối mỗi lần làm 10 lần.

Đầu có nhiều huyệt vị quan trọng, thường xuyên “chải đầu” giúp ngăn ngừa đau đầu, ù tai, tóc bạc và rụng tóc.

 

2. Xoay tròn nhãn cầu

Nhắm mắt, sau đó mở to mắt, nhãn cầu xoay vòng, nhìn lần lượt về trái – trên – phải – dưới, lặp lại 3 lần.

Giúp bảo vệ mắt, hỗ trợ cải thiện cận thị.

 

3. Gõ răng

Miệng khép hờ, răng trên răng dưới gõ nhẹ vào nhau (không cần dùng lực mạnh), phải phát ra tiếng, gõ 36 lần. Thông kinh lạc hàm trên dưới, giữ đầu óc tỉnh táo, tăng hấp thu dạ dày, phòng sâu răng và thoái hóa xương răng.

 

4. Xoa mặt khô

Xoa tay 36 lần cho ấm, sau đó xoa mặt từ trên xuống dưới; tay ấm rồi nhẹ nhàng vuốt ra ngoài

thường xuyên làm giúp da mặt hồng hào, bóng mịn, giảm nếp nhăn.

 

5. Xoay đầu

Hai tay chống hông, nhắm mắt, cúi đầu, từ từ xoay sang phải đến khi về vị trí ban đầu (tính 1 lần), làm 6 lần, sau đó đổi chiều. Giúp đầu óc linh hoạt, phòng tăng sinh đốt sống cổ. Lưu ý: Làm chậm rãi, nếu không sẽ chóng mặt.

 

6. Vặn eo

Cơ thể và hai tay đung đưa nhịp nhàng. Khi vặn sang trái: tay phải phía trước, tay trái phía sau; tay trước nhẹ vỗ bụng dưới, tay sau nhẹ vỗ huyệt Mệnh Môn. Đổi chiều lặp lại.

Tối thiểu 50 lần, 100 lần càng tốt. Cường kiện dạ dày, cố thận khí, phòng khó tiêu, đau dạ dày, đau lưng.

 

7. Thường xoa bụng

Xoa tay 36 lần cho ấm, hai tay đan chéo, xoay theo chiều kim đồng hồ quanh rốn. Phạm vi từ nhỏ đến lớn, xoa 36 lần. Giúp tiêu hóa, hấp thu, giảm đầy hơi.

 

8. Thường vặn đầu gối

Hai chân khép sát, đầu gối dính nhau, người hơi ngồi xổm, hai tay đặt lên đầu gối, xoay sang trái phải, mỗi bên 20 lần. Cường kiện khớp gối. Dân gian nói: “Người già trước hết chân yếu, thận hư trước hết gối mềm”. Muốn trường thọ, nên bắt đầu từ đôi chân.

Lưu ý: Người bị bệnh khớp gối, khớp háng nên thận trọng.

 

9. Thường đi bộ

Ngực ưỡn thẳng, đi bộ thư thái. Tốt nhất là tâm không tạp niệm, tận hưởng cảnh vật ven đường.

Dân gian nói: “Ăn cơm xong đi dạo một chút, sống đến chín mươi chín”.

 

10. Thường xuyên xoa bàn chân

Tay phải xoa chân trái, tay trái xoa chân phải: từ gót chân lên ngón chân, rồi xoa ngược về gót (tính 1 lần), làm 36 lần. Dùng ngón cái luân phiên xoa huyệt Dũng Tuyền ở lòng bàn chân, 100 lần.

Bàn chân tập trung vùng phản xạ của toàn thân, thường xuyên xoa chân giúp cường kiện nội tạng, đồng thời giảm mất ngủ, cao huyết áp, đau đầu.

 

Tiểu Hoa

 

Khoảng trời riêng đặc biệt của thơ

 

KHOẢNG TRỜI RIÊNG ĐẶC BIỆT CỦA THƠ

Theo tôi, vu vơ hay lơ ngơ đó là khoảng trời riêng đặc biệt của thơ. Đó là những khoảnh khắc nhà thơ tự thoát mình khỏi mọi vướng bận, để có thể tự do đi lơ ngơ giữa cuộc đời, và viết được bài thơ lơ ngơ cho riêng mình.

 

Đã từng có những câu thơ khuyết danh dễ thương như thế này:

Lạnh lùng thay láng giềng ơi

Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều. 

 

Đây là thơ khuyết danh chứ không phải ca dao. Có thể xếp dạng thơ này vào dạng "thơ vu vơ” được không? Dù cái vu vơ này có nhằm tới đích. Đích thì đã rõ. Nhưng hai câu thơ này khiến người ta nhớ. Tự nhiên tôi cũng nhớ, dù không biết mình đọc ở đâu, từ bao giờ.

Có thể nói đó là thơ vu vơ găm vào ta một cách cũng vu vơ. Nó vừa tỏ vừa mờ, vừa lãng đãng vừa nhắm đích. Nhưng nó chỉ dừng lại ở đó.

 

Tôi nhớ một bài thơ của Tế Hanh, không thuộc thơ vu vơ, mà thuộc thơ lơ ngơ. Đó là cái chất của một nhà thơ vừa giản dị hồn nhiên vừa đặc biệt như Tế Hanh. Bài thơ ấy của ông trước hết găm vào tôi hai câu thơ: 

 

Phố này anh đến tìm em

Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây. 

 

Đó là hai câu thơ không thể giản dị hơn, nhưng cũng không thể kỳ lạ hơn. Làm nên cảm giác đặc biệt ấy vì hai câu thơ này rất… lơ ngơ. Và lơ ngơ là cái chất sâu thẳm của Tế Hanh và của thơ ông. Cả bài thơ thế này:

 

HÀ NỘI VẮNG EM

 

Thế là Hà Nội vắng em
Anh theo các phố đi tìm ngày qua
Phố này ở cạnh vườn hoa
Nhớ khi đón gió, quen mà chưa thân
Phố này đêm ấy có trăng
Cùng đi một quãng nói bằng lặng im
Phố này anh đến tìm em
Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây
Anh theo các phố đó đây
Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em

 

Nếu tôi nhớ không nhầm, thì “em” đây là một nữ nhà thơ, có thật, chứ không phải do Tế Hanh tưởng tượng ra. Tôi nhớ, một lần cũng lâu tới gần ba chục năm rồi, Tế Hanh với tôi và Nguyễn Thụy Kha cùng ngồi một quán ven hồ với “em” này. Rất vui và rất tình cảm. Đúng là Tế Hanh có "cảm” em này thật. Và tôi với Thụy Kha thì tích cực vun vào.

 

Chỉ vậy thôi. Và Tế Hanh có bài thơ ngắn mà tôi cho là một kiệt tác của thơ ông. Chỉ 10 câu thơ lục bát, Tế Hanh đã thể hiện trọn vẹn tính “lơ ngơ” của ông trong bài thơ này. Và khi “người qua lại” là người thành phố, không phân biệt được nhà thơ cao tuổi này lơ ngơ tìm cái gì, “bóng em” hay “bóng cây”, thì chỉ nhà thơ biết, riêng mình ông biết mà thôi.

 

Bây giờ có nhiều nhà thơ làm thơ tân kỳ, theo những xu hướng thơ mới nhất trên thế giới, nhưng rất ít, hoặc không có nhà thơ nào làm được những bài thơ vu vơ, nhất là những bài thơ lơ ngơ như thơ Tế Hanh. Mà theo tôi, vu vơ hay lơ ngơ đó là khoảng trời riêng đặc biệt của thơ. Đó là những khoảnh khắc nhà thơ tự giải thoát mình khỏi mọi vướng bận, để có thể tự do đi lơ ngơ giữa cuộc đời, và viết được bài thơ lơ ngơ cho riêng mình.

 

Thơ phải được viết đầu tiên cho chính nhà thơ là tác giả, sau đó mới tới cho người đọc. Tôi có cảm giác, khi viết được bài thơ lơ ngơ này, Tế Hanh đã nhìn lên vòm cây Hà Nội, dù lúc ấy mắt ông đã rất kém.   

 

Thanh Thảo