Thứ Hai, 18 tháng 4, 2022

Bàn về hạnh phúc

BÀN VÈ HẠNH PHÚC

 

Hạnh phúc từ lâu đã được xem là một cấu phần tối quan trọng của sức khỏe thể chất và tinh thần. “Mưu cầu hạnh phúc” thậm chí còn được coi là một quyền không thể chuyển nhượng trong Tuyên ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cách hiểu của chúng ta về cái gì mang đến hạnh phúc đã thay đổi theo thời gian.

 

Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc được định hình bởi cảm giác vui vẻ, hài lòng, thỏa mãn, và trọn vẹn. Mặc dù hạnh phúc có nhiều định nghĩa nhưng thường được mô tả là những cảm xúc tích cực và thái độ hài lòng với cuộc sống.

Khi hầu hết mọi người đều nói về hạnh phúc thì có lẽ họ đang nói về cảm xúc của họ ngay thời điểm hiện tại, hoặc có thể họ đang nói đến một cảm nhận tổng quan của họ về cuộc sống nói chung.

 

– Cảm thấy hạnh phúc có thể giúp bạn ít bị đau ốm hơn. Những trạng thái tinh thần vui vẻ có liên hệ mật thiết với sự gia tăng hệ miễn dịch.

– Những cảm xúc tích cực tương quan với sức khỏe và tuổi thọ tốt hơn. Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người có nhiều cảm xúc tích cực hơn tiêu cực thì sẽ có khả năng sống thọ hơn khoảng 13 năm.

– Cảm xúc tích cực làm gia tăng sức bật tinh thần. Sức bật tinh thần giúp con người ra giải quyết căng thẳng và hồi phục tốt hơn khi trở ngại xuất hiện. Ví dụ, một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng người hạnh phúc hơn thường có mức cortisol – hormone căng thẳng – thấp hơn và những lợi ích này có xu hướng tồn tại vững bền hơn theo thời gian.

 

Một nghiên cứu quy mô lớn trên hơn 2000 cặp sinh đôi cho thấy có khoảng 50% mức độ hài lòng cuộc sống là do gen di truyền, 10% do ngoại cảnh và 40% là do hoạt động cá nhân.

Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng người nào cảm thấy mình sống có mục đích sẽ có sức khỏe tốt hơn và cảm thấy trọn vẹn hơn. Nhận thức mục đích rõ ràng là thấy được cuộc sống mình có mục tiêu, phương hướng và ý nghĩa. Nó có thể giúp cải thiện niềm hạnh phúc bằng cách thúc đẩy các hành vi lành mạnh.

 

Tiền bạc có lẽ không thể mua được hạnh phúc, nhưng có nghiên cứu chỉ ra rằng tiêu tiền vào những thứ như trải nghiệm có thể khiến bạn hạnh phúc hơn là dành tiền để sở hữu vật chất.

 

Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người hay coi trọng hạnh phúc nhất cũng sẽ cảm thấy ít hài lòng với cuộc sống nhất. Về cơ bản, hạnh phúc trở thành một mục tiêu cao ngất đến mức gần như không thể đạt được.

 

“Coi trọng hạnh phúc có thể khiến bạn tự đánh bại bản thân vì con người ta càng coi trọng hạnh phúc thì khả năng cao là họ lại càng bị thất vọng,” nhóm tác giả nghiên cứu chia sẻ.

 

 

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

Tình yêu – Sản phẩm sinh lý hay văn hóa?

 TÌNH YÊU – SẢN PHẨM SINH LÝ HAY VĂN HÓA?

 Tình yêu là một trong những xúc cảm chính ở con người (có người còn cho rằng nó là cảm xúc quan trọng nhất). Tuy nhiên, tình yêu chỉ mới trở thành một chủ đề khoa học trong những năm gần đây.

 

Theo Sigmund Freud (1910), nghiên cứu về tình yêu trong quá khứ thường bị phó thác cho “… những nhà văn tài ba, họ mô tả cho chúng ta “những điều kiện cần cho tình yêu… Hậu quả, một hiện trạng không thể tránh khỏi là khoa học cũng tìm đến chủ đề này với những tài liệu tương tự, ở đó những hình thức điều trị do các nghệ sĩ vẽ nên đã khiến cho nhân loại hứng khởi trong hàng ngàn năm qua.”

 

Mặc dù nghiên cứu về chủ đề này đã lớn mạnh hơn rất nhiều trong 20 năm trở lại đây nhưng những khám phá đầu tiên về bản chất và căn nguyên của tình yêu vẫn thu hút rất nhiều các ý kiến trái chiều đáng lưu ý. Trong suốt những năm 1970, thượng nghị sĩ William Proxmire không tiếc lời sỉ vả những nhà khoa học nghiên cứu về tình yêu, ông chế nhạo họ, cho rằng những công trình nghiên cứu này chỉ tốn tiền thuế của dân mà thôi. (Hatfield 2001).

 

Kể từ thời điểm đó, nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của tình yêu thương trong sự phát triển của trẻ và sức khỏe của người trưởng thành. Nhưng chính xác thì tình yêu là gì? Làm thế nào mà các nhà tâm lý có thể định nghĩa được loại cảm xúc quan trọng này?

 

Thang đo của Rubin về Yêu và Thích.

Áp dụng phương pháp đo lường tâm lý lên tình yêu, nhà tâm lý học xã hội Zick Rubin đã phát minh ra một thang đo dùng để đánh giá mức độ yêu và thích.

Theo Rubin, tình yêu lãng mạn được hình thành từ 3 yếu tố:

 

– Gắn bó: Nhu cầu được chăm sóc và ở bên người khác. Sự chấp thuận và tiếp xúc cơ thể cũng là thành tố quan trọng của sự gắn bó.

– Quan tâm: Trân trọng hạnh phúc và nhu cầu của người khác như của mình.

– Thân mật: Chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc, và mong muốn của bản thân với người khác.

 

Dựa trên quan điểm này về tình yêu lãng mạn, Rubin đề ra thang đo Thích và Yêu

Thang đo Thích và Yêu của Rubin giúp hỗ trợ cho học thuyết về tình yêu của ông. Trong một nghiên cứu nhằm xác định xem liệu thang đo có thực sự phân biệt được Thích và Yêu,

 

Rubin đã hỏi một số tham dự viên điền vào bảng hỏi dựa trên cách họ cảm nhận về một người bạn tình và một người bạn tốt. Kết quả phát hiện ra rằng bạn tốt được chấm điểm cao hơn trong thang Thích, nhưng chỉ một số ít người khác mới có điểm cao cho thang yêu.

 

Tình yêu – Hiện tượng sinh lý hay văn hóa?

Những quan điểm sinh học về tình yêu xem cảm xúc này là một bản năng của con người. Mặc dù tình yêu thường được xem là một trong những cảm xúc cơ bản của con người như giận dữ hoặc vui vẻ, nhưng một số người lại cho rằng tình yêu là một hiện tượng mang tính văn hóa xuất hiện một phần do bởi áp lực và mong đợi xã hội.

 

Trong một bài báo trên tờ Time, nhà văn – nhà tâm lý học Lawrence Casler đã nói, “Tôi không tin rằng tình yêu là một phần trong bản năng con người, không hề. Kiểu gì cũng có áp lực giữa những con người với nhau.”

 

“Nếu tình yêu chỉ là một phát minh văn hóa đơn thuần thì ta có thể suy ra được nó sẽ không thể tồn tại trong một số nền văn hóa. Tuy nhiên các nghiên cứu về nhân chủng học cho rằng tình yêu là một cảm xúc phổ quát, có ở khắp thế giới. Hormone hay các yếu tố

sinh học là rất quan trọng, nhưng cách ta thể hiện và trải nghiệm cảm xúc này bị ảnh hưởng bởi những quan niệm của chính mỗi chúng ta về tình yêu.

Các cựu binh Mỹ sau Chiến tranh Việt Nam đã bị “Sốc đạn pháo”

 
  ẢNH HƯỞNG CỦA RỐI LOẠN CĂNG THẲNG SAU SANG CHẤN LÊN CỰU BINH MỸ SAU CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Kiến thức của chúng ta về Rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD) đã có bước phát triển đột phá trong một vài thập kỷ gần đây. Từng được biết đến với cái tên ban đầu là “Sốc đạn pháo”, tác động toàn diện của bệnh lý này đã trở nên rõ ràng hơn rất nhiều qua nhiều thập kỷ sau khi Chiến Tranh Việt Nam kết thúc.

 

Chúng ta đã biết được gì về PTSD và chiến tranh Việt Nam cũng như tác động lâu dài nó để lại? Những cựu binh Mỹ, những người tiếp tục đối mặt với rối loạn này nhiều năm về sau, có thể làm gì, và liệu điều gì khác biệt xảy ra? Nếu một mình PTSD là không đủ thì chúng ta đều biết bệnh lý này có liên hệ cực kỳ mật thiết đến những bệnh lý khác như bệnh tim, thậm chí là cơn đau, những căn bệnh mà nhiều cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt Nam đang trải qua khi họ dần tiến vào những “năm tháng vàng” trong cuộc đời họ bây giờ.

 

Dựa theo biên bản ủy nhiệm từ quốc hội năm 1983, một Nghiên Cứu Quốc Gia về Việc Tái Thích Nghi của Các Cựu Binh Tham Chiến tại Việt Nam (NVVRS) được thực hiện bởi chính phủ Hoa Kỳ nhằm tìm hiểu rõ hơn sự hình thành và phát triển của PTSD từ chiến tranh Việt Nam, và những vấn đề liên quan khác. Nhiều năm qua, ngày càng có nhiều nghiên cứu đi sâu tìm hiểu tác động của bệnh lý này theo thời gian và đưa đến nhiều phát hiện quan trọng.

 

Sự xuất hiện của PTSD ở những người cựu binh tham gia chiến tranh Việt Nam.

 

Phát hiện từ nghiên cứu do Quốc hội ủy nhiệm năm 1983 dấy lên một hồi chuông báo động. Vào thời điểm nghiên cứu diễn ra (từ giữa đến cuối những năm 1980), trong số những người cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam, có khoảng 15% nam giới và 9% phụ nữ phát hiện đang mắc PTSD. Có khoảng 30% nam giới và 27% nữ giới có mắc PTSD vào một thời điểm nào đó trong đời sau khi trở về từ Việt Nam.

Những phát hiện này, mãi đến khoảng 1 thập kỷ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, mới cho thấy một sự thật rằng, với nhiều cựu binh, PTSD đã trở thành một căn bệnh mãn tính (tức dai dẳng, kéo dài).

 

Để tìm hiểu những tác động lâu dài của căn bệnh mãn tính này, các nhà nghiên cứu tại Khoa Y Tế Công Cộng, Đại học Harvard, Đại học Colombia, Liên đoàn Cựu Chiến Binh Mỹ và  Bệnh viện miền nam Đại học bang New York đã khảo sát 1,377 cựu binh Mỹ, những người đã từng phục vụ tại khu vực Đông Nam Á trong Chiến tranh Việt Nam 14 năm sau cuộc phỏng vấn lịch sử của NĐRS vào năm 1984.

 

Nghiên cứu phát hiện ra rằng gần 3 thập kỷ trôi qua sau Chiến Tranh Việt Nam, nhiều cựu binh vẫn tiếp tục gặp vấn đề với PTSD. Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên, có khoảng 12% người mắc PTSD. 14 năm sau, tỷ lệ mắc PTSD đã giảm xuống một chút còn khoảng 11%. Những người trước đây đã từng trải qua những trận đánh có tính khốc liệt cao hầu hết đều mắc PTSD trong cả 2 lần phỏng vấn.

 

Cựu binh nào vẫn đang mắc PTSD 14 năm sau cuộc phỏng vấn đầu tiên ghi nhận mình đang gặp phải nhiều vấn đề tâm lý xã hội hơn. Họ cho biết mức độ hài lòng kém với đời sống hôn nhân, đời sống tình dục, và cuộc sống nói chung. Họ cũng chỉ ra nhiều khó khăn khi làm cha mẹ, tỷ lệ ly hôn cao hơn, mức độ hạnh phúc thấp hơn và nhiều phàn nàn hơn về sức khỏe thể chất, như mệt mỏi, đau nhức và cảm lạnh. Cựu binh nào mắc PTSD lâu năm cũng thường hút thuốc lá.

 

Ảnh hưởng lâu dài.

Nghiên cứu tiếp tục phát hiện ra PTSD ở cựu binh Mỹ sau chiến tranh Việt Nam vẫn còn đáng lo ngại. Năm 2012, một nghiên cứu trên các cặp song sinh phát hiện ra rằng 10% người lính “lăn xả ngoài chiến trường” và 4.45% người lính “hậu đài” tiếp tục gặp phải những triệu chứng nghiêm trọng của PTSD. Trong nhiều trường hợp, PTSD được liệt vào nhóm “khởi phát trễ”. Một nghiên cứu khác cũng phát hiện ra những con số tương tự với 22% cho người trực tiếp ra trận và 15.7% người không trực tiếp ra trận tại chiến tranh Việt Nam.

 

Rõ ràng là PTSD tiếp tục ảnh hưởng lên đời sống hiện tại của nhiều cựu binh Mỹ trở về từ chiến tranh Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu đã đào sâu hơn vào tác động âm ỉ của PTSD và vai trò của nó trong nhiều bệnh lý sức khỏe khác đang tác động lên các cựu chiến binh Mỹ.

 

 Cựu binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt Nam tuần hành kêu gọi ủng hộ các nạn nhân nhiễm chất độc da cam/dioxin của cả Mỹ và Việt Nam (Ảnh: Couragetoresist)

 

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2022

Sự tưởng lầm về các giá trị sống

 

SỰ TƯỞNG LẦM VỀ CÁC GIÁ TRỊ SỐNG

Điều gì đang gây sự thiếu tự tin nơi các bạn trẻ?

Những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông. Chúng ta được tiếp thu rất nhiều văn hóa từ các nước khác. Nhất là qua phim ảnh, ca nhạc, các cuộc thi,…

Hình ảnh của những “Idol”, các ngôi sao ca nhạc, phim ảnh chói sáng. Làm cho không ít bạn trẻ tưởng lầm về các giá trị sống của mình.

Quan niệm sai lầm về những điều đem lại hạnh phúc, lý tưởng sống. Các bạn dễ ngộ nhận về mặt yếu kém của bản thân. Cho rằng mình không có giá trị bản thân, ngoại hình xấu xí, học lực kém cỏi, gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn…

 

Tất cả những điểm này khiến bạn trở nên tự ti về chính bản thân. Từ đó không thích giao thiệp, muốn trốn trong một vỏ bọc của riêng mình.

 

Sự phát triển của mạng xã hội. Khiến chúng ta dành nhiều thời gian cho đời sống ảo hơn đời sống thực. Thay vì đi ra ngoài, gặp gỡ, làm quen với những người khác. Bạn lại thích online trên các mạng xã hội và đọc tin tức, lướt web giải trí…

Đồ dùng công nghệ cao như smartphone, Iphone, Ipad…. Giúp bạn kết nối Internet mọi lúc mọi nơi, ngay cả khi đang đi trên xe bus, tàu hỏa,… Tạo điều kiện cho sự kết nối thế giới ảo ngày càng gần hơn. Đồng nghĩa với việc khoảng cách với xã hội ngày càng giãn cách.

 

Điều này khiến bạn ít va vấp thực trong quá trình giao tiếp trực tiếp. Thói quen này làm kỹ năng giao tiếp dần dần bị loại bỏ. Bạn không còn phản xạ linh hoạt để ứng xử và nói năng nữa. Bạn trở nên ngại giao tiếp thực tế, nhút nhát, thụ động khi nói chuyện.


Nguyên nhân của sự thiếu tự tin là gì ư, Nguyên nhân từ xã hội chỉ là 1 phần rất nhỏ. Quan trọng là bạn phải vượt ra khỏi vỏ bọc an toàn của mình

5 chữ VÀNG vượt qua mọi nghịch cảnh

5 CHỮ VÀNG VƯỢT QUA MỌI NGHỊCH CẢNH

Cuộc sống không phải lúc cũng trôi theo một dòng chảy êm đềm, có đôi khi bạn cảm thấy mệt mỏi và bế tắc. Khi đó, hãy nhớ đến 5 chữ này bạn nhé!

1. Tĩnh

“Im lặng là vàng”, đôi khi chúng ta cần nói ít đi, lắng nghe nhiều hơn để điều chỉnh tâm thái của chính bản thân. Vì cũng có lúc, người nói nhiều quá sẽ không hiểu hết giá trị của sự yên lặng.

Nói nhiều đôi khi chúng ta cũng không thể kiểm soát hành vi. Càng nói nhiều càng dễ bị nói hớ, dễ đi chệch hướng. Vậy nên, cần phải tĩnh tâm, suy nghĩ thấu đáo rồi mới làm, ắt tìm ra định hướng trong cuộc đời, thành công ắt tới.

 

2. Bình

Bình trong bình tĩnh, bình thản để cân bằng trong nội tâm. Cuộc sống hối hả, dòng đời xô bồ, tâm ai bình an, thanh thản người ấy sẽ cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc và thành công hơn người khác.

Bình cũng là cách đối nhân xử thế khéo léo. Bởi “dục tốc bất đạt”, nóng vội sẽ đưa ra quyết định sai lầm, khó khăn chồng chất khó khăn, bế tắc vẫn hoàn bế tắc.

 

3. Nhẫn

Nhẫn không đồng nghĩa với việc để người khác chà đạp. Nhẫn là để tự cảnh tỉnh bản thân, không nóng giận để rồi làm những việc sai trái. Tức giận không những hại sức khỏe, tổn thương tinh thần mà còn đánh mất đi giá trị đích thực trong con người bạn.

Vậy nên mới có câu: “Nhẫn nại để thể hiện sự độ lượng, tha thứ những việc không thể thay đổi được. Có dũng khí để thay đổi những việc có thể thay đổi được. Có trí tuệ để phân biệt được hai loại sự việc trên”. Làm được những điều này, bạn đã là người thành công rồi đó.

 

4. Nghe

Bản thân mỗi người cần phân định rõ đúng sai, phải trái. Nhưng nếu không lắng nghe người khác, bạn khó mà xác định được.

Lắng nghe để biết lòng người ý ta, để tìm cách đối nhân xử thế, khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh, âu cũng là mang lại lợi ích cho chính mình.

 

5. Nhẹ

Càng xem nhẹ mọi thứ, tâm càng dễ thanh tịnh, hạnh phúc càng ngập tràn. Danh lợi, tiền bạc chỉ là vật phù du, chết rồi có mang theo được đâu.

Buồn tủi, giận hờn sớm muộn rồi cũng qua đi, chỉ còn ta với ta. Vậy sao không xem nhẹ mọi thứ, học cách buông bỏ để mọi phiền não bị thổi bay nhanh chóng.

 

Chỉ với 5 chữ vàng đơn giản, nhưng nếu làm được, bạn sẽ sớm vượt qua mọi khó khăn, bế tắc trong cuộc đời, tâm tưởng lúc nào cũng nhẹ tênh để tiến tới những thành công to lớn.