Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vât lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân vât lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

Lưỡng quốc trạng nguyên Đào Sư Tích – Người khiến vua Minh phải e sợ

 

LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN ĐÀO SƯ TÍCH – NGƯỜI KHIẾN VUA MINH PHẢI E SỢ

 

Một trong những vị trạng nguyên của Đại Việt khiến phong kiến phương Bắc khâm phục và nể sợ là trạng nguyên Đào Sư Tích (1350- 1396) – quê ở xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Khi đi sứ phương Bắc, Đào Sư Tích đã chứng tỏ được trí tuệ uyên bác của mình. Khâm phục tài trí của ông, vua Minh phong ông làm Lưỡng quốc trạng nguyên nhưng sau đó lại có dã tâm sai người ngầm sát hại. 

Thần đồng Đào Sư Tích

Trạng nguyên Đào Sư Tích sinh trưởng tại vùng đất địa linh nhân kiệt, vùng đất nổi tiếng khoa bảng thuộc xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

 

Cha ông - Tiến sĩ Đào Toàn Bân được triều đình bổ nhiệm làm quan tại phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định nên cậu bé Đào Sư Tích theo cha về Nam Định sinh sống để được cha dạy dỗ học hành. Từ nhỏ Đào Sư Tích đã bộc lộ trí tuệ phi phàm, bảy tuổi ông nổi tiếng là Thần đồng của nước Đại Việt. 

 

Ở khoa thi Hương, Đào Sư Tích đỗ danh sách thứ nhất (Hương nguyên). Vào thi Hội, thi Đình ông đều đỗ thứ nhất: Đình Nguyên, Trạng nguyên nên ông được phong là vị Tam nguyên đầu tiên và duy nhất đời Trần. Không chỉ là một vị quan thanh liêm của Đại Việt, Đào Sư Tích còn là một nhà ngoại giao đại tài khi đi sứ phương Bắc khiến vua Minh e sợ.

 

Vào những năm 1380, quan hệ giữa nhà Minh và Đại Việt rất xấu. Nhà Minh tạo nhiều sức ép nhằm có cớ để xâm chiếm Đại Việt. Tháng 9 năm 1384, nhà Minh yêu cầu Đại Việt phải cung cấp lương thực cho quân Minh đang ở Vân Nam.

 

Tháng 3 năm 1385, nhà Minh lại yêu cầu phải nộp 20 tăng nhân. Tháng 2 năm 1386, nhà Minh lại đòi phải nộp các loại cây ăn quả quý, cấp 50 thớt voi để đánh Chiêm Thành.

Tháng 6 năm 1395, quân Minh tiến đánh quân phản loạn ở Quảng Tây, yêu cầu Đại Việt phải cung cấp 5 vạn quân, 50 vạn thạch lương, 50 thớt voi.

 

Về yêu cầu này, nhà Trần chỉ nộp lương thực, quân Minh yêu cầu phải nộp tiếp tăng nhân, thanh niên và phụ nữ phục vụ chiến trường.

Các yêu cầu của nhà Minh ngày càng vô độ nên triều đình cần người tài giỏi đi sứ nhằm xoay chuyển tình thế. Bấy giờ nhà Trần ở vào thời mạt, quyền lực trong triều dần bị Hồ Quý Ly nắm lấy.

 

Hồ Quý Ly khi tìm người thì thấy chỉ có mình Đào Sư Tích từng đỗ trạng nguyên là có thể đáp ứng được yêu cầu này. Tuy nhiên lúc này Đào Sư Tích chán cảnh Hồ Quý chuyên quyền nên đã cáo quan về quê bốc thuốc và dạy học.

 

Dù không ưa gì Đào Sư Tích nhưng vì không thể có ai thay thế, Hồ Qúy Ly đành phải xin vua Trần cho Đào Sư Tích đi sứ. Khi Hồ Quý Ly triệu Đào Sư Tích vào triều có ra lệnh nếu Đào Sư Tích không hồi triều đi sứ sẽ bị tru di tam tộc.

 

Để đề phòng dòng họ bị sát hại, Đào Sư Tích đã đổi con cháu sang họ Phạm rồi mới về triều. Sau này lại có người đổi từ họ Phạm sang họ Dương. Vì thế mà ngày nay từ đường họ Đào ở Cổ Lễ (quê của Đào Sư Tích) có bức đại tự ghi là Đào – Phạm – Dương. Bên cạnh đó, có một nhánh con cháu họ Đào đổi sang họ Nguyễn.

 

Vị trạng nguyên khiến vua Minh e sợ

Chuyến đi sứ này Đào Sư Tích đã thuyết phục nhà Minh bỏ và giảm nhẹ nhiều lệ cống nạp hàng năm, trong đó bỏ hẳn được việc cống nạp tăng nhân, góp phần quan trọng kéo dài thời gian hòa hoãn cho Đại Việt.

 

Tài năng, trí tuệ của Đào Sư Tích khiến triều đình nhà Minh cũng phải e ngại, trong dân gian còn lưu truyền lại một giai thoại về chuyến đi sứ cuối cùng và sự việc khiến ông qua đời.

Khi thời hạn đi sứ sắp hết, vua Minh có hỏi Đào Sư Tích rằng: “Nếu Bắc đánh Nam thì ai thắng?”

Đào Sư Tích bèn ngâm hai câu thơ trả lời:

 

Bắc thắng, Nam thua, thua thua thắng

Nam thua, Bắc thắng, thắng thắng thua.

 

Câu trả lời của Đào Sư Tích khiến các quan võ cười khoái trá nhưng vua Minh và các quan văn thì không thể cười được, bởi hai câu thơ này có đến 5 chữ “thắng”, 5 chữ “thua”. Ngụ ý nhà Minh tiến đánh Đại Việt thì 5 thắng 5 thua tức không thể thắng được.

 

Câu trả lời lời của Đào Sư Tích thể hiện được ý chí của nước Nam lại cũng không làm phật lòng vua Minh, giúp kéo dài thời gian hỏa hoãn giữa hai nước, có lợi cho Đại Việt.

Vua Minh lại hỏi tiếp: “Nhà Trần suy vong, Hồ Quý Ly chuyên quyền, lòng dân ly tán, tại sao ta không thắng?”

 

Đào Sư Tích cũng lại đáp bằng hai câu thơ: “Trần thực, Hồ hư, hư hư thực/ Cổ lai chinh chiến thực thực hư hư”. Nghĩa là: “Nhà Trần là thực, Hồ chỉ là hư, hư là hư thực/ Xưa nay chinh chiến thực thực hư hư.”

 

Biết không dễ gì khuất phục được một người giỏi như Đào Sư Tích, vua Minh liền nghĩ cách phải triệt hạ ông. Vua trao cho vị quan chuyên tiếp đón Đào Sư Tích bốn phong thư và dặn rằng phải mở theo thứ tự.

 

Viên quan này mở phong thư thứ nhất thấy có câu “thượng văn vấn, hạ tri vương” nhưng không hiểu ý là gì bèn hỏi Đào Sư Tích.

Đào Sư Tích trả lời rằng: “Văn là nghe, nghe là tri, tri là nhĩ (耳). Vấn là hỏi, hỏi là khẩu (口). Bên dưới có chữ vương (王). Hợp ba chữ: nhĩ, khẩu, vương thành chữ thánh (聖).

 

Vua Minh có ý bảo ta là thánh nhân đó mà. Vua Minh quá khen, cho ta là bậc thánh hiền. Ta đâu dám nhận lời khen đó.” Sau đó vị quan mở phong thư thứ 2, đây chính là đáp án giải nghĩa cho phong thư thứ nhất, đúng như những gì Đào Sư Tích đã giải nghĩa khiến viên quan kinh ngạc và thán phục. 

 

Phong thư thứ ba là sắc phong Đào Sư Tích làm lưỡng quốc trạng nguyên, tức trạng nguyên của cả Trung Hoa lẫn Đại Việt.

 

Phong thư thứ tư có hai dòng chữ:

"Hậu hoạ

Nhất dược nhị đao". 

 

Vị quan này hiểu rằng đây là mệnh lệnh phải giết Đào Sư Tích bằng đao hoặc độc dược nên ông rất buồn bã. Nhìn vẻ mặt của vị quan này, Đào Sư Tích đoán được sự việc liền an ủi rằng: “Thánh thì thoát tục. Ông chẳng nên quá buồn rầu. Chỉ xin cho được chết bằng thuốc độc để ông khỏi phải khổ tâm khi phải trực tiếp giết ta”.

 

Sau đó, Trạng nguyên Đào Sư Tích qua đời khi đi sứ xứ người. Thi hài ông được đưa về nước mai táng tại phủ Thiên Trường – Nam Định. Sau khi mất, ông đã được người dân lập đền thờ tại nhiều nơi, hiện đền thờ Đào Sư Tích có ở Bắc Giang, Nam Định đều được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. 

 

Cuộc đời của Đào Sư Tích đã đi vào tâm thức dân gian, ca dao cũng như lời hát ru con của người dân nơi quê ông trong đó có những câu ngợi ca tài đức của ông: “Bảy tuổi đắc phong thần đồng/Hữu tài thành chủ hàm công rõ rành./ Thi Hương, thi Hội, thi Đình, Đứng đầu Đại Việt, anh minh sáng ngời…”

 

Theo báo PLVN

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Nhớ cái Tết ở nhà Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

NHỚ CÁI TẾT Ở NHÀ ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

 

30 tháng Chạp năm Nhâm Ngọ (2002), cha tôi (nhà văn Hữu Mai) và nhà thơ Hữu Thỉnh, bấy giờ là Tổng Thư ký Hội nhà văn Việt Nam vào chúc Tết sớm Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi được đi theo tháp tùng. Một giò lan tím khẽ rung rinh ở cuối căn phòng. Trên mặt chiếc bàn bằng mây, hoa thủy tiên chớm nở, một hũ mứt gừng và ấm trà sen pha sẵn. Phòng khách nhà Đại tướng sáng 30 Tết thật giản dị và ấm cúng!

.

Sinh thời, bao giờ trước Tết, Đại tướng cũng sang nhà Bác Hồ thắp hương.

Dịp Tết, trong nhà Đại tướng thường có nhiều chuyện vui. Những năm 80-90 của thế kỷ trước, khoảng 26 – 27 Tết nhà bắt đầu mổ lợn. Trong suốt thời kỳ kinh tế đất nước còn khó khăn, các con ông thường phải nuôi lợn tăng gia.

.

Chị Võ Hạnh Phúc kể: “Thường thì sáng ngày 27 mổ lợn, chiều gói bánh chưng luôn. Các chị và cô Kỹ cấp dưỡng trực tiếp chuẩn bị và gói bánh. Ba mẹ chị khuyến khích các con cần biết và duy trì những phong tục tập quán của dân tộc. Bánh gói xong được luộc trong một cái thùng phuy to, mọi người thức suốt đêm canh bánh. Lúc vớt bánh, hầu như các con cháu đều có mặt, ai cũng háo hức.

Những ngày cận Tết, chị Hồng Anh, chị Hòa Bình và các em dâu thường cùng nhau làm mứt”. “Nhiều lắm, mứt gừng, mứt dừa, mứt quất, nhưng ba mẹ tôi thích mứt gừng nhất” – chị Phúc nhớ lại.

.

Trong khi cả nhà chuẩn bị đón Tết, Đại tướng thường đi bộ và ghé vào ngồi bên bếp lửa trò chuyện với các con, các cháu và vui vẻ nếm thử miếng mứt dừa các con mới làm xong. Các cháu nội ngoại thường xin ông cho đi bộ cùng một quãng. Đi bộ là thói quen vận động mà Đại tướng duy trì đến tận cuối đời. Những ngày điều trị trong Bệnh viện 108, ông vẫn đi bộ dọc hành lang khi có thể, ngày hai lần.

.

Lệ tự gói, tự nấu bánh chưng ngày Tết ở nhà 30 Hoàng Diệu được duy trì trong nhiều năm. Sau này, khi các anh chị xây dựng gia đình và bận bịu công tác không làm được thường xuyên thì các cháu nội, ngoại Đại tướng lại tiếp tục công việc này như một dòng chảy truyền thống, tự nguyện thành nếp…

.

Đêm 30 Tết, Đại tướng và phu nhân thường thắp hương gia tiên trước rồi đi nghỉ, ít khi ông bà thức đến giao thừa. Bởi vì, ông luôn giữ nếp sống điều độ và tự giác tuân thủ các quy định bảo vệ sức khỏe bác sĩ đề ra. Trong tất cả mọi việc, ông là người rất tôn trọng nguyên tắc và công việc của người khác, cho dù người ấy ở cương vị nào.

.

Sáng mùng một Tết, năm nào Đại tướng cũng khai bút đầu xuân, đây có lẽ là nếp có từ hồi trẻ của một nhà giáo. Từ trước, khi ở Văn Miếu xuất hiện “phố ông đồ”, những năm đầu 90, ông đã đến đây gặp các ông đồ và viết thư pháp mừng xuân. Rồi khi có hội chợ sách xuân, thành lệ, ông đi hội chợ sách cùng các thành viên trong gia đình những ngày giáp Tết.

.

Theo Trần Hữu Việt

 

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Đại tướng của nhân dân

 

ĐẠI TƯỚNG CỦA NHÂN DÂN

 

Năm Giáp Ngọ 2014 này, đất nước ta sẽ kỷ niệm 60 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chúng ta cùng nhớ tới Tết Giáp Ngọ 1954 của 60 năm trước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng đón một cái Tết lịch sử cùng các chiến sĩ của mình trong khu rừng Mường Phăng sương giá.

Trong hồi ký của mình, Đại tướng gọi những ngày đó là “Tết Quang Trung của thời đại mới” – mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, những người lính của Quang Trung – Nguyễn Huệ đã không nghỉ ăn Tết, hành quân thần tốc về Thăng Long tiêu diệt giặc Thanh.

.

Những ngày giáp Tết năm ấy, Đại tướng thao thức không ngủ. “Tôi nghĩ đến hàng chục vạn đồng bào đang sát cánh cùng bộ đội, không được cùng người thân ngồi bên nồi bánh chưng đón giao thừa tại quê hương” (Hồi ký Điện Biên Phủ – Điểm hẹn lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do nhà văn Hữu Mai thể hiện).

Sáng mùng một Tết, Đại tướng dậy sớm, xuống chúc Tết cơ quan tác chiến, đoàn cố vấn quân sự và các đơn vị. Còn hơn một tháng nữa mới bắt đầu trận tiến công mở màn chiến dịch, nhưng ông bỗng thấy cần phải có ngay một cái gì đó trong ngày đầu xuân tại Điện Biên Phủ. “Một cái gì đó”, phải chăng là quà xuân ông muốn gửi tặng bộ đội và dân công ta?

.

Đại tướng gọi dây nói chúc Tết Bộ Tư lệnh pháo binh rồi hỏi: “Có định làm gì để chào mừng năm mới không?” – “Báo cáo: Anh em đã sẵn sàng” – “Được. Cho bắn vào sân bay!”. 10 trái đạn đại bác 75 ly giội trúng sân bay Mường Thanh báo hiệu nỗi kinh hoàng 56 ngày đêm mà quân Pháp sắp phải hứng chịu. Đó cũng là cách chào xuân của Đại tướng dành cho đội quân xâm lược!

.

Những năm sau này, Tết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường gắn với bộ đội và nhân dân. Ông về chiến khu Việt Bắc, lên thăm lại Điện Biên Phủ, đón Tết cùng nhân dân và đồng đội năm xưa. Đại tướng luôn yêu thương và bình đẳng với chiến sĩ, gần gũi và tôn trọng đồng bào. Bộ đội Cụ Hồ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, vì vậy người chỉ huy cao nhất của đội quân ấy là vị tướng của nhân dân.

.

Theo TRẦN HỮU VIỆT