Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2025

Chẩn bệnh ngũ tạng thông qua 5 loại dịch tiết của cơ thể

 

CHẨN BỆNH NGŨ TẠNG THÔNG QUA 5 LOẠI DỊCH TIẾT CỦA CƠ THỂ 

Đông y cho rằng thông qua ngũ dịch có thể phán đoán sức khỏe của năm cơ quan nội tạng trong thân thể. Vậy, bạn hãy thử kiểm tra xem mình có khỏe mạnh không? 

 

Đông y đề cập tới “ngũ dịch”, ở đây chính là lệ (nước mắt), hãn (mồ hôi), diên (nước dãi), thế (nước mũi), thóa (nước bọt). Chúng lần lượt đối ứng với 5 tạng phủ trong cơ thể người. 

 

Ngũ tạng và ngũ dịch 

 

1. Nước mắt: là dịch của Can

Can tạng khai khiếu ở mắt, huyết và tân dịch của Can tạng dư thừa đó chính là nước mắt. Nó có thể giữ ẩm cho mắt. Bởi vậy nếu tạng phủ này bị tổn thương, mắt sẽ xuất hiện các dấu hiệu bất thường. 

Thủy dịch ở mắt đầy đủ khiến mắt trong sáng là dấu hiệu thủy của Can sung mãn. Hay chảy nước mắt (nước mắt sống) là dấu hiệu của Can suy. Khi khóc xong mắt thường có màu đỏ, ấy là biểu hiện thủy của Can suy, hỏa của Can vượng. Khóc làm cho nước mắt chảy ra là Thủy suy, Thủy suy làm Hỏa vượng gây nên mắt đỏ.

Nếu khóc nhiều quá, Thủy quá suy kiệt sẽ làm Hỏa bùng mạnh lên, không những làm đỏ mắt mà còn gây nhức đầu.

Nước mắt ít và khô mắt là do âm huyết của Can tạng không đủ, cần từ Can dưỡng huyết. Tránh giận dữ thì mới giữ được mắt luôn sạch sẽ.   

Chảy nước mắt khi ra gió, ngứa mắt là do Can kinh bị phong tà. Lúc này nên hạn chế sử dụng mắt, giữ mắt luôn sạch sẽ.

 

Ngoài ra có thể dùng hoa cúc, lá dâu đun nước rửa mắt. Nước mắt bị nóng và dính, hai mắt sợ ánh sáng và đau là Can kinh phát nhiệt. Có thể dùng tăm bông thấm nước lau ở vị trí túi lệ ba lần một ngày để loại bỏ tình trạng này. 

Ngoài ra, không nên ăn thức ăn cay nóng và chất kích thích để bảo đảm đại tiện thông suốt, mới có thể làm nhiệt tà được loại bỏ.

Người già khí huyết hư nhược, Can Thận âm hư, sẽ thường xuyên bị chảy nước mắt. Lúc này nên từ bổ Can Thận, cần bổ khí, bổ huyết, tăng cường dinh dưỡng, tiết chế chuyện phòng the. 

 

2. Mồ hôi: là dịch của Tâm 

Sự bài tiết sinh lý của nó được kiểm soát bởi trạng thái tinh thần của chúng ta. Ví dụ, khi cảm thấy lạnh, các khiếu ở lông mao bị bịt kín từ đó không có mồ hôi. Khi trời nóng, tập thể dục hoặc mặc quần áo quá dày và cảm thấy nóng, các lỗ chân lông sẽ mở rộng gây đổ mồ hôi.

 

Dấu hiệu bất thường của mồ hôi chính là ra mồ hôi trộm. Tự ra mồ hôi (tự hãn) hoặc ra mồ hôi ban đêm (mồ hôi trộm, đạo hãn) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.

Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do dương của Tâm không đủ, khí bị hư, không thể giữ được dịch của Tâm, cần bổ khí bổ dương. Bệnh nhân bị dương hư hầu hết đều thuộc thể hàn sợ lạnh, dễ bị ngoại cảm phong hàn.

Nên giữ nhiệt độ trong nhà luôn ấm, hơn nữa cần điều dưỡng ôn bổ. 

 

Bệnh nhân bị khí hư cần chú ý nghỉ ngơi. Có thể dùng táo đỏ 5 quả, đậu đen 30g, Hoàng kỳ 60g sắc cùng 150ml nước, ngày uống hai lần, đồng thời chú ý sinh hoạt điều độ. 

Người bị âm huyết Tâm không đủ, dễ xuất hiện mồ hôi trộm. Trong chế độ ăn hằng ngày cần thanh bổ là chính, kỵ ăn đồ cay nóng, như thịt dê, hạt tiêu, gừng, hành… 

 

3. Nước dãi: là dịch của Tỳ 

Tỳ khai khiếu ở miệng, âm tinh của Tỳ thượng xuất lên miệng, thành nước miếng. Tác dụng chủ yếu là dùng để hòa tan thức ăn và hỗ trợ tiêu hóa. 

Người Tỳ Vị hư nhược có thể biểu hiện là miệng nhạt, buồn nôn, nước bọt nhiều, cần hỗ trợ ôn trung kiện Tỳ. Tránh thức ăn hàn lạnh, nên bổ sung các món ăn nóng để làm nóng khoang dạ dày, cũng có thể uống nước gừng, ăn cháo gạo nếp táo đỏ để hỗ trợ. 

Dạ dày bị hỏa vượng sẽ xuất hiện các dấu hiệu miệng khô, nước miếng ít. Nhóm người này không nên ăn các món cay nóng và kích thích, ăn nhiều hoa quả, rau tươi, và các loại đồ uống giải nhiệt, cũng có thể dùng Mạch môn, Sa sâm sắc nước uống. 

 

4. Nước mũi: là dịch của Phế 

Phế khai khiếu ở mũi, khi dịch Phế sung mãn sẽ xuất hiện nước mũi. Nước mũi có thể tư nhuận khiếu ở mũi, đảm bảo chức năng hô hấp và khứu giác được bình thường. 

Tổn thương của Phế tạng có thể được phát hiện qua dấu hiệu bất thường của nước mũi. Người âm Phế hư có thể biểu hiện mũi khô không có nước mũi. Lúc này nên điều chỉnh nhiệt độ phòng thấp hơn một chút, giữ ấm ở nhiệt độ nhất định.

Dùng Ngân nhĩ 50g, Bách hợp 30g, Sa sâm 30g, mật ong 1 thìa, thêm 150ml nước sắc nửa giờ, dùng uống 2 lần một ngày. Tránh ăn các đồ cay, nóng, và thực phẩm chiên. 

 

Người bị phong hàn dẫn tới phế khí không thông, thường biểu hiện nước mũi có màu xanh. Nhóm người này nên chú ý giữ không khí phòng ở trong lành, tránh phong hàn tái thâm nhập.

Dùng thuốc Đông y nên uống khi nóng, sau khi uống nên nằm tĩnh tọa, đắp chăn hoặc dùng cháo nóng hỗ trợ giúp toát mồ hôi, khu hàn. Người có nước mũi đục màu vàng nên thanh Phế tiết nhiệt.

Dùng thuốc Đông y nên uống khi lạnh hoặc hơi ấm, nên chú ý bổ sung các loại thực phẩm thanh đạm, chú ý giữ khoang mũi thông thoáng.  

 

5. Nước miếng: là dịch của Thận 

Thận khí tràn đầy, thì tinh chất âm của thận tràn đầy hướng lên miệng thành nước bọt, có tác dụng làm ẩm nhuận khoang miệng và hòa tan thức ăn. Những thay đổi bất thường trong nước bọt có thể phản ánh các tổn thương bệnh biến tại Thận.

Miệng có vị đắng, khô, tân dịch ít, đầu gối yếu mỏi đa phần Can Thận âm hư. Có thể dùng Cẩu kỷ tử, Sa sâm sắc nước uống thay trà hằng ngày. Đồng thời điều chỉnh tâm trạng, chú ý nghỉ ngơi, tránh các thực phẩm cay nóng và chất kích thích như rượu, bia…

 

Theo kknews.cc

 

Trần Quang Khải vị tướng làm nên lịch sử

 

TRẦN QUANG KHẢI VỊ TƯỚNG LÀM NÊN LỊCH SỬ

 

Hồi tưởng về cuộc đời: Vị tướng làm nên lịch sử

 

1. Từ Chiêu Minh Vương đến Thượng tướng Thái sư

Trần Quang Khải sinh năm 1241, là hoàng tử thứ ba của vua Trần Thái Tông. Sinh ra đã mang trong mình dòng máu đế vương, nhưng ông không chỉ là một hoàng tử hưởng vinh hoa, mà còn là một tài năng xuất chúng được rèn giũa từ nhỏ. Thầy của ông là Bảng nhãn Lê Văn Hưu, một nhà sử học, một học giả uyên bác. Nhờ vậy, ông sớm đã là người học rộng, tài cao, thậm chí am hiểu cả ngôn ngữ của các tộc người thiểu số.

 

Tài năng của ông nhanh chóng được vua anh là Trần Thánh Tông nhìn nhận. Năm 20 tuổi, ông được phong làm Thái úy, chính thức bước vào vũ đài chính trị. Năm 24 tuổi, ông được giao trọng trách trấn thủ Nghệ An. Con đường của ông dường như được trải sẵn để trở thành một trụ cột của triều đình.

 

2. Sóng gió chính trường và cái bắt tay lịch sử

Nhưng con đường của một bậc kỳ tài không bao giờ bằng phẳng. Vị trí cao nhất của ông khi đó, Tướng quốc Thái úy, đứng trên cả Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Giữa hai người, ngoài mối mâu thuẫn giữa hai chi trong hoàng tộc, còn có cả những bất hòa cá nhân. Một bên là tướng văn, một bên là tướng võ, sự tồn tại của mối bất hòa này chính là hiểm họa lớn nhất cho non sông trước vó ngựa của quân xâm lược Nguyên Mông.

 

Và chính trong bối cảnh ngàn cân treo sợi tóc ấy, lịch sử nhà Trần đã ghi lại một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của tình quân thần. Hưng Đạo Vương chủ động gạt bỏ hiềm khích. Sử sách chép rằng, ông đã mời Trần Quang Khải xuống thuyền mình chơi, rồi thân chinh dùng nước thơm tắm cho Quang Khải và nói: “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng!”. Trần Quang Khải cũng đáp lại: “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho!”.

Cái khoát tay cởi áo cho nhau không chỉ gột rửa bụi trần, mà còn gột rửa tất cả những tị hiềm, để từ đó, hai ngôi sao sáng nhất của nhà Trần cùng đồng lòng phò vua, cứu nước.

 

3. Vị thống soái làm nên lịch sử

Khi vó ngựa Nguyên Mông một lần nữa giày xéo non sông vào năm 1285, Trần Quang Khải đã trở thành một trong những mũi giáo sắc bén nhất của quân đội Đại Việt. Dưới sự điều phối chung của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương, ông đã chỉ huy những trận đánh làm thay đổi cục diện chiến tranh.

 

Từ việc trấn thủ Nghệ An, cầm chân và làm tiêu hao sinh lực địch, cho đến cuộc phản công thần tốc ngoài Bắc. Ông cùng các tướng lĩnh chỉ huy quân lính cảm tử, tấn công thẳng vào đồn thủy quân của giặc ở bến Chương Dương. Trận đánh kinh thiên động địa ấy đã khiến quân Nguyên phải bỏ thuyền chạy lên bờ, rối loạn. Thừa thắng, ông cho quân truy kích đến tận chân thành Thăng Long, rồi dùng kế phục binh đánh cho quân giặc đại bại, buộc Thoát Hoan phải bỏ kinh thành mà chạy.

 

Trong vòng chưa đầy hai tháng, hai chiến thắng lừng lẫy tại Hàm Tử và Chương Dương do ông góp phần chỉ huy đã làm nức lòng quân dân cả nước. Và ngày vua Trần trở về kinh đô, trong không khí khải hoàn, vị tướng tài ba lại trổ tài thi phú, viết nên bài thơ bất hủ “Tụng Giá Hoàn Kinh Sư”:

 

Bản Dịch

 
Chương Dương đoạt giáo giặc,

Hàm Tử bắt quân thù.

Thái bình nên nỗ lực,

Non nước ấy ngàn thu.

 

Bốn câu thơ cô đọng, hào sảng đã tạc vào lịch sử hào khí của một dân tộc bất khuất và tầm vóc của một vị tướng huyền thoại.

 

Kết bài

Trần Quang Khải không chỉ là một bức tường thành của non sông, người được vua Trần Thánh Tông khen tặng “Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô”, ông còn là một thi sĩ với tâm hồn đa cảm, để lại cho hậu thế một di sản trọn vẹn – một sự kết hợp tuyệt vời giữa cương và nhu, giữa võ và văn, là một ngôi sao tỏa sáng vĩnh hằng trên bầu trời lịch sử Việt Nam.

 

 

 

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2025

Bàn tay mẹ trong bàn tay con

 

BÀN TAY MẸ TRONG BÀN TAY CON

Tôi có một người bạn họa sĩ, ngày xưa đã rời Việt Nam bằng một con đường rất là cực nhọc, đi làm bồi trên một chiếc tàu thủy để được qua bên Hoa Kỳ vì nghĩ rằng bên đó có cơ hội tiến thân hơn.

Trước khi rời Việt Nam thì bà mẹ của anh vốn là một người không biết chữ, không biết triết học là gì có dặn một câu: Con ơi, khi con sang bên nớ, con nhớ mẹ, con hãy đưa bàn tay của con ra con nhìn thì con sẽ đỡ nhớ. 

Bà ta nói như vậy, giống như một nhà triết học. Trong những năm tháng lây lất ở quê người, mỗi khi nhớ mẹ, anh chàng họa sĩ đó đã đưa tay lên để nhìn cho đỡ nhớ mẹ. Trong quá trình tu học của tôi, tôi thấy rất rõ đây là một tuệ giác rất là lớn của những bà mẹ Việt Nam.

Bàn tay này, mình nói là bàn tay của mình, cái đó cũng đúng nhưng kỳ thực bàn tay này cũng là sự tiếp nối của bàn tay mẹ, bàn tay cha cũng như cây ngô là sự tiếp nối của hạt ngô và hạt ngô là sự tiếp nối của cây ngô trước.

Nhìn vào bàn tay của mình thì mình thấy bàn tay của mẹ, bàn tay của cha và bàn tay của tổ tiên đang có mặt trong bàn tay mình mà nói đây chỉ là bàn tay của riêng mình là không đúng, đây cũng là bàn tay của cha, của mẹ.

Hồi nhỏ khi còn thơ ấu có những lúc bị sốt, khát nước, khô cổ, nóng bức và khi mẹ đi vào, rồi để bàn tay của bà lên trên trán mình thì mình thấy dễ chịu một cách lạ kỳ.

Đến khi mình lớn lên, mình rong ruỗi, mẹ không còn đó nữa, mỗi khi sốt, mình ao ước có bàn tay đó đặt lên trên trán. Theo tôi, bàn tay của mẹ vẫn còn, nếu mình muốn bàn tay đó đặt lên trên trán mình thì vẫn còn có thể được, dầu quý vị đã bốn mươi tuổi hay sáu mươi tuổi nhưng vẫn còn có bàn tay của mẹ.

Quý vị chỉ cần đưa bàn tay lên và nhìn và thấy rằng: Mẹ ơi, con biết bàn tay tuy con nói là của con nhưng mà cũng là bàn tay của mẹ, nó là sự nối tiếp của bàn tay mẹ. Trong sự quán chiếu, trong sự thiền quán mình thấy rõ ràng bàn tay của mẹ đang còn có mặt cho mình. Trong tuệ giác đó, đưa tay lên mình thấy bàn tay của mẹ đang đặt trên trán mình một cách rất nhẹ nhàng và mình cảm thấy không khác gì bàn tay năm xưa.

Quý vị thử đi, quý vị sẽ thấy, tự tánh của mẹ mình là không sinh, không diệt. Mình đừng tưởng mẹ mình đã mất rồi, mẹ mình đang còn dưới những hình dạng mới và mình phải có tuệ giác mới có thể nhận diện ra được. Thiền tập có khả năng đưa tới trí tuệ để có thể vượt thoát những nỗi khổ, niềm đau trong đó có sự sợ hãi.

Tuệ giác có thể giúp mình lấy đi hết tất cả những tri giác sai lầm của mình về mình và những tri giác sai lầm của mình về người khác, như vậy chúng ta tới gần nhau hơn và chúng ta không còn tiếp tục làm khổ nhau nữa. An lạc, hòa bình, hạnh phúc là chuyện có thể xảy ra một cách dễ dàng với trí tuệ đó.

 

Trích đoạn chia sẻ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong bài Pháp thoại nói chuyện với Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Hà Nội ngày 18.01.2005 về chủ đề: Phật giáo Việt Nam ngày nay qua cái nhìn tương tức.