Thứ Tư, 27 tháng 8, 2025

Đức Phật và những di huấn sau cùng

 

ĐỨC PHẬT VÀ NHỮNG DI HUẤN SAU CÙNG

Ngài nói: “Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến 80 tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng”.

Trăn trở trước những vấn đề mà Tăng đoàn chuẩn bị đối mặt khi Ngài sắp nhập diệt, Ngài tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo”.

 

Làm lợi ích cho đời

“Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các ngươi, các ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”.

Pháp mà Đức Phật nhắc đến được xây dựng dựa trên nền tảng Giới, Định, Tuệ.

Mối quan hệ của ba phần này không thể phân ly. Nhờ trí tuệ mới đưa đến đoạn trừ phiền não, ô nhiễm, giống như lưỡi gươm cắt đứt mối dây ràng buộc.

 

Chúng ta chỉ có thể đạt được an lạc, hạnh phúc, lợi ích thật sự khi có trí tuệ, chứ không phải cầu xin một đấng nào đó ban rải bởi không thể chuyển hóa bằng niềm tin. Vì vậy mà Đức Phật nhấn mạnh chúng Tỷ-kheo cần phải học hỏi, tu tập thực chứng Chánh pháp để đạt được trí tuệ, đây mới là tài sản quý báu nhất của người tu.

Muốn độ sinh trước hết phải học tập phương pháp cứu độ. Khi các vị Tỷ-kheo đã nỗ lực học hỏi giáo pháp thì cần phải dấn thân, vào trong thế gian hóa độ chúng sinh, mong tất cả chúng sinh đều hưởng được pháp vị giải thoát, chứ không phải cầu lợi ích cho riêng mình.

 

Thiết lập hòa hợp

Trước khi vào Niết-bàn, Đức Phật cũng đã dặn dò rất kỹ lưỡng. Mỗi lời nói được nghe từ bất cứ người nào, các Tỷ-kheo không nên vội tán thán hay hủy báng lời nói ấy mà mỗi chữ, mỗi câu phải được đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, Luật thì những lời ấy là lời dạy của Thế Tôn.

Sâu sắc hơn nữa, Ngài cũng chỉ dạy những chi tiết nhỏ nhặt như: “Vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa hay Ðại đức nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt”.

 

“Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về Đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo các người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: Bậc Ðạo sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.

Để tránh sự nghi ngờ, không hiểu rõ về giáo lý của các đệ tử, những giây phút cuối cùng, Đức Phật cũng ân cần hỏi han nếu có chỗ nào cần hỏi thì phải hỏi kỹ, để tránh phải hối tiếc về sau.

 

Di nguyện cuối cùng

“Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ”. Trong sự bao la của tâm trí con người, bất cứ khi nào chúng ta thấy được bản chất sâu sắc của một cái gì đó thì đó mới chính là thứ quý giá nhất. Thấy được bản chất của vũ trụ nhân sinh là vô thường nên lời sau cùng Ðức Phật đã nhắc đến các hành là vô thường.

 

Giáo huấn về sự vô thường của cuộc đời để khích lệ tinh thần thoát ly, đừng bám víu vào cuộc đời. Nhìn sự vô thường của cuộc đời, có hai thái độ xảy ra, một là vì cuộc đời là vô thường nên tận dụng cơ hội để tu tập không để cho thời gian trôi qua một cách trống rỗng.

Hai là vì cuộc đời là vô thường nên vội vã hưởng thụ, sống buông thả không có trách nhiệm gì, thái độ thứ hai này là của hạng phàm phu không biết thánh đạo, không xu hướng thánh đạo.

Lời khích lệ của Ðức Phật đối với đệ tử rất thiết tha rõ ràng và hợp lý. Giáo pháp đã được dạy cần phải hành trì, đời sống ngắn ngủi đừng để trôi qua một cách vô ích. Phải tự mình nỗ lực tiến lên đừng ỷ lại vào ai, ngay cả chính Ðức Phật, vì Ngài chỉ là người chỉ đường.

 

Những lời dạy cuối cùng của Đức Phật đã tác động đến Tăng đoàn thời hiện tại một cái nhìn tích cực hơn, nâng cao tinh thần tự giác, trách nhiệm, hòa hợp. Xoáy sâu vào tu tập cốt lõi Chánh pháp, chủ trương tự giải thoát là chính, đồng thời liên hệ chặt chẽ với xã hội để truyền bá Chánh pháp, thể hiện tinh thần độ tha.

Tinh thần này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc tu tập, sự hưng thịnh của Tăng đoàn và của Phật giáo từ quá khứ đến hiện tại và cho cả tương lai.

Theo Báo Giác Ngộ

 

 

 

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2025

Ngôn ngữ của các loài hoa: Lời ít, ý nhiều

 

NGÔN NGỮ CỦA CÁC LOÀI HOA: LỜI ÍT, Ý NHIỀU

Những đóa hoa thay lời muốn nói.

Không phải nói rằng tôi hối tiếc vì đã tặng bó hoa ấy từ đầu. Tôi đã ở cùng một gia đình trong suốt chương trình nghiên cứu giảng dạy ở Ý, và bó hoa này là món quà sinh nhật dành cho mẹ nuôi của tôi vào năm ngoái, bởi vì bà rất thích hoa. Sau đó, tôi nhận ra rằng tôi đã không suy xét đầy đủ về ý nghĩa thực sự của những bông hoa tôi chọn đối với bà.

Tất nhiên, từ lâu tôi đã cho rằng một cơ duyên như vậy khó mà xuất hiện, bởi vì ngôn ngữ của các loài hoa hầu như không còn phổ biến nữa. Ôi, thật hiếm có người nào vừa biết ngôn ngữ của hoa, lại vừa cho rằng người tặng đã chọn những đóa hoa đó theo ý nghĩa của chúng trong ngôn ngữ của các loài hoa.

Vì thế, tôi vừa kinh ngạc xen lẫn ngưỡng mộ khi con gái của mẹ nuôi thấy những đóa hoa hồng màu hồng xen lẫn những đóa hoa khác rồi hỏi ý nghĩa của chúng là gì.

Ngôn ngữ của các loài hoa (floriography), một cách truyền tải thông điệp thông qua những đóa hoa, đã trở nên phổ biến trong suốt thời kỳ Victoria. Các thế hệ sau này có lẽ bắt đầu cho rằng điều đó khá ủy mị và khoa trương. Nhưng tôi cho rằng thông lệ này thể hiện sự quan tâm đặc biệt và ý tứ sâu xa đằng sau một cử chỉ đơn giản.

Tác giả Louisa May Alcott dường như cũng vận dụng ngôn ngữ của các loài hoa trong tiểu thuyết “Little Women” (Những Người Phụ Nữ Bé Nhỏ). Bà miêu tả chi tiết các loài hoa mà từng cô gái nhà họ March đã trồng trong khu vườn của mình. Mỗi chị em gái đều lựa chọn các loài hoa tương ứng với tính cách của họ. Ví như, cô Jo có một khu vườn phản ánh bản tính bướng bỉnh của cô với những loài hoa “không bao giờ giống nhau trong hai mùa,” nhưng đặc biệt vào năm nay cô lại trồng hoa hướng dương, tượng trưng cho tính kiêu kỳ.

Trong tiểu thuyết “Anne Tóc Đỏ ở đảo Hoàng Tử Edward” (Anne of the Island), tác giả L.M. Montgomery miêu tả cách anh Gilbert hái hoa dâu tây Địa Trung Hải (arbutus), vốn có ý nghĩa là “em là người duy nhất anh yêu,” ngay trước khi cầu hôn cô Anne. Những đóa hoa mà anh Gilbert lựa chọn là rất phù hợp khi xét đến tâm trạng bối rối của cô Anne ở phần sau trong tiểu thuyết khi cô tin rằng người anh yêu là Christine Stuart.

Sau đó, cô Anne bỏ những đóa hoa violet (tượng trưng cho lòng chung thủy) của anh Roy sang một bên và lựa chọn những đóa linh lan của anh Gilbert (có ý nghĩa là hạnh phúc trở lại) để mang đến lễ tốt nghiệp. Ngoài việc tượng trưng cho hạnh phúc trở lại, linh lan là loài hoa mà Anne đã cài lên tóc tại hôn lễ của người bạn Diana. Vì vậy, việc anh Gilbert tặng loài hoa này có thể là một lời gợi nhớ về kỷ niệm Anne từng cài hoa này [lên tóc] trước đây và là một lời nhắc nhở về quê hương khi Anne đang học đại học xa nhà.

Thi hào William Shakespeare cũng nổi tiếng với việc vận dụng ngôn ngữ của các loài hoa, đặc biệt là trong vở “Hamlet.” Nàng Ophelia, tình yêu của Hamlet, phát điên do những sự kiện bi thương trong vở kịch. Khi trầm mình xuống nước, đầu nàng đội một vòng hoa. Trong cuốn sách “Flora Symbolica; or, the Language and Sentiment of Flowers” (Flora Symbolica; hoặc Ngôn Ngữ và Cảm Xúc của Các Loài Hoa) của tác giả John Ingram, ông lưu ý rằng theo ngôn ngữ của các loài hoa, mỗi đóa hoa trên vòng hoa Ophelia đội đều nhắc đến số phận bi thương của nàng. Trong số những loài hoa trên vòng hoa của nàng có hoa crow-flower, được biết đến với cái tên là “nàng thiếu nữ xinh đẹp của Pháp quốc,” và theo ông Ingram, sự kết hợp giữa hoa crow-flower và những loài hoa khác đã tạo thành một cụm từ liên quan đến “nàng thiếu nữ xinh đẹp [fayre mayde]”.

“Tất cả loài hoa đó đều là hoa dại, biểu thị cho trạng thái hoang mang trong tâm trí của chính nàng Ophelia xinh đẹp; và thứ tự diễn biến như sau … [:] Hoa crow-flower (nàng thiếu nữ xinh đẹp), hoa tầm ma (bị tổn thương sâu sắc), hoa cúc (tuổi thanh xuân), hoa long-purple (dưới bàn tay lạnh giá của tử thần). ‘Một thiếu nữ xinh đẹp bị tổn thương; tuổi thanh xuân của nàng nằm dưới bàn tay lạnh giá của tử thần.’ Thật khó để lựa chọn một vòng hoa nào phù hợp hơn cho nạn nhân của sự tàn nhẫn trong tình yêu này.”

Tôi đã đọc từ một số nguồn, và một nguồn cho rằng tác giả Jane Austen cũng vận dụng ngôn ngữ của các loài hoa, đặc biệt là trong tiểu thuyết “Pride and Prejudice” (Kiêu Hãnh và Định Kiến).

Tương tự như vậy, ngôn ngữ của các loài hoa gửi gắm ý tứ lớn lao và sự quan tâm vào những hành động nhỏ bé. Chỉ cần chúng ta chú tâm, thì cử chỉ nhỏ bé nhất cũng có thể mang theo ý nghĩa to lớn.

Thu Quý

 

Truyện ngắn của O. Henry: ‘Trong Lúc Chiếc Xe Hơi Đợi Khách’

 

TRUYỆN NGẮN CỦA O. HENRY: ‘TRONG LÚC CHIẾC XE HƠI ĐỢI KHÁCH’

Trong truyện ngắn “While the Auto Waits” (Trong Lúc Chiếc Xe Hơi Đợi Khách) của nhà văn O. Henry, ông cho thấy điều gì sẽ xảy ra khi con người không thể kết nối với nhau. Khi một cô gái trẻ gặp một chàng trai trẻ trong công viên, cả hai đều khoác lên mình lớp ngụy trang, che giấu con người thật của mình.

Sự chân thành và cởi mở có thể nuôi dưỡng những mối quan hệ đích thực và lâu dài, nhưng các nhân vật trong câu chuyện này lại giả vờ trở thành những người mà họ không phải, và mọi chuyện đã không kết thúc như họ mong đợi.

Một buổi tối trong công viên

Một cô gái trẻ đến công viên thành phố để đọc sách. Ban đầu, cô không hề chú ý đến chàng trai trẻ đang ngồi gần đó, nhưng anh đã để ý cô vài đêm gần đây, ở cùng chỗ cũ. Khi cô đánh rơi cuốn sách, cuối cùng anh cũng nhìn thấy cơ hội để làm quen với cô.

Tức khắc, chàng trai trẻ vội vàng nhặt lấy cuốn sách và trao nó lại cho cô. Sau khi anh đánh bạo nhận xét về thời tiết, cô gái mời anh ngồi xuống. “Thật ra, tôi cũng muốn anh ngồi lại,” cô nói. “Ánh sáng quá yếu để đọc sách. Tôi thích trò chuyện hơn.”

 

Chàng trai trẻ buông một lời nhận xét táo bạo về vẻ đẹp của cô. Điều đó là không thể chấp nhận được. Cô lập tức chỉnh đốn anh, khẳng định rằng mình là một quý cô, và anh nên cư xử lịch thiệp với cô như một quý cô. Anh nhanh chóng xin lỗi và, để trấn an anh, cô hướng sự chú ý của anh vào những người đang đi lướt qua.

 

Thấy cô chuyển chủ đề, “chàng trai trẻ nhanh chóng rũ bỏ vẻ tán tỉnh,” và như cô đề nghị, anh bắt đầu lớn tiếng suy đoán về cuộc sống cá nhân của những người đang đi ngang qua. Còn cô gái trẻ thì tỏ vẻ là một quý cô thượng lưu.

Cô dường như không quan tâm đến việc tìm hiểu bất cứ điều gì về những người qua đường. Thay vào đó, cô muốn cảm nhận và trải nghiệm “nhịp tim chung, vĩ đại, rộn ràng của nhân loại.”

 

Mặc dù cô vận trang phục rất bình thường, nhưng lại tự nhận mình thực sự là một quý cô giàu có và nổi tiếng. Cô quả quyết với anh rằng, tiếc là cô không thể tiết lộ danh tính của mình cho anh biết bởi vì anh sẽ nhận ra cô ngay lập tức.

Cô mặc quần áo giản dị (như cô nói, là lớp ngụy trang, có được nhờ người hầu gái) giúp cô ẩn danh, nhờ vậy mà cô có thể sống bình thường trong một khoảng thời gian ngắn. Chiếc xe hơi màu trắng sang trọng đậu ở góc công viên là của cô, nhưng tài xế của cô nghĩ rằng cô đang đi mua sắm.

 

Cô giải thích, cuộc sống của cô xoay quanh giới thượng lưu và sự nổi tiếng. Tuy giàu có, nhưng cô lại cảm thấy cuộc sống của mình và những người xung quanh rất tẻ nhạt, sáo rỗng, và điên rồ. Cô gái trẻ kể về những xu hướng đơn điệu, rỗng tuếch mà giới nhà giàu theo đuổi, nhưng lại liên tục thay đổi.

Đôi khi, cô thậm chí còn ước mình có thể kết hôn với một người đàn ông có địa vị thấp hơn: “Không một công việc nào là quá thấp kém nếu người đàn ông đó là người tôi muốn chọn.”

 

Rồi cô gái hỏi chàng trai về công việc của anh. Anh thú nhận rằng mình làm thu ngân ở nhà hàng bên kia đường. Bất chấp sự khác biệt về địa vị xã hội, chàng trai hỏi liệu anh có thể gặp lại cô không. Cô gái đi bộ ngang qua công viên về phía chiếc xe hơi màu trắng. Và anh cũng vậy.

 

[Thông qua câu chuyện này,] nhà văn Henry muốn truyền tải đến chúng ta thông điệp, như đại văn hào William Shakespeare từng nói: “Nếu quý vị yêu, hãy nói lên điều đó một cách trung thực.” Nếu chúng ta mong muốn bước vào một mối quan hệ thực sự với người khác, chúng ta phải chân thành, thủy chung, và trung thực.

 

Nhà văn Henry cho thấy những khó khăn nảy sinh từ sự giả dối. Khi chúng ta thiếu thành thật trong các mối quan hệ với người khác, chúng ta không thể thực sự kết nối với họ hoặc hình thành những mối quan hệ ý nghĩa và lâu dài.

 

O. Henry