Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Muôn kiếp nhân sinh

 

MUÔN KIẾP NHÂN SINH

 

Một Alexander đại đế dũng mãnh, ngang tàng nhưng trước cái đẹp vẫn vô cùng dịu dàng, tha thiết; một ông vua ngạo mạn thay đổi tâm thức bởi một tăng đoàn chỉ trong một lần gặp gỡ...!

 

Một người đàn bà như Melissa dành tất cả chỉ vì yêu! (Tôi tự hỏi liệu có thể có tình yêu cao thượng như thế không?).

Và trên hết có điều tôi chắc chắn và khẳng định: Nhân nào quả đấy, Phúc ấm tại Mẫu nên chẳng có cách nào khác là hãy tử tế sống, yêu thương con người và nếu có ai buồn, ai cô đơn hãy nói với họ, tôi có thể ngồi xuống cạnh bạn được không...?

 

Thử mà xem, nó thật diệu kỳ bởi khi trải qua những đớn đau, tôi cũng được một người nói em hãy bật nhạc lên và tưởng tượng...

Khi làm điều đó tôi thấy mình bay trên thảo nguyên với trời xanh mây trắng, với tâm hồn trong trẻo nên tôi tin thiện lành!

 

Tình yêu thì vĩnh cửu chỉ có người yêu là đổi thay nên đừng khóc cho Bill Gates và Melinda.

Thế nên đừng hỏi vì sao, cứ tử tế yêu, cứ tử tế sống và nếu có bất kỳ điều gì xảy ra thì cũng an yên ra đi như Alexander đại đế nhé.

 

Xoè hai tay ra bởi bạn đến với thế giới này thế nào thì cũng ra đi như thế, dù bạn có là Alexander đại đế hay là ai đi nữa...

“Cuộc đời chúng ta thay đổi theo hai cách: Qua những người chúng ta gặp và qua những cuốn sách hay ta đọc” (Câu nói nổi tiếng của Harvey Mackay) với tôi là hoàn toàn đúng!

 

Thạch Thảo

 

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Danh y thời Đường để lại một bí quyết có thể giúp phòng ngừa 127 loại bệnh

 

DANH Y THỜI ĐƯỜNG ĐỂ LẠI MỘT BÍ QUYẾT CÓ THỂ GIÚP PHÒNG NGỪA 127 LOẠI BỆNH

 

Tôn Tư Mạc, danh y thời nhà Đường, được hậu thế tôn là “Dược Vương”. Tôn Tư Mạc sinh năm 541, mất năm 682, thọ 141 tuổi và để lại nhiều kiệt tác về y học cổ truyền Trung Quốc, ngoài những bí kíp dân gian, Dược vương còn am hiểu sâu sắc về các huyệt đạo.

 

Ông đã từng nói vỗ nhẹ một chỗ có thể chữa bách bệnh. Nơi này chính là lòng bàn chân, tức là chỗ có chứa huyệt Dũng tuyền. Vỗ vào nơi này không chỉ có thể phòng trị hơn 100 loại bệnh, hơn nữa phương pháp cũng rất đơn giản.

 

Dược vương Tôn Tư Mạc đề cập cụ thể phải dùng lòng bàn tay vỗ vào lòng bàn chân, dù hành động rất đơn giản nhưng nó mang lại hiệu quả tuyệt vời.

Lòng bàn tay và lòng bàn chân đều là hai bộ phận rất quan trọng trên cơ thể con người, đặc biệt là huyệt Lao cung ở lòng bàn tay và huyệt Dũng tuyền ở lòng bàn chân, các bác sĩ coi đây là những huyệt đạo chính để bảo vệ sức khỏe.

 

Qua hàng nghìn năm kiểm chứng vỗ vào lòng bàn chân có tác dụng đối với hơn 100 loại bệnh như: Đau lưng, nhức mỏi bàn chân và đầu gối, bệnh tim, cao huyết áp, thấp khớp,…

 

Tác dụng cụ thể của việc vỗ vào lòng bàn chân có thể phòng ngừa những bệnh sau:

– Suy nhược thần kinh, rối loạn thần kinh: Đau đầu và đau nửa đầu

– Ù tai, chóng mặt, hay quên, mất ngủ, giảm trí nhớ

– U sầu phiền muộn, dễ cáu giận, suy nghĩ không thông

– Thiếu khí huyết, trên nóng và dưới lạnh, đau lưng, đau bàn chân và đầu gối

– Bệnh tim, huyết áp cao, hạ đường huyết, tiểu đường

– Viêm gan, bệnh túi mật, viêm thận, nhiễm độc niệu, thiếu máu, hen suyễn, bệnh lao, bệnh thấp khớp.

 

– Loạn dưỡng cơ tiến triển, cường giáp, suy giáp, di chứng đột quỵ,

– Di chứng viêm não, teo não, não úng thủy,

– Hội chứng Meniere, bệnh Parkinson, bệnh Raynaud, hội chứng Behcet

– Di chứng của bệnh bại liệt, ra mồ hôi trộm, đổ mồ hôi ban đêm, thể trạng gầy yếu, suy dinh dưỡng, còi cọc chậm lớn.

– Giảm thị lực, cảm lạnh, viêm mũi dị ứng,…

 

Cách thực hiện động tác vỗ vào lòng bàn chân

Đầu tiên, bạn ngồi ở tư thế chân trái đặt lên đầu gối phải, tay trái nắm chân, dùng lòng bàn tay phải vỗ vào lòng bàn chân trái. Khi vỗ nên dùng lực đều, vừa phải, cường độ ngang với cường độ vỗ tay thông thường và thầm đếm số lần vỗ. Vỗ hết bên chân trái, sẽ đổi sang chân phải và số lần vỗ của 2 chân đều như nhau.

 

Lưu ý: Tư thế phải đúng, thoải mái, không gượng ép, gò bó, nhắm mắt nhẹ nhàng, từ bỏ mọi suy nghĩ, duy trì trạng thái tinh thần thoải mái, ngồi yên tĩnh trong khoảng 15 phút.

Vị trí vỗ: Dùng huyệt Lao cung ở lòng bàn tay vỗ vào huyệt Dũng tuyền, nằm ở vị trí 1/3 trên bàn chân.

 

Số lượng vỗ

Ngày đầu tiên vỗ mỗi bên 100 lần, ngày thứ hai vỗ mỗi bên 200 lần, ngày thứ ba vỗ mỗi bên 300 lần.

Đối với người bình thường, mỗi bên vỗ 300 lần, người ốm yếu, bệnh tật, thúc đẩy phục hồi, có thể tăng dần số lần và vỗ theo khả năng chịu đựng của bản thân. Trong mọi trường hợp, số lần vỗ cho mỗi bên tối đa không quá 900.

 

Thời gian vỗ: Thực hành mỗi tối một lượt hoặc vào buổi sáng.

Người tập chăm sóc sức khỏe hàng ngày nên tập một lần vào mỗi buổi tối, hoặc một lần vào buổi sáng và tối, nếu có thời gian thì nên tập nhiều hơn, những người chuyên về kung fu và chữa bệnh thì nên tập khoảng sáu lần mỗi tối.

 

Vỗ vào lòng bàn chân có 10 tác dụng chính:

1. Thoát khỏi những căn bệnh cứng đầu

Phòng và điều trị các chứng bệnh mãn tính và cứng đầu thông thường do thiếu âm và cường dương.

2. Hồi sinh

Đối với các bệnh thoái hóa do lão hóa sớm và các bệnh làm tiêu hao sinh lực, mệt mỏi như chứng loạn thần kinh và suy nhược thần kinh.

3. Tăng cường chức năng thận

Phòng và điều trị nhiều loại bệnh mãn tính của người cao tuổi, như các bệnh mãn tính về lưng, chân.

4. Phát triển trí tuệ, khơi dậy tiềm năng

Thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em và thanh thiếu niên, phát triển trí tuệ, khơi dậy tiềm năng.

5. Nuôi dưỡng gan và cải thiện thị lực

Nó có ảnh hưởng nhất định đến các bệnh mãn tính về gan và ruột, và các bệnh về mắt như cận thị và viễn thị.

 

6. Làm dịu gan và giảm trầm cảm, giải tỏa cảm xúc

Thực hành chức năng này khi tâm trạng không tốt hoặc cảm xúc quá độ, bạn có thể loại bỏ ngay các triệu chứng trầm cảm, lo âu, trầm cảm.

7. Định tâm và cân bằng tâm trí

Tập luyện chức năng này khi cơ thể mệt mỏi, căng thẳng thần kinh có thể giúp tinh thần minh mẫn, tâm trạng ổn định, tư duy nhanh nhạy, tràn đầy năng lượng. Nó có tác dụng chữa mất ngủ rất tốt.

Điều chỉnh sự hỗn loạn của khí và máu, và ngăn ngừa các sai lệch khác nhau gây ra bởi việc thực hành các bài tập khác không đúng cách. Tăng cường chức năng miễn dịch của con người.

 

8. Trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, mệt mỏi, tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể v.v.

Huyệt dũng tuyền có nghĩa là khí của kinh mạch thận giống như nguồn nước bắt nguồn từ chân chảy ra tưới toàn thân, có tác dụng chữa suy nhược thần kinh, mất sức, mất ngủ rất rõ rệt.

9. Trị đau đầu, trị cao huyết áp, v.v.

Thông thường ấn và xoa huyệt dũng tuyền có thể giúp điều trị đau họng, đau đầu, chóng mặt, cao huyết áp, v.v.

 

An Nhiên

Không chỉ một Mặt trăng trong ký ức dân gian

 

KHÔNG CHỈ MỘT MẶT TRĂNG TRONG KÝ ỨC DÂN GIAN

 

Là xứ nông nghiệp, tất nhiên người Việt Nam từ xửa xưa đã trông trăng.

"Trăng mờ tốt lúa nỏ / Trăng tỏ tốt lúa sâu", câu thành ngữ như thế chỉ có thể sinh ra từ văn minh lúa nước: trăng mờ chứng tỏ không khí có nhiều hơi nước, nghĩa là sắp có mưa, tốt cho lúa nỏ, tức lúa ở ruộng cao; còn trăng tỏ nghĩa là trời quang, trời khô ráo, tốt cho lúa ở ruộng trũng.

 

Rồi từ một thiên tạo, trăng lại trở thành hình tượng trữ tình. Những câu ca dao về trăng nhiều không biết kể sao cho hết, có những câu ca dao mà nhiều người thuộc nằm lòng: "Trông mây mây kéo ngang trời / Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa", "Trăng vàng chênh chếch đầu non / Em ưng thì nói, hay còn đợi ai?"

 

Nhưng nếu mở rộng cuộc tìm kiếm trăng trong không gian rộng lớn hơn của kho tàng dân gian Việt, bước ra ngoài thế giới ca dao tục ngữ, đi vào những câu chuyện có đầu có cuối hơn như truyền thuyết, sử thi, ta sẽ thấy "lý lịch" của trăng phức tạp hơn nhiều.

Trăng có khi lãng mạn, dịu dàng, mộng mơ, hiền hòa; trăng cũng có thể đỏng đảnh, bạo lực, thất thường, thậm chí điên rồ.

 

Hãy nói về trăng hiền hòa, trăng mộng mơ trước. Bởi hình tượng ấy thì thân thuộc hơn. Trong sự tích mưa, gió, Mặt trời và Mặt trăng của dân tộc Khmer, có một đôi vợ chồng nghèo, chồng chết sớm, chỉ còn vợ nuôi bốn người con nhỏ.

 

Một hôm, có người bà con mời người vợ đi ăn cỗ, bà vì thương con đói khổ lâu ngày nên cho các con đến ăn. Ba đứa con cả chỉ chăm chăm ăn uống, không nghĩ đến mẹ, riêng đứa con út gói một chiếc bánh mang về.

 

Nào ngờ trên đường về nhà, ba người con lớn phát hiện em mình có một chiếc bánh, liền giành lấy ăn sạch.

Biết chuyện, bà mẹ trách con: "Ba đứa bay, sống chẳng biết nghĩ đến ai, mai sau có chết cũng chẳng ai quý, ai thương. May ra có thằng út..."

 

Câu ấy ta có thể hiểu như một "lời nguyền" ở mức nhẹ nhàng. Sau này, ba người anh lớn chết đi hóa thành mưa, gió và Mặt trời - những tạo vật vừa có ích, vừa gây họa. Chỉ có cậu em út chết đi là thành trăng dịu dàng, được người người yêu quý.

 

Bây giờ, ta xét đến khía cạnh khác của trăng. Hãy đi từ một câu chuyện "nhẹ nhàng" nhất: dân tộc Lô Lô tin rằng, ngày xửa ngày xưa, trời và đất ở rất gần nhau, một ngày có bảy mặt trời, mỗi đêm có bảy Mặt trăng, khiến cho ngày thì nóng như thiêu, đêm thì rét như cắt.

 

Thời tiết khắc nghiệt quá, muôn loài sắp sửa chết hết thì một ông thần khổng lồ tên là ông Sáng đứng bật dậy để đội bầu trời cao hơn. Mặt trời và Mặt trăng giật mình, hồn xiêu phách lạc, liền rơi tọt xuống hang sâu. Thế là con người sống trong tăm tối, đợi ngày chờ chết. Thần Sáng mới bảo con người đi tìm Mặt trời và Mặt trăng trở lại.

 

Nhưng hồn phách chúng tản mát mất rồi, nếu muốn gọi chúng lên, phải làm một nghi lễ: đem những con vật không chịu đi tìm Mặt trời và Mặt trăng ra làm thịt hết, dâng lên cho chúng, gọi hồn chúng về bằng bài:

 

Lên đi Mặt trời ơi
Lên đi Mặt trăng ơi
Thịt rượu đầy núi đá
Chiếu rải khắp cửa hang
Mặt trời không lên không sáng
Trăng không lên không tỏ
Lên đi Mặt trời ơi!
Lên đi Mặt trăng ơi!

 

Một lát sau, một Mặt trời và một Mặt trăng trồi lên, đúng lúc ấy con người đóng sập cửa hang lại để những thiên thể khác không bay lên nữa. Từ đó trở đi, nhịp ngày đêm cân bằng, ngày không quá nóng, đêm không quá lạnh, con người được no ấm phồn thịnh.

 

Sự dịu dàng của trăng không phải nghiễm nhiên, nó phải được đánh đổi bằng một cái gì đó. Những mẩu thần thoại tương tự về quá trình trăng từ hung dữ trở nên dễ thương nhỏ nhẹ cũng xuất hiện trong kho tàng dân gian của nhiều dân tộc Việt khác.

 

Ngày nay, ta vẫn thường gán cho trăng là đàn bà ("Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi / Trần thế em nay chán nửa rồi", như trong thơ Tản Đà; "Gương nga chênh chếch dòm song / Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân", như trong thơ Nguyễn Du). Nhưng xưa kia, không phải lúc nào trăng cũng là nàng, là chị. Có lúc trăng cũng là chàng, là anh.

 

Chàng trăng đã xuất hiện trong thần thoại của người Cờ Ho: Mặt trời là một cô gái, Mặt trăng là một chàng trai, chỉ hiềm chàng trăng đỏm dáng, sợ bẩn, vì thế, chàng chẳng ưa phải kéo lê vạt áo trắng tinh khôi của mình qua những ngôi làng nơi đàn bà ngày ngày giặt giũ áo quần.

Vậy là chàng bảo em gái hãy chiếu sáng ban ngày thay mình, còn chàng sẽ hiện diện ban đêm.

 

Nhưng truyện gây tò mò nhất, có lẽ là thần thoại của dân tộc Kinh: Mặt trời và Mặt trăng là hai chị em con Ngọc Hoàng. Trong hai người, cô em trăng, lạ thay, là người nóng nảy hơn. Tính tình quái gở, cô trăng gây ra biết bao tai họa cho dân chúng, cứ mỗi lần cô trăng sà xuống là xảy ra thiên tai.

 

Trần thế chưa khổ vì Mặt trời đã khổ vì Mặt trăng, họ kêu lên giời, thế là bà mẹ định lấy tro bôi lên mặt cô để cô bớt nóng, nhưng lại bị ông bố Ngọc Hoàng ngăn lại.

Ở dưới mặt đất có một anh chàng tên Quải.

Bất bình trước sự tai ác của cô trăng, Quải đứng trên một đỉnh núi, bốc cát ném vào mặt trăng, khiến trăng hoảng sợ lảng ra xa, và từ đó không còn dám bén mảng sà xuống mặt đất thật gần để gây họa cho dân nữa.

 

Trong câu chuyện ấy, ta thấy cái bướng, cái điên, cái ngang ngược của trăng, và có lẽ cũng cả sự bí ẩn, sự phức tạp của trăng nữa. Đâu đó ta sẽ thấy ở đây một sự gặp gỡ với những quan niệm của Tây phương.

 

Thời Hy Lạp cổ, Aristotle cho rằng bộ não là nơi ẩm ướt nhất, cho nên dễ bị ảnh hưởng bởi mặt trăng, thiên thể gây ra thủy triều. Do đó, về sau, từ "lunatic" (điên rồ, mất trí) lại có gốc là "luna" (mặt trăng).

 

Ánh trăng dù đã được thuần phục, sự điên rồ đã được thuần phục trên bề mặt, nhưng nó vẫn còn đó, đôi khi vẫn có lúc trăng quầng, dân gian tin đó là những lúc trăng bị chàng Quải ném cát.

Trăng đẹp và trăng điên, ta phải chấp nhận cả cái đẹp và cái điên, bởi biết đâu cái đẹp đã sinh ra từ cái điên?

 

Hiền Trang