Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

Cô thôn nữ quyết cưới anh lính đặc công mù, nửa thế kỷ giữ một cam kết

 

CÔ THÔN NỮ QUYẾT CƯỚI ANH LÍNH ĐẶC CÔNG MÙ, NỬA THẾ KỶ GIỮ MỘT CAM KẾT

 

Một lời ước hẹn, kiên định lựa chọn một đời

 

Đến tận bây giờ, ông vẫn không cắt nghĩa được vì sao vợ ông - một cô gái xinh đẹp, có bố công tác trong quân đội, tương lai rộng mở - lại quyết lấy ông, một anh thương binh mù làm chồng.

 

Tình yêu của anh lính đặc công và bà Hồ Thị Thắng (SN 1953, trú cùng quê xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu cũ, nay là xã Quỳnh Tam) nảy nở vào năm 1971, trong lần ông từ chiến trường Trị - Thiên ra Bắc huấn luyện chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Kết thúc huấn luyện, ông Thiềng vào chiến trường Nam Bộ chiến đấu mang theo lời hẹn ước ngày hòa bình sẽ trở về làm đám cưới.

 

Ngày 28/10/1972, trong khi làm nhiệm vụ, ông bị thương vào mắt và lọt vào ổ phục kích của địch. Sau 7 ngày bị tra tấn tàn bạo mà không khai thác được thông tin gì, địch đưa ông về Trại giam Hố Nai, Biên Hòa. Nếm đủ mùi tra tấn, bị nhốt vào chuồng cọp, thương tích đầy mình, đói, khát nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết người lính đặc công.

 

Năm 1973, ông Thiềng được trao trả sau khi hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam.

Những ngày ở trại an dưỡng tại tỉnh Bình Phước cũ, ông nhờ người viết thư cho gia đình nhưng không dám nói mình bị thương, đã mù 2 mắt. Trước đó quê nhà nghe tin ông đã hi sinh nên đọc thư gửi về mọi người không dám tin, bởi chữ trong thư quá khác.

 

Ông ra Bắc điều trị, nhờ người viết thư về cho bà Thắng. Nét chữ có khác nhưng bà Thắng nhận ra một dòng trong bức thư trước đó anh lính gửi về mà bà đã chép trong nhật ký. Bà tin ông còn sống, nhưng có lẽ tay bị thương không thể tự viết.

 

Năm 1974, ông từ trại an dưỡng về thăm quê. Gần tối, nhà ông đón mấy người khách tới thăm. Có người dúi vào tay ông Thiềng một bàn tay, hỏi ông có nhận ra ai không. Ông cầm lấy, cảm nhận được bàn tay thân thuộc... nhưng cổ họng nghẹn lại không biết nói gì.

 

Ông viện cớ mắt đau, xin phép vào buồng nhỏ thuốc. Căn buồng nhỏ lặng lẽ có thêm một người, nghe tiếng nấc nghẹn kìm nén, ông biết đó là ai...

Trong lòng nổi bão giông nhưng ông vẫn cứng cỏi động viên người yêu đừng vì lời hẹn ước trước kia mà chịu khổ. “Ta chưa ràng buộc gì, em cứ đi lấy chồng đừng theo anh mà khổ”, ông nói.

 

Bà Thắng phân trần rằng khóc vì thương, không phải vì ông không còn lành lặn mà phai nhạt. Dù ông có sao đi nữa, tình cảm của bà vẫn nguyên vẹn như ngày đầu.

Những lần gặp gỡ hiếm hoi tiếp theo, cô thôn nữ càng thêm chắc chắn với lựa chọn của mình. Cô muốn là đôi mắt của anh, cùng anh đi hết quãng đời còn lại dù biết bao khó khăn, thử thách.

 

“Lúc quyết định lấy nhau, tôi chỉ có một giao kèo, nếu sau này sống với nhau, có điều gì không bằng lòng thì nói trước mặt, không được nói sau lưng. Suốt hơn 50 năm, tôi chưa thấy bà ấy than khổ, chưa một lần kêu hối hận vì sự lựa chọn của mình”, ông Thiềng kể.

 

"Anh không tiếc máu xương cho Tổ quốc, sao tôi lại sợ khổ?"

Nghe chồng nói, bà Thắng chỉ cười hiền. Suốt nửa thế kỷ qua, vất vả, gian truân nhưng bà chưa một lần lấn cấn về lựa chọn của mình. Bà không cắt nghĩa được vì sao giữa nhiều lựa chọn tốt hơn, bà lại chọn ông, người đã mất đến 95% sức khỏe, đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng.

 

“Anh ấy bị thương, như thế đã thiệt thòi lắm rồi. Anh không tiếc máu xương cho Tổ quốc, không màng nguy hiểm, sao tôi chỉ vì sợ khó, sợ khổ mà thoái lui”, bà tâm sự. Có lẽ, trong tình yêu kiên định của cô thôn nữ còn là tình thương và sự nể phục dành cho người lính đặc công...

 

Tháng 2/1975, đám cưới giản dị được tổ chức. Người vui cho ông Thiềng, có người lo cho bà Thắng. Nhưng bằng tình yêu và sự kiên định, chính cô thôn nữ ấy đã chèo lái cả gia đình, xây đắp nên hạnh phúc của mình.

 

Cưới nhau về, bà Thắng vẫn ở nhà chăm sóc người mẹ đau yếu, còn ông Thiềng vào trại điều dưỡng thương binh ở tỉnh Vĩnh Phú cũ. Thời ấy đi lại khó khăn, giao thông cách trở, họ là vợ chồng nhưng vẫn trong cảnh yêu xa.

 

Bà chu toàn nhiệm vụ của con dâu trưởng, vừa chăm sóc mẹ, lo cho em trai khi bố công tác xa. Năm 1977, ông Thiềng chuyển về an dưỡng tại Nghệ An. Mãi đến năm 1979, vợ chồng ông Thiềng mới có con đầu lòng.

 

Ngày bà Thắng chuyển dạ, ông xin về nhà chăm sóc hai mẹ con. Không còn đôi mắt nhưng ông còn đôi tay và tình yêu vô bờ bến cho vợ con.

Ông lần mò trong bóng tối, tập thay tã cho con, bế ẵm để vợ nghỉ ngơi.

 

Lần lượt 4 người con nữa ra đời, gánh nặng trên đôi vai bà Thắng trĩu hơn. Ông Thiềng quyết định xin rời trung tâm điều dưỡng thương binh về nhà.

Đôi mắt bị mù, không thể làm ruộng hay đi chặt củi, ông lựa chọn làm “hậu phương” cho vợ, chu toàn việc chăm sóc, bảo ban các con.

 

Sau nửa thế kỷ nương tựa qua giông bão, quả ngọt lớn nhất bà Thắng và ông Thiềng là sự trưởng thành, vững vàng của 5 người con - minh chứng thiêng liêng cho một câu chuyện tình bước ra từ khói lửa chiến tranh.

 

Hoàng Lam

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét