Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2025

Toán học với văn hóa dân tộc

 

TOÁN HỌC VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC

 

Henri Poincaré, nhà toán học và triết gia khoa học nổi tiếng, từng khẳng định: “Toàn bộ khoa học, đặc biệt là toán học, là sản phẩm của trí tuệ phổ quát của con người, chứ không phải của một dân tộc nào.” Dưới góc nhìn này, toán học đích thực không mang tính dân tộc.

Tuy nhiên, khi xét đến các nền toán học cụ thể, ta lại thấy đó là những câu chuyện riêng biệt của từng nền văn hóa. Dẫu mang tính phổ quát, toán học không thể phát triển trong một “khoảng không” trung tính. Nó luôn được thai nghén trong lòng những nền văn minh nhất định.

Cũng như ngôn ngữ, toán học là bản giao hưởng trầm mặc của một nền văn minh – nơi lý trí và văn hóa hòa quyện thành một bản thể sống động của nhân loại.

 

Nhìn lại từ thời cổ đại, với khát vọng lý tính và xây dựng hệ thống của Hy Lạp, tinh thần thực tiễn và tổng hợp của Trung Hoa, đến mô hình học thuật tự do, liên ngành và sáng tạo của Mỹ ngày nay, có thể thấy rằng toán học không chỉ là sản phẩm của trí tuệ, mà còn là tấm gương phản chiếu những giá trị nền tảng, những cách thức con người cảm nhận và lý giải thế giới.

Sự phát triển của mỗi nền toán học luôn gắn bó mật thiết với bối cảnh văn hóa của nó. Toán học Mỹ đương đại, không chỉ kế thừa tinh hoa từ toán học Hy Lạp và Trung Hoa, mà còn phát triển chúng một cách ngoạn mục, kết hợp lý thuyết trừu tượng với ứng dụng thực tiễn.

Điều này tạo nên một nền toán học toàn cầu, vừa có chiều sâu lý thuyết, vừa đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong xã hội hiện đại.

 

Tư duy toán học và triết lý sống của các nền văn hóa

Người Ấn Độ cổ đại phát triển một nền toán học giàu sức tưởng tượng và mang chiều kích triết học sâu sắc. Khái niệm về số không (zero) – không chỉ là một phát minh mang tính kỹ thuật, mà còn thể hiện của triết lý hư vô trong Ấn Độ giáo và Phật giáo. Việc chấp nhận số không – vốn là một ý niệm rất khó nắm bắt – cho thấy tinh thần siêu hình, ưa trừu tượng và chấp nhận nghịch lý của văn hóa Ấn.

Cùng với đó, hệ thống số thập phân, phép khai căn hay khái niệm về vô hạn cũng đều xuất hiện rất sớm trong các văn bản toán học Ấn Độ, nhiều thế kỷ trước khi châu Âu tiếp cận được. Điều này phản ánh sự kết nối giữa toán học và triết lý về sự vô hạn, cũng như sự tồn tại vô hình của vũ trụ – những khái niệm trừu tượng, nhưng lại là cốt lõi trong thế giới quan Ấn Độ.

 

Một bối cảnh văn hóa khác, thời trung đại, văn hóa Hồi giáo – trải rộng từ Ả Rập đến Ba Tư và Bắc Phi – phát triển mạnh mẽ một nền toán học, không chỉ dựa vào nhu cầu thực tế của các quốc gia Hồi giáo, mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ triết học Hy Lạp mà người Ả Rập tiếp thu và phát triển.

Tác phẩm nổi tiếng: Al-Kitab al-Mukhtasar fi Hisab al-Jabr wal-Muqabala của nhà toán học Al-Khwarizmi – người được coi là cha đẻ của đại số học – là minh chứng cho một nền văn hóa – kết hợp nhu cầu thực tiễn với tinh thần trừu tượng hóa cao. Các khái niệm như số học, đại số và hình học đều được nghiên cứu một cách toàn diện, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa toán học và các yếu tố triết lý về sự hoàn hảo và trật tự trong vũ trụ.

 

Như vậy, mỗi nền văn hóa đều hình thành nên một phương thức tư duy toán học đặc trưng, phản ánh sự hòa nhập giữa những giá trị triết học sâu xa và những yêu cầu thực tế của xã hội. Từ tính trừu tượng siêu hình trong toán học Ấn Độ đến sự kết hợp nhu cầu thực tiễn và tinh thần trừu tượng hóa trong toán học Hồi giáo, mỗi nền văn hóa đều góp phần làm giàu thêm cho tiến trình phát triển chung của tri thức nhân loại.

Qua đó, toán học hiện lên không chỉ như một phương tiện giải quyết vấn đề, mà còn như tấm gương thu nhỏ, phản chiếu những quan niệm triết lý về thế giới và sự tồn tại của con người.

 

Văn hóa – xã hội và số phận của toán học

Văn hóa không chỉ chi phối cách con người tư duy, mà còn quy định ai được học, và học cái gì. Châu Âu thời Phục Hưng, khi tinh thần nhân văn trỗi dậy, đã chứng kiến sự giải phóng khoa học và toán học khỏi những ràng buộc thần quyền. Khoa học trở thành công cụ khai mở ánh sáng văn minh và tiến bộ. Những tên tuổi vĩ đại như Galileo Galilei, René Descartes và Isaac Newton, không chỉ đại diện xuất sắc cho các nhà khoa học, mà còn là biểu tượng văn hóa – hiện thân của một thời đại tự tin vào lý trí và khả năng cải tạo thế giới bằng tri thức.

Trái lại, với những xã hội mà thần quyền hoặc truyền thống cứng nhắc chiếm ưu thế, toán học thường bị hạn chế. Trong những hoàn cảnh ấy, tri thức có thể chỉ được sử dụng để phục vụ nghi lễ, bói toán hay duy trì trật tự tôn giáo, thay vì khám phá tự nhiên hay cải thiện đời sống con người.

 

Hilbert và Bourbaki từng đề cập với ý rằng: “Toán học không sinh ra từ thói quen học thuộc, mà từ khát vọng không chấp nhận những điều chưa được chứng minh.” Còn Kinh Thánh có câu: “Dân chúng không có sự khải tượng thì bị hư mất.” Vậy thử hỏi, trong một xã hội thiếu vắng cả khát vọng lẫn khải tượng ấy – tức là nơi con người không có truy cầu chân lý, không lý tưởng để soi đường, không động lực để vượt qua những giới hạn – liệu toán học có thể có được sức sống nội tại, và hiện hữu như một biểu tượng rực rỡ của tinh thần nhân loại hay không?

 

Toán học góp phần tái định hình văn hóa

Mối quan hệ giữa toán học và văn hóa là một mối quan hệ hai chiều. Không chỉ bị văn hóa định hình, toán học cũng tham gia định hình lại văn hóa – thông qua ảnh hưởng của nó đến cách con người tư duy, thay đổi khoa học, và tổ chức hành động.

Đặc biệt trong thế kỷ XX, sự phổ cập của xác suất thống kê, tư duy logic và các mô hình toán học đã làm biến đổi sâu sắc triết học, cũng như cách thức tổ chức đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, hành chính và giáo dục.

Một minh chứng sống động là Phần Lan – nơi giáo dục nhấn mạnh tư duy phản biện, năng lực tính toán và khả năng giải quyết vấn đề, góp phần kiến tạo một xã hội minh bạch, dân chủ và hiệu quả. Ở đó, năng lực toán học không chỉ là kỹ năng học thuật, mà còn là một phần thiết yếu của văn hóa – thúc đẩy việc hình thành một xã hội lý trí, nền nếp và năng động.

 

Toán học, khi được nuôi dưỡng bởi những giá trị văn hóa tích cực và được đầu tư đúng hướng trong giáo dục, không chỉ hỗ trợ cho việc tạo dựng những thành tựu khoa học – công nghệ vượt trội, mà còn làm sâu sắc thêm bản sắc và sức mạnh văn hóa của mỗi dân tộc.

Vậy phải chăng, toán học, khi được tích hợp vào cấu trúc giáo dục và chính trị, có thể trở thành một trụ cột của bản sắc văn hóa mới – thúc đẩy sự đổi mới và hiện đại hóa?

***

Trong suốt hành trình phát triển của mình, toán học chưa bao giờ tách khỏi dòng chảy văn hóa – xã hội. Tuy bản thân môn khoa học này mang tính phổ quát, nhưng mỗi nền toán học lại phản chiếu tinh thần của thời đại và triết lý sống của cộng đồng đã sản sinh ra nó.

 

Hiểu được mối liên hệ sâu xa ấy, không chỉ giúp ta trân trọng hơn những giá trị của tri thức, mà còn khơi dậy một cái nhìn toàn diện, về vị trí của toán học trong tiến trình khai mở văn minh. Và chính trong sự đan xen giữa tư duy lý tính và bối cảnh văn hóa, giữa khát vọng khám phá và những giới hạn của thời đại, toán học tiếp tục khẳng định vai trò của mình – như một trong những động lực cốt lõi, âm thầm nhưng bền bỉ, dẫn dắt nhân loại hướng tới một tương lai không chỉ tiến bộ, mà còn bền vững và nhân bản.

 

Dương Quốc Việt

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2024

Alexander Grothendieck và nền toán học Việt Nam

 

ALEXANDER GROTHENDIECK VÀ NỀN TOÁN HỌC VIỆT NAM

Tháng 11 năm 1967 nhà toán học Alexander Grothendieck sang miền Bắc Việt Nam, rồi ông mở lớp giảng bài cho Đại học Hà Nội đang sơ tán trong rừng. Ông thực hiện chuyến đi của mình đến Việt Nam trong thời kì ác liệt nhất của cuộc chiến tranh.

Ở khu sơ tán, có một hình ảnh về ông mà không bao giờ tôi quên. Đó là có một lần, tôi thấy ông cởi trần ngồi đọc sách, cái áo ướt màu “phòng không” vắt trên bụi sim.

Hỏi ra mới biết, ông giành toàn bộ va li của mình để mang theo sách vở sang tặng các nhà toán học Việt Nam, và chỉ có bộ quần áo duy nhất mặc trên người!

Vậy nên mỗi lần giặt, ông phải chờ quần áo khô để mặc lại chứ không có quần áo để thay! Trong thời gian ông ở Việt Nam, mỗi tuần ông đều nhịn ăn vào ngày thứ sáu. Khi các nhà toán học Pháp biết chuyện, họ đều rất ngạc nhiên vì không thấy ông có thói quen đó khi ở Pháp.

Và người ta cho rằng chỉ có thể có một cách giải thích: ông muốn tiết kiệm một phần lương thực cho Việt Nam! Đó là một con người với thiên tài kì lạ, cá tính kì lạ, và cũng có tấm lòng ưu ái kì lạ với Việt Nam.

Sau khi từ Việt Nam trở về, tháng 11 năm 1967, Grothendieck đã viết một bài về chuyến đi của mình, kết thúc bằng câu: "Tôi đã chứng minh một trong những định lí quan trọng nhất của mình, đó là: Tồn tại một nền toán học Việt Nam”.

Bài viết đó nhanh chóng trở thành nổi tiếng trong thế giới toán học, bởi vì bất cứ điều gì mà Grothendieck viết ra đều là điều mà mọi người làm toán quan tâm.

Phải nói rằng, không phải Grothendieck chỉ “chứng minh” sự tồn tại của nền toán học Việt Nam, mà chính ông đã góp phần vào “sự tồn tại” đó.

Tôi hiểu điều này một cách rõ ràng khi, rất nhiều năm sau chuyến đi của Grothendieck, nhiều đồng nghiệp nước ngoài nói với tôi rằng, họ biết đến nền toán học Việt Nam từ sau khi đọc bài viết của Grothendieck.

Và cũng nhiều lần, tôi phải kể lại tường tận những gì tôi đã được chứng kiến, những gì Grothendieck đã làm trong chuyến đi thăm Việt Nam.

Bản thân sự kiện Grothendieck đến Việt Nam đã là điều đáng ngạc nhiên. Ông, người được trao giải thưởng Fields (là giải thưởng cao nhất về toán, tương tự như giải Nobel đối với các ngành khoa học khác, được tặng 4 năm một lần cho 1-4 nhà toán học xuất sắc nhất thế giới), người mà bất kì một trường đại học lớn nào cũng lấy làm vinh dự khi ông đến thăm, lại đi đến Việt Nam đang dưới bom đạn ác liệt?

Nhưng, để có thể hình dung tại sao những điều Grothendieck viết ra lại có ảnh hưởng to lớn như vậy trong thế giới toán học.

Grothendieck đã làm một cuộc cách mạng thực sự trong toán học. Có thể nói, ông để lại dấu ấn của mình trong mọi lĩnh vực của toán học hiện đại.

Người ta có thể nhận ra ảnh hưỏng của Grothendieck ngay cả khi không thấy trích dẫn định lí cụ thể nào của ông.

Khi ông đến Việt Nam (năm 1967), tôi vừa học xong năm thứ tư Khoa toán trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Tuy đã tốt nghiệp nhưng chưa nhận công tác nên tôi được “tự do” rời khu sơ tán về Hà Nội và đi nghe các bài giảng của ông.


Vậy mà ông, người đến từ một đất nước đã từ lâu không có chiến tranh, không hề tỏ ra mảy may lo sợ. Nhưng rồi thì các bài giảng của ông cũng phải chuyển lên khu sơ tán, vì không thể nào giảng bài khi mà buổi học bị ngắt quãng hàng chục lần vì máy bay.

Theo lời ông nói, chuyến đi Việt Nam đã làm ông thật sự ngạc nhiên: ở một đất nước ngày đêm phải đối đầu với cuộc chiến tranh ác liệt bậc nhất trong lịch sử, người ta vẫn dạy toán, học toán, và biết đến những thành tựu hiện đại nhất của toán học! Từ sự ngạc nhiên đó, ông đã công bố định lí của mình: “Tồn tại một nền toán học Việt Nam”.

Chuyến đi của Grothendieck đã mở đầu cho một loạt chuyến đi thăm và giảng bài của nhiều nhà toán học lớn đến Việt Nam, trong đó nhiều nhất vẫn là các nhà toán học Pháp: L. Schwartz, A. Martineau, P. Cartier, Y. Amic,... Có thể nói chuyến đi của Grothendieck là một cột mốc quan trọng trong lịch sử hợp tác khoa học giữa các nhà toán học Việt Nam và các nhà toán học Pháp.

Theo GS Hà Huy Khoái (Tia Sáng)

* Alexander Grothendieck (19282014) người Pháp gốc Do Thái là một trong những nhà toán học có ảnh hưởng rất lớn trong thế kỷ 20. Ông được trao huy chương Fields năm 1966.