Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2025

Tâm lý học đám đông: quan trọng và độc đáo


TÂM LÝ HỌC ĐÁM ĐÔNG: QUAN TRỌNG VÀ ĐỘC ĐÁO

Tâm lý học đám đông của Gustave Le Bon được viết năm 1895 và ở phương Tây từ lâu đã được coi là tác phẩm kinh điển, không chỉ trong lĩnh vực tâm lý học mà cả trong xã hội học nói chung. Ở ta đến bây giờ nó mới xuất hiện, quá muộn, nhưng dẫu sao cũng là dấu hiệu đáng mừng.

 

Gustave Le Bon sinh năm 1841, mất năm 1931. Năm 1871, khi diễn ra Công xã Paris, ông vừa tròn 30 tuổi, ông đã sống trọn sự kiện to lớn đánh dấu thời kỳ hiện đại đó, chịu chấn động dữ dội và sâu sắc của nó, càng đặc biệt đối với một con người đã quyết định đi theo con đường trở thành nhà tâm lý học.

Với Công xã Paris mà ông trực tiếp nếm trải và Cách mạng Pháp năm 1789 và 1848 mà ông hết sức chăm chú nghiên cứu, nhận thức trên đây của ông có sự chuyển động lớn: trong thời hiện đại xuất hiện một yếu tố còn quan trọng hơn cả bản chất di truyền vừa nói, đó là đám đông, sức mạnh của đám đông, nó làm lung lay cả bản chất di truyền nọ, chồng lên đó và đôi khi khác biệt sâu sắc với bản chất ấy, chi phối cả những chuyển động lịch sử lớn lẫn hành vi của từng cá nhân.

 

“Thời đại mà chúng ta đang bước vào sẽ thật sự là thời đại của những đám đông”. Đứng trước hiện tượng vô cùng quan trọng đó của thời đại, Gustave Le Bon chủ trương một thái độ nghiên cứu có tính khách quan khoa học tối đa. Một mặt ông khẳng định “nhà bác học tìm cách nhận biết một hiện tượng không cần bận tâm tới các lợi ích mà những ghi nhận của mình có thể động chạm”; mặt khác ông cho rằng “nhà bác học nghiên cứu những hiện tượng xã hội phải luôn nhớ rằng bên cạnh giá trị lý thuyết, những hiện tượng này còn có giá trị thực tiễn, và đứng về phương diện tiến hóa của các nền văn minh thì chỉ riêng giá trị thực tiễn là có tầm quan trọng nào đó...”.

 

Với một thái độ như vậy, ông chỉ ra rằng đám đông bao giờ cũng vô thức, dù là bất cứ đám đông nào, dù đó là đám đông cao sang và bác học nhất, như đám đông nghị viện chẳng hạn; dù những cá nhân hợp thành nó là như thế nào, là nông dân, người bình thường, người vô học, hay là nhà trí thức, nhà khoa học, nhà chính trị tinh tường..., khi đã tham gia đám đông, chuyển thành đám đông, lập tức tính cách hay trí tuệ của từng cá nhân trong đó hoàn toàn biến đổi, họ hành động hoàn toàn theo những qui luật khác.

 

Và Gustave Le Bon không ngần ngại chỉ ra rằng “họ xử sự như người nguyên thủy, không còn khả năng suy nghĩ, suy luận, mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng liên kết các ý tưởng; họ rất thất thường, có thể đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn đến ngây dại ngớ ngẩn nhất; họ cần một người thủ lĩnh, người cầm đầu, kẻ có thể dắt dẫn họ và cho bản năng của họ một ý nghĩa...”. Tức nói cách khác, trong thời hiện đại, với đám đông như là nhân tố chi phối chủ yếu, những bản năng nguyên thủy đang bừng thức dậy, và hãy coi chừng, chính nó đang dắt dẫn lịch sử!

 

Một lý thuyết như vậy đương nhiên không thể tránh khỏi những chỉ trích từ nhiều phía, của nhiều người và nhiều thế lực. Cũng có thể có chỗ tác giả đã có phần cực đoan trong phân tích của mình. Tuy nhiên, không dễ bác bỏ những luận cứ và những bằng chứng đầy tính khách quan khoa học, vô tư và giàu ý nghĩa thực tiễn của chúng. Đối với công tác nghiên cứu khoa học, nó cho thấy thế nào là một nghiên cứu khoa học thật sự.

Làm sao để tránh đi theo đám đông?

Hãy cân nhắc những nguyên tắc, niềm tin và những điều bạn thích và quyết định xem liệu những hành vi của bạn có - phản ánh con người thật của bạn hay nó đang bị xoay chuyển bởi những áp lực bên ngoài. Tự chiêm nghiệm thường xuyên có thể giúp bạn thiết lập cảm nhận mạnh mẽ về bản dạng và giúp đưa ra những quyết định đúng đắn hơn, ít lệ thuộc tâm lý đám đông.

Chúng ta có thể cải thiện bản thân và xã hội bằng cách chống lại tâm lý bầy đàn và đưa ra quyết định độc lập. Làm như vậy có thể giúp tạo ra một cộng đồng đa dạng và đoàn kết hơn, nơi những quyết định của tập thể được đưa ra trong khi vẫn tôn trọng tự chủ cá nhân và tư duy độc lập.

 

Trong việc nhỏ việc lớn đời sống xã hội có cách nhìn nhiều chiều hơn, đa dạng hơn, và do đó tỉnh táo hơn, một sự tỉnh táo càng cần thiết trong thời đại đầy biến động, giàu triển vọng mà cũng lắm hiểm nguy này.

NGUYÊN NGỌC

 

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2025

10 hội chứng y khoa mang tên nhân vật trong văn học

 

10 HỘI CHỨNG Y KHOA MANG TÊN NHÂN VẬT TRONG VĂN HỌC

Hội chứng là một tập hợp các dấu hiệu và triệu chứng bệnh có mối tương quan với nhau và thường là một bệnh cụ thể hoặc một rối loạn. Dưới đây giới thiệu tới độc giả 10 hội chứng được đặt theo tên các nhân vật văn học.

 

1. Hội chứng Rapunzel

Đây là một hội chứng được đặt theo tên một nàng công chúa xinh đẹp với mái tóc dài, vàng mượt trong truyện cổ tích anh em nhà Grimm. Trong truyện, nàng công chúa bị mắc kẹt trên đỉnh một toà tháp cao đã thả mái tóc dài xuống để hoàng tử leo lên cứu mình. Về mặt y học, hội chứng này gọi là trichobezoar (thể kết của tóc), tình trạng hiếm gặp này được đặc trưng bởi sự tắc nghẽn đường ruột do ăn tóc và xảy ra chủ yếu ở những bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh trichotillomania, một tình trạng tâm lý biểu hiện thôi thúc người bệnh nhổ tóc và ăn không kiểm soát. Bệnh nhân thường trình bày cho bác sĩ triệu chứng đau bụng, buồn nôn và ói mửa. Các triệu chứng khác của hội chứng Rapunzel bao gồm đầy bụng, giảm sự thèm ăn, giảm cân, táo bón hoặc tiêu chảy.

 

2. Hội chứng Othello

Hội chứng này được đặt theo tên một nhân vật nổi tiếng trong kịch của Shakespeare bởi hành động sát hại vợ của mình trong cơn ghen tuông. Cũng được gọi là ghen tuông ảo tưởng. Hội chứng mô tả niềm tin của một người rằng người bạn đời của họ không chung thủy; và do đó sẽ đưa ra những lời buộc tội không có căn cứ để kết tội vợ hoặc chồng của mình. Càng ngày người bị nghi ngờ sẽ chịu đựng những đau đớn về tinh thần, mất tự do và có thể bị chịu đựng bạo lực.

 

3. Hội chứng Lady Windermere

Được đặt theo tên người phụ nữ hoạt bát nhưng tỉ mỉ, khó tính, từ vở kịch của Oscar Wilde. Bệnh phổi do vi khuẩn này biểu hiện các triệu chứng như ho dai dẳng, khó thở và thờ ơ; và thường được điều trị bằng kháng sinh mạnh và thuốc chống lao.

 

4. Hội chứng Peter Pan

Là hội chứng đặt theo tên của một cậu bé không chịu lớn, Peter Pan – một nhận vật do nhà văn JM Barrie sáng tạo nên. Những người mắc hội chứng này thể hiện sự ‘non nớt’ trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống. Họ trốn tránh trách nhiệm, phản đối các chuẩn mực chung được chấp nhận. Và thường tập trung nhiều vào tưởng tượng hơn là cuộc sống thực tế.

 

5. Hội chứng Mowgli

Được đặt theo tên của nhân vật chính trong tác phẩm ‘Cậu bé rừng xanh’ của Rudyard Kipling . Hội chứng này được sử dụng để mô tả những đứa trẻ có đặc điểm tinh thần và/hoặc thể chất yếu, đặc biệt là những trẻ phải chịu đựng những căng thẳng rất lớn do sự thờ ơ và lạm dụng của cha mẹ. Nó cũng được dùng để chỉ những đứa trẻ lớn lên mà không chịu ảnh hưởng giáo dục của con người, chẳng hạn như những đứa trẻ được cho là bị bỏ rơi và được nuôi dưỡng bởi động vật hoang dã.

 

6. Hội chứng Cinderella

Hội chứng được đặt theo tên nàng Lọ Lem – Cinderella của Charles Perrault. Đây là nhân vật cổ tích đã được Disney chuyển thể thành phim hoạt hình. Trong tâm lý học, con nuôi hoặc con riêng đôi khi có thể được quan sát là có hội chứng này. Những người con này sẽ dựng lên những câu chuyện kỳ ​​quặc về cách họ bị lạm dụng, ngược đãi và/hoặc bị bỏ rơi bởi mẹ nuôi, mẹ kế hay cha dượng của họ.

 

7. Hội chứng Pickwickian

Được đặt theo tên của một cậu bé phàm ăn rất béo, tên là Joe Pickwick, một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Charles Dickens. Về mặt y học được gọi là hội chứng giảm thông khí do béo phì. Tình trạng y tế này liên quan đến sự kết hợp của béo phì quá mức và ngưng thở khi ngủ. Đây là một rối loạn đe dọa tính mạng được đặc trưng bởi sự gián đoạn nhịp thở lặp đi lặp lại trong khi ngủ.

 

8. Hội chứng Huckleberry Finn

Hội chứng được đặt theo tên một nhân vật phiêu lưu nổi tiếng được tạo ra bởi nhà văn Mark Twain. Nhân vật Huckleberry Finn bị bố bỏ rơi và không nhận thức được trách nhiệm của mình. Tâm lý học cho rằng, người có hội chứng này từ khi còn nhỏ đã luôn cố gắng trốn tránh trách nhiệm, lớn lên sẽ thay đổi bạn bè, công việc, không có sự ổn định trong cuộc sống. Đây có thể là một có chế tự vệ cho bản thân vì từ bé không được cha mẹ công nhận năng lực hoặc bị chối bỏ, dẫn tới trẻ có biểu hiện trầm cảm và tự hạ thấp bản thân mình.

 

9. Hội chứng Dorian Gray

Được đặt theo tên của nhân vật trong tiểu thuyết của Oscar Wilde, kể về một chàng trai trẻ đẹp, không muốn già đi. Hội chứng mô tả những người quá quan trọng về ngoại hình hoàn hảo mặc dù không có bất kỳ khiếm khuyết. Họ gặp khó khăn trong việc đối phó với sự lão hóa. Do đó, họ cố gắng ‘bám lấy tuổi trẻ’ của họ bằng cách phụ thuộc nhiều vào các kỹ thuật thẩm mỹ và sản phẩm làm đẹp.

 

10. Hội chứng ‘Alice ở xứ sở thần tiên’

Được đặt theo tên của nhân vật nữ chính trong tác phẩm nổi tiếng nhất của Lewis Carroll. Rối loạn thần kinh này là tình trạng trong đó một người nhìn thấy bị biến dạng hình ảnh, nhận thấy các bộ phận của cơ thể hoặc bất kỳ đối tượng nào khác đã bị thay đổi hình dạng, kích thước. Mặc dù, nó liên quan nhất với chứng đau nửa đầu, nó cũng có thể là dấu hiệu của bệnh động kinh, nhiễm trùng tăng bạch cầu đơn nhân hoặc dùng thuốc gây ảo giác.

 

Faculty of Medicine

 

THỜI GIAN RẢNH QUYẾT ĐỊNH TƯƠNG LAI VÀ CUỘC SỐNG MỖI NGƯỜI

Để nhận định một người như thế nào hãy xem họ tận dụng thời gian rảnh của mình ra sao. Nếu dùng thời gian rảnh để đánh bài thì họ chỉ có thể trở thành một kẻ cờ bạc. Nếu dùng thời gian rảnh để phục vụ cho xã hội, thì có lẽ họ sẽ trở thành một nhà cải cách.

Hoặc dùng thời gian rảnh của mình để nghiên cứu lịch sử thì họ cũng có thể trở thành một nhà sử học. Thời gian rảnh của bạn quyết định bạn là một người như thế nào, cũng quyết định cuộc sống của bạn ra sao. Một người tận dụng thời gian rảnh như thế nào, cũng sẽ quyết định tiền đồ của người đó.

 

Cuối thời Đông Hán, có một người tên là Đổng Ngộ, là một phần tử tri thức vô cùng nổi danh vào thời đại đó, cùng với sáu nhân vật khác được xưng là Nho Học Tông Sư. Đổng Ngộ có được kiến thức rộng lớn như vậy cũng nhờ vào ông biết cách tận dụng thời gian rảnh.

 

Có người hỏi Đổng Ngộ: “Ngài đọc sách như thế nào?”.

Đổng Ngộ trả lời rằng: “Nếu như đọc một quyển sách không hiểu, thì đọc lại lần nữa”.

Người này hỏi tiếp: “Làm gì có thời gian để đọc lại một quyển sách lần nữa?”.

Đổng Ngộ đáp: “Vậy thì lợi dụng ‘thời gian tam dư’”.

Có nghĩa là, mùa đông được xem như một khoảng thời gian rảnh rỗi trong năm, buổi tối là thời gian rảnh rỗi trong ngày, ngày mưa là thời gian rảnh rỗi trong cả bốn mùa. Vào những khoảng thời gian rảnh rỗi này chúng ta có thể làm gì? Đổng Ngộ đề nghị chúng ta nên tận dụng khoảng thời gian này để đọc sách.

Trong những năm Hưng Bình thời Đông Hán, Quan Trung đại loạn, Đổng Ngộ cùng ca ca làm việc dưới trướng của một vị tướng quân ở Quan Trung. Khi làm việc hay lao động Đổng Ngộ luôn mang theo Kinh Thư bên người, cứ có thời gian rảnh là lại lấy ra xem. Mặc dù thường bị ca ca chê cười, nhưng ông chưa từng từ bỏ thói quen ấy, cuối cùng trở thành một trong bảy vị có học vấn cao nhất dưới trướng Tào Ngụy.

Có thể nói rằng, thành công của Đổng Ngộ một phần dựa vào việc ông biết cách tận dụng thời gian rảnh của mình.

 

Quả thực, thời gian rảnh của mỗi một người đều hàm chứa tương lai của người đó.

Albert Einstein từng nói: “Điểm khác biệt giữa con người nằm ở khoảng thời gian rảnh của từng người. Thời gian rảnh sau công việc sinh ra người tài, đồng thời cũng sinh ra kẻ lười biếng, kẻ mê rượu, kẻ cờ bạc. Điều này không chỉ tạo ra sự khác biệt giữa hiệu suất làm việc, mà còn tạo ra sự chênh lệch về mức độ thành công trong cuộc sống”.

 

Còn nhớ có người đã phân tích rằng, nếu như mỗi người đều có tuổi thọ là 72 tuổi, thì thời gian ngủ cả đời là 20 năm, thời gian ăn cơm là 6 năm, thời gian bị bệnh mất 2 năm, thời gian để học tập và hoạt động là 8 năm, thời gian làm việc mất hết 14 năm, thời gian rảnh rỗi còn lại là 22 năm.

Vì vậy, thời gian rảnh của mỗi người quyết định mức độ thành công trong cuộc sống của họ.

 

Nếu như mỗi ngày bạn dành ra thời gian một tiếng đồng hồ để học tập kiến thức về một phương diện nào đó, thì một năm sau ở phương diện này, bạn sẽ có thêm kiến thức nhiều hơn 99,99% dân số trên thế giới.

Thậm chí mỗi ngày khi tan ca bạn dành ra 30 phút, thì trong một tuần bạn đã có thể nhẹ nhàng đọc hết một quyển sách. Mặc dù bạn không phải là chuyên gia, nhưng so với những người đồng trang lứa thì kiến thức mà bạn có sẽ nhiều hơn rất nhiều so với họ.

 

Tục ngữ có câu: Thời gian là vàng bạc, ý nói thời gian vô cùng quý giá.

Không bằng bắt đầu từ bây giờ, tận dụng thời gian rảnh kiên trì đi làm một việc gì đó. Bởi vì bất luận là ai cũng sẽ không đạt được thành công một cách dễ dàng, con đường đời cũng không thể nào luôn luôn thuận lợi. Thành công của một người được tạo thành từ những điều nhỏ nhặt nhất, và được tích lũy từng ngày.

 

Theo Soundofhope