KHÔNG CHỈ MỘT MẶT TRĂNG TRONG KÝ ỨC DÂN GIAN
Là xứ nông nghiệp, tất nhiên người Việt Nam từ xửa xưa đã trông trăng.
"Trăng mờ tốt lúa nỏ / Trăng tỏ tốt lúa sâu", câu thành ngữ như thế chỉ có thể sinh ra từ văn minh lúa nước: trăng mờ chứng tỏ không khí có nhiều hơi nước, nghĩa là sắp có mưa, tốt cho lúa nỏ, tức lúa ở ruộng cao; còn trăng tỏ nghĩa là trời quang, trời khô ráo, tốt cho lúa ở ruộng trũng.
Rồi từ một thiên tạo, trăng lại trở thành hình tượng trữ tình. Những câu ca dao về trăng nhiều không biết kể sao cho hết, có những câu ca dao mà nhiều người thuộc nằm lòng: "Trông mây mây kéo ngang trời / Trông trăng trăng khuyết, trông người người xa", "Trăng vàng chênh chếch đầu non / Em ưng thì nói, hay còn đợi ai?"
Nhưng nếu mở rộng cuộc tìm kiếm trăng trong không gian rộng lớn hơn của kho tàng dân gian Việt, bước ra ngoài thế giới ca dao tục ngữ, đi vào những câu chuyện có đầu có cuối hơn như truyền thuyết, sử thi, ta sẽ thấy "lý lịch" của trăng phức tạp hơn nhiều.
Trăng có khi lãng mạn, dịu dàng, mộng mơ, hiền hòa; trăng cũng có thể đỏng đảnh, bạo lực, thất thường, thậm chí điên rồ.
Hãy nói về trăng hiền hòa, trăng mộng mơ trước. Bởi hình tượng ấy thì thân thuộc hơn. Trong sự tích mưa, gió, Mặt trời và Mặt trăng của dân tộc Khmer, có một đôi vợ chồng nghèo, chồng chết sớm, chỉ còn vợ nuôi bốn người con nhỏ.
Một hôm, có người bà con mời người vợ đi ăn cỗ, bà vì thương con đói khổ lâu ngày nên cho các con đến ăn. Ba đứa con cả chỉ chăm chăm ăn uống, không nghĩ đến mẹ, riêng đứa con út gói một chiếc bánh mang về.
Nào ngờ trên đường về nhà, ba người con lớn phát hiện em mình có một chiếc bánh, liền giành lấy ăn sạch.
Biết chuyện, bà mẹ trách con: "Ba đứa bay, sống chẳng biết nghĩ đến ai, mai sau có chết cũng chẳng ai quý, ai thương. May ra có thằng út..."
Câu ấy ta có thể hiểu như một "lời nguyền" ở mức nhẹ nhàng. Sau này, ba người anh lớn chết đi hóa thành mưa, gió và Mặt trời - những tạo vật vừa có ích, vừa gây họa. Chỉ có cậu em út chết đi là thành trăng dịu dàng, được người người yêu quý.
Bây giờ, ta xét đến khía cạnh khác của trăng. Hãy đi từ một câu chuyện "nhẹ nhàng" nhất: dân tộc Lô Lô tin rằng, ngày xửa ngày xưa, trời và đất ở rất gần nhau, một ngày có bảy mặt trời, mỗi đêm có bảy Mặt trăng, khiến cho ngày thì nóng như thiêu, đêm thì rét như cắt.
Thời tiết khắc nghiệt quá, muôn loài sắp sửa chết hết thì một ông thần khổng lồ tên là ông Sáng đứng bật dậy để đội bầu trời cao hơn. Mặt trời và Mặt trăng giật mình, hồn xiêu phách lạc, liền rơi tọt xuống hang sâu. Thế là con người sống trong tăm tối, đợi ngày chờ chết. Thần Sáng mới bảo con người đi tìm Mặt trời và Mặt trăng trở lại.
Nhưng hồn phách chúng tản mát mất rồi, nếu muốn gọi chúng lên, phải làm một nghi lễ: đem những con vật không chịu đi tìm Mặt trời và Mặt trăng ra làm thịt hết, dâng lên cho chúng, gọi hồn chúng về bằng bài:
Lên đi Mặt trời ơi
Lên đi Mặt trăng ơi
Thịt rượu đầy núi đá
Chiếu rải khắp cửa hang
Mặt trời không lên không sáng
Trăng không lên không tỏ
Lên đi Mặt trời ơi!
Lên đi Mặt trăng ơi!
Một lát sau, một Mặt trời và một Mặt trăng trồi lên, đúng lúc ấy con người đóng sập cửa hang lại để những thiên thể khác không bay lên nữa. Từ đó trở đi, nhịp ngày đêm cân bằng, ngày không quá nóng, đêm không quá lạnh, con người được no ấm phồn thịnh.
Sự dịu dàng của trăng không phải nghiễm nhiên, nó phải được đánh đổi bằng một cái gì đó. Những mẩu thần thoại tương tự về quá trình trăng từ hung dữ trở nên dễ thương nhỏ nhẹ cũng xuất hiện trong kho tàng dân gian của nhiều dân tộc Việt khác.
Ngày nay, ta vẫn thường gán cho trăng là đàn bà ("Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi / Trần thế em nay chán nửa rồi", như trong thơ Tản Đà; "Gương nga chênh chếch dòm song / Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân", như trong thơ Nguyễn Du). Nhưng xưa kia, không phải lúc nào trăng cũng là nàng, là chị. Có lúc trăng cũng là chàng, là anh.
Chàng trăng đã xuất hiện trong thần thoại của người Cờ Ho: Mặt trời là một cô gái, Mặt trăng là một chàng trai, chỉ hiềm chàng trăng đỏm dáng, sợ bẩn, vì thế, chàng chẳng ưa phải kéo lê vạt áo trắng tinh khôi của mình qua những ngôi làng nơi đàn bà ngày ngày giặt giũ áo quần.
Vậy là chàng bảo em gái hãy chiếu sáng ban ngày thay mình, còn chàng sẽ hiện diện ban đêm.
Nhưng truyện gây tò mò nhất, có lẽ là thần thoại của dân tộc Kinh: Mặt trời và Mặt trăng là hai chị em con Ngọc Hoàng. Trong hai người, cô em trăng, lạ thay, là người nóng nảy hơn. Tính tình quái gở, cô trăng gây ra biết bao tai họa cho dân chúng, cứ mỗi lần cô trăng sà xuống là xảy ra thiên tai.
Trần thế chưa khổ vì Mặt trời đã khổ vì Mặt trăng, họ kêu lên giời, thế là bà mẹ định lấy tro bôi lên mặt cô để cô bớt nóng, nhưng lại bị ông bố Ngọc Hoàng ngăn lại.
Ở dưới mặt đất có một anh chàng tên Quải.
Bất bình trước sự tai ác của cô trăng, Quải đứng trên một đỉnh núi, bốc cát ném vào mặt trăng, khiến trăng hoảng sợ lảng ra xa, và từ đó không còn dám bén mảng sà xuống mặt đất thật gần để gây họa cho dân nữa.
Trong câu chuyện ấy, ta thấy cái bướng, cái điên, cái ngang ngược của trăng, và có lẽ cũng cả sự bí ẩn, sự phức tạp của trăng nữa. Đâu đó ta sẽ thấy ở đây một sự gặp gỡ với những quan niệm của Tây phương.
Thời Hy Lạp cổ, Aristotle cho rằng bộ não là nơi ẩm ướt nhất, cho nên dễ bị ảnh hưởng bởi mặt trăng, thiên thể gây ra thủy triều. Do đó, về sau, từ "lunatic" (điên rồ, mất trí) lại có gốc là "luna" (mặt trăng).
Ánh trăng dù đã được thuần phục, sự điên rồ đã được thuần phục trên bề mặt, nhưng nó vẫn còn đó, đôi khi vẫn có lúc trăng quầng, dân gian tin đó là những lúc trăng bị chàng Quải ném cát.
Trăng đẹp và trăng điên, ta phải chấp nhận cả cái đẹp và cái điên, bởi biết đâu cái đẹp đã sinh ra từ cái điên?

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét