Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

Việt Nam đã có 50 nhà khoa học nữ nhận giải thưởng Kovalevskaia

  

Nhà giáo ưu tú Bùi Thị Tý (trái) và PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Chi (phải) và nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia Việt Nam.

VIỆT NAM ĐÃ CÓ 50 NHÀ KHOA HỌC NỮ NHẬN GIẢI THƯỞNG KOVALEVSKAIA

Giải thưởng mang tên nhà nữ Toán học lỗi lạc người Nga - Kovalevskaia - bắt đầu được xét trao cho các nhà khoa học nữ Việt Nam thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên từ năm 1985.

Tính đến hết năm 2020, tại Việt Nam, đã có 21 tập thể và 50 cá nhân được trao giải. Bà Trần Vân Khánh (sinh năm 1973) là nhà khoa học trẻ nhất được nhận giải trong lịch sử giải thưởng Kovalevskaia tại Việt Nam.

10 nhà khoa học nữ Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng Kovalevskaia

 

1. Nhà giáo ưu tú Bùi Thị Tý

Nhà giáo ưu tú Bùi Thị Tý sinh năm 1936 tại Nam Định, bà học chuyên ngành toán học và nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1985 khi đang công tác tại Trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ Hà Tây (nay là TP Hà Nội).

Nhà giáo ưu tú Bùi Thị Tý có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học áp dụng vào thực tế giảng dạy như Đề tài Bất đẳng thức; Cực trị của một biểu thức hoặc một hàm số áp dụng bài toán cực trị vào đời sống thực tế trong sản xuất; Áp dụng định lý đảo về dấu tam thức bậc 2;…


 2. PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Chi

PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Chi sinh năm 1935 tại vùng quê Thạch Thất, Hà Nội. Bà mất năm 2016. Sinh thời, bà công tác trong ngành Dược và nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1985 khi đang là Phó Tổng Giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp Dược Việt Nam.


3. PGS.TS. Nguyễn Thị Báu

Cố PGS.TS. Nguyễn Thị Báu sinh năm 1938 tại Nha Trang (Khánh Hòa). Năm 1975 bà đạt học vị Tiến sĩ tại Mạc tư Khoa, Liên Xô cũ (nay là Matxcơva, Liên bang Nga) và được phong học hàm Phó Giáo sư năm 1991. Bà nhận Giải thưởng Kovalevskaia năm 1986 khi đang làm Phó Viện trưởng Viện Công nghiệp Dệt sợi, Bộ Công nghiệp.


4. PGS.TS. Nguyễn Thị Thế Trâm

PGS.TS. Nguyễn Thị Thế Trâm sinh năm 1930 tại Bình Định. Bà nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1986 khi đang là Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang từ năm 1975 đến tháng 10/1997.


5. GS.TS. Nguyễn Thị Thu Cúc

GS.TS. Nguyễn Thị Thu Cúc sinh năm 1945 tại Mỹ Đức (Hà Nội). Bà giành giải thưởng Kovalepskaia năm 1987. Bà là giảng viên trường Đại học Cần Thơ, nghiên cứu khoa học, đồng thời là Phó Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam.


6. PGS.TS. Nguyễn Thị Dần

PGS.TS. Nguyễn Thị Dần sinh năm 1930 tại Bình Định. Bà nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1987 trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Nông hóa, Thổ nhưỡng khi đang làm Trưởng bộ môn Nghiên cứu Đất cơ bản, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.


7. GS.TS. Phạm Thị Trân Châu     

PGS.TS. Phạm Thị Trân Châu sinh năm 1938 tại tỉnh Quảng Nam. Bà nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1998 khi đang công tác tại khoa Sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hiện tại bà là Ủy viên Hội đồng Tư vấn khoa học, Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học, Đại học quốc gia Hà Nội.


8. GS.TS. Võ Hồng Anh

GS.TS. Võ Hồng Anh sinh năm 1942 tại Quảng Bình, bà mất năm 2009. Bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Toán - Lý về "Lý thuyết Plasma" tại Hội đồng Khoa học Viện Nghiên cứu vật lý hạt nhân thuộc Trường Đại học Tổng hợp Moskva, Liên Xô. Năm 1979

Bà nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1988 khi đang công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia.


9. PGS.TS. Lê Thị Kim

PGS.TS. Lê Thị Kim sinh năm 1937 tại Hà Nội. Bà đạt học vị Tiến sĩ năm 1973 tại Bungari và học Phó Giáo sư năm 1990. Bà nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1989 khi đang giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Dâu tằm tơ Trung ương.


10. GS.BS. Vũ Thị Phan

GS.BS. Vũ Thị Phan sinh năm 1932 tại tỉnh Ninh Bình, bà mất năm 2014. Bà nhận giải thưởng Kovalevskaia năm 1989 khi đang giữ chức vụ Viện trưởng Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương, Bộ Y tế.


Ba nhà khoa học nữ Việt Nam được vinh danh trên thế giới năm 2020

.

* PGS-TS Trần Thị Lý sinh năm 1975, quê ở Quảng Trị. Tốt nghiệp Đại học Khoa học Huế vào năm 1997, năm 2001 bà được đào tạo thạc sĩ tại đại học nổi tiếng Monash University Úc.

.

PGS-TS Trần Thị Lý nhận Giải thưởng Noam Chomsky - Ngôi sao tỏa sáng về thành tựu trong nghiên cứu, công nhận những người có đóng góp xuyên quốc gia, có sức ảnh hưởng ở bất kỳ lĩnh vực nào.

Bà là nhà khoa học có tiếng với nhiều đóng góp lớn trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật và giảng dạy. Bà đang công tác tại khoa Nghệ thuật và Giáo dục, Đại học Deakin, Úc Năm 2019, bà từng được tạp chí Forbes Việt Nam công bố là một trong 50 phụ nữ ảnh hưởng nhất Việt Nam.

.

PGS-TS Trần Thị Lý có nhiều nghiên cứu về nội dung đổi mới giáo dục đại học Việt Nam nhìn từ phương diện quốc tế; mối tương quan giữa chương trình giáo dục đại học và thị trường lao động; khả năng làm việc của sinh viên mới tốt nghiệp; quốc tế hóa giáo dục đại học Việt Nam...


* TS Trần Thị Hồng Hạnh - Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được vinh danh vì những nỗ lực không ngừng trong lĩnh vực nghiên cứu hóa học, hóa sinh hữu cơ.

Các công trình nghiên cứu của TS Trần Thị Hồng Hạnh góp phần giúp chuẩn hóa phương pháp xác định, đánh giá và tìm kiếm những nguồn dược liệu mới cho Việt Nam và thế giới một cách bền vững.

 

* GS-TS Nguyễn Thị Kim Thanh tốt nghiệp chuyên ngành Hóa học tại ĐH Quốc gia Hà Nội năm 1992. Sau đó, bà đi du học và bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu quốc tế có uy tín tại Hà Lan, Mỹ và Anh. Năm 2013 GS Kim Thanh đảm nhận vị trí giáo sư tại ĐH College London.

GS-TS Nguyễn Thị Kim Thanh giáo sư người Việt đầu tiên tại UCL, chuyên ngành vật liệu nano tại Phòng thí nghiệm UCL Nanomaterials Laboratory, đặt tại Viện Royal Institution và Nhóm sinh lý (biophysics), Khoa Vật lý và Thiên văn, Đại học University College London, Anh. Bà công tác tại Đại học University College London (UCL). 

 

GS-TS Nguyễn Thị Kim Thanh vinh dự nhận huy chương Rosalind Franklin của Royal Society ở London, Anh với những thành tựu có tầm ảnh hưởng lớn về nghiên cứu khoa học ứng dụng vật liệu nano trong lĩnh vực y sinh, chăm sóc sức khỏe.

 

  GS. Nguyễn Thị Kim Thanh tại Hội thảo quốc tế tại Việt Nam. Ảnh: BQT

Ngày phụ nữ việt nam 20 – 10, Bình đẵng giới

 

NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM 20 – 10, BÌNH ĐẴNG GIỚI

Năm 2020 Việt Nam đứng thứ 87/153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Phụ nữ chiếm khoảng 45% thu nhập trong nền kinh tế, 70% trong tổng số phụ nữ tham gia lực lượng lao động, Tỷ lệ nữ có bằng đại học tương đương nam giới, tỷ lệ nữ tiến sĩ 28%. Nữ doanh nhân chiếm 31,3%, Các vị trí quản lý cấp cao do phụ nữ Việt Nam đảm nhiệm chiếm 27%.

Ngày nay có thể nói, việc bảo đảm quyền bình đẳng giới ở Việt Nam đạt được nhiều thành tựu lớn. Tuy nhiên, khoảng cách giới còn tồn tại khá lớn trong một số lĩnh vực của cuộc sống. Định kiến giới truyền thống về vai trò của phụ nữ, gắn phụ nữ với công việc chăm sóc gia đình và nam giới với việc kiếm tiền giúp gia đình vẫn còn tồn tại.

Trong lĩnh vực kinh tế, cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao và các nguồn lực kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới. Phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn trong khu vực phi chính thức của thị trường lao động. Họ kiếm được ít thu nhập hơn và ít được pháp luật về lao động bảo vệ và ít được tiếp cận trực tiếp với sự bảo trợ xã hội. 

Định kiến giới, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn khá phổ biến. Phụ nữ vẫn được coi là người đảm nhận chính công việc chăm sóc gia đình, nam giới vẫn được kỳ vọng trở thành người thành đạt, bảo đảm kinh tế cho gia đình. Mặc dù phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các quyết định trong gia đình, song nam giới vẫn là người ra các quyết định chính. Điều này đang tạo ra những rào cản đối với sự lựa chọn các cơ hội phát triển của cả nam và nữ.

Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ tồn tại khá nghiêm trọng. Tại không ít địa phương, các cấp chính quyền, cộng đồng coi bạo lực gia đình là chuyện riêng tư của mỗi gia đình. Chế tài thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa mạnh, chưa xử lý nghiêm các hành vi bạo lực gia đình.

Xem chuyện gì đang xảy ra với nữ quyền trên thế giới

Vài thập niên gần đây, số liệu của RAINN cho thấy tỷ lệ bạo lực tình dục với nữ giới đã giảm và tỷ lệ bạo hành gia đình đã cũng đi xuống 2/3 so với trước đây. Phụ nữ ở Mỹ bắt đầu có dấu hiệu vượt nam giới trên thị trường lao động và hiện chiếm tới 60% tỷ lệ cử nhân.


Tổ chức nghiên cứu CONSAD Research sử dụng số liệu của Bộ thống kê lao động Mỹ (BLS) cũng cho thấy mặc dù nữ giới chỉ có thu nhập bằng 77% so với nam giới nhưng nếu tính cả những yếu tố như đàn ông làm lâu hơn, tham gia những công việt nặng nhọc, nguy hiểm hơn hay nghỉ hưu muộn hơn thì tỷ lệ này chỉ vào khoảng 93-95%.

Vấn đề ở đây là kể từ cuộc cách mạng nữ quyền từ thập niên 1960, rất nhiều thứ đã thay đổi trên thị trường lao động, nhất là với sự phát triển của ngành dịch vụ, công nghệ. Thậm chí, nhiều chuyên gia cho rằng lao động nam chẳng mấy nữa sẽ bị nữ giới bỏ lại đằng sau trên thị trường việc làm.


Trước đây, phụ nữ nói được, làm được. Họ ra đường biểu tình và đi bỏ phiếu bầu cử. Họ đến trường và vượt mặt cánh đàn ông về số cử nhân. Họ đi làm và khiến nam giới phải ngạc nhiên về khả năng kiếm tiền.

Thế nhưng ngày nay, cuộc chiến bình đẳng giới bị cuốn trong những tranh cãi về triết lý và cảm xúc hơn là thực sự làm được điều gì đó. Phụ nữ chiếm đến 60% số cử nhân nhưng lại chỉ chiếm 20% số người đạt các chứng chỉ chuyên môn khoa học, công nghệ, toán học, vốn giúp họ kiếm được nhiều tiền hơn.


Nếu bạn phàn nàn quá ít phụ nữ trong nghiên cứu khoa học vậy hãy học toán và trở thành một nhà khoa học. Nếu bạn phàn nàn có quá ít nữ CEO hay nữ doanh nhân, vậy hãy khởi nghiệp và lập kế hoạch để làm bà chủ. Bạn muốn nhiều nữ giới hơn trong chính trường, vậy hãy tranh cử hoặc ít ra ủng hộ nữ chính trị gia.


Một nhà hoạt động chính trị thực thụ vì nữ quyền sẽ có hành động cụ thể thay vì chỉ ngồi chém gió trên các diễn đàn với mục đích thay đổi tư tưởng xã hội. Diễn thuyết và bình luận trên mạng xã hội dễ hơn nhiều so với việc thực hiện những bước tiến cụ thể cho bình đẳng giới.

Thứ Ba, 19 tháng 10, 2021

Sisu – Triết lý sống của đất nước Phần Lan

 

SISU – TRIẾT LÝ SỐNG MẠNH MẼ, NGOAN CƯỜNG CỦA ĐẤT NƯỚC PHẦN LAN


Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới của Mạng lưới Giải pháp Phát triển Bền vững của Liên Hiệp Quốc, năm 2021 Phần Lan là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Đây năm thứ 4 liên tiếp đứng đầu bảng xếp hạng.

.

Phần Lan là một quốc gia nhỏ bé nằm ở Bắc Âu. Tuy sở hữu địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt nhưng từ lâu, đất nước khiêm nhường này đã chiếm vị thế đặc biệt trên bản đồ thế giới nhờ vào triết lý sống hạnh phúc – SISU

.

Triết lý sống hạnh phúc – SISU. Triết lý sống hạnh phúc đến từ sức mạnh nội tâm

Là khái niệm đã tồn tại ít nhất 500 năm, Sisu trở nên phổ biến hơn bao giờ hết từ những năm 1920 đến tận ngày nay. Trong tiếng Phần Lan, Sisu có nghĩa là đường ruột của cơ thể, bắt nguồn từ niềm tin cổ xưa rằng bụng chính là nơi sản sinh sức mạnh tinh thần cũng như hun đúc sự quyết tâm, quả cảm.

.

SISU là một thuật ngữ khó diễn giải và không có từ đồng nghĩa trong tiếng Anh, Sisu là sự pha trộn hài hòa của nhiều đức tính: can đảm, nghị lực, liêm chính, kiên cường, dẻo dai và bền bỉ. Đó chính là những phẩm chất tiên quyết đã định hình số phận của dân tộc ngoan cường, Sisu là lối tư duy chủ động hướng tới hành động quyết đoán.

Tinh thần Sisu chỉ thực sự trỗi dậy khi chúng ta cảm thấy nguồn sức mạnh nội tại trở nên cạn kiệt. Nói cách khác, trong khoảnh khắc phải đương đầu với nghịch cảnh khiến chúng ta nản lòng, Sisu sẽ thức tỉnh và truyền thêm dũng khí giúp bạn tiếp tục tiến bước.

.

Người dân Phần Lan đã luôn vận dụng triết lý sống Sisu trong mọi hoàn cảnh, từ những cuộc đấu tranh gian lao tưởng chừng không thể thắng lợi cho đến việc chinh phục khí hậu khắc nghiệt để làm chủ thiên nhiên. Khác với các chiến công hiển hách, hành động liều lĩnh hay chủ nghĩa anh hùng cực đoan, những thành quả của tinh thần Sisu luôn diễn ra một cách nhẫn nại, lặng thầm mà chắc chắn, bền lâu.

.

SISU là nét tính cách tốt đẹp mang tính phổ quát, chỉ là từ lâu người Phần Lan đã định nghĩa và gọi tên nó mà thôi. Vì vậy bất kỳ ai trên thế giới cũng có thể học hỏi và rèn luyện tinh thần Sisu để nâng cao chất lượng cuộc sống. Rất có thể, Sisu đã luôn hiện hữu trong chính

con người bạn, là biểu tượng của ý chí sắt đá và trái tim kiên định.

.


 Ảnh: đất nước phần lan - Nhà vô địch Olympic. Phần Lan có tổng số huy chương Olympic trên đầu người nhiều nhất trên thế giới. Tính đến năm 2020, đất nước 5,54 triệu dân này sở hữu tổng cộng 303 huy chương, nghĩa là gần 55 huy chương trên một triệu dân. Đất nước cũng giành huy chương trong mọi kỳ Olympic Mùa hè kể từ năm 1908. Ảnh: Olivier Morin/AFP