Thứ Sáu, 21 tháng 3, 2025

Ngày càng nhiều đàn ông Trung Quốc tuyển vợ Việt

 

NGÀY CÀNG NHIỀU ĐÀN ÔNG TRUNG QUỐC TUYỂN VỢ VIỆT

 

Hoạt động môi giới cô dâu Việt theo đơn đặt hàng đang bùng nổ, được tiếp sức bởi nhu cầu của những người đàn ông Trung Quốc ế vợ.

Theo quảng cáo trên mạng của một cơ sở môi giới có trụ sở tại tỉnh Vân Nam, chỉ cần bỏ ra từ 30.000 đến 40.000 tệ (khoảng 94 đến 120 triệu đồng), một thanh niên Trung Quốc có thể tìm một cô dâu Việt Nam hấp dẫn tuổi từ 18 đến 25.

 

Cơ sở này, có địa chỉ ynxn1314.com, đăng ký dưới tên một dịch vụ hẹn hò đặt tại thủ phủ Côn Minh của tỉnh Vân Nam.

Theo đó, họ tổ chức các tour theo nhóm cho những chàng trai độc thân Trung Quốc tới Việt Nam và sắp xếp các cuộc hẹn hò với các cô gái Việt được lựa chọn trước từ một catalog.

 

Tờ Spring City Evening News có trụ sở tại Côn Minh cho biết, chi phí cho mỗi tour như vậy bao gồm phí đi lại, phiên dịch, quà cho gia đình các cô gái và lễ cưới. Nếu cuộc hẹn hò thất bại hoặc người đàn ông không ưng cô gái mà họ đã chọn, cơ quan môi giới sẽ chỉ tính phí 2.000 tệ cho mỗi tour. Họ cũng chịu trách nhiệm tìm cho khách hàng một cô dâu mới, nếu cô dâu đầu tiên bỏ trốn sau đám cưới.

 

Ynxn1314.com vừa quảng cáo một tour tuyển vợ Việt trên mạng hôm 19/5. "Chúng tôi mời các khách hàng Trung Quốc thực hiện các tour theo nhóm tới Việt Nam để sắp xếp các hoạt động hẹn hò", một nhân viên họ Ho thuộc văn phòng môi giới này cho biết trên Global Times.

Người này không quên nói thêm rằng "hơn 80%" khách hàng của văn phòng đã tìm được cô dâu.

 

Những cơ quan cung cấp "cô dâu theo yêu cầu" tương tự như vậy đã bùng nổ trên khắp Trung Quốc trong những năm gần đây nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng gia tăng.

Một văn phòng môi giới có trụ sở tại thành phố Nam Ninh ở khu tự trị Choang Quảng Tây còn dịch tiểu sử của các chàng trai Trung Quốc để giúp các cô gái Việt quyết định liệu đó phải là người chồng phù hợp của mình không, có sức khỏe hay đủ tài chính không.

 

Nhà nghiên cứu Qi Huan từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện khoa học xã hội Vân Nam, cho biết các cơ sở môi giới cô dâu theo đơn đặt hàng như vậy đã tồn tại ở Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua.

Qi cho biết, nhiều cô dâu Việt "theo đơn đặt hàng" đã cưới chồng ở Quảng Tây, Vân Nam, Chiết Giang và Phúc Kiến. Tuy nhiên, không phải tất cả các cuộc hôn nhân giữa vợ Việt và chồng Trung Quốc đều viên mãn, một số cô dâu đã bỏ trốn không lâu sau khi tới quê chồng.

Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở lên, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “thặng dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là họ không thể nào có vợ trừ khi nhập cảng phụ nữ hoặc xuất khẩu đàn ông!

Tỉnh Quảng Ðông, ở sát nước ta, là nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai. Ðến năm 2025, 2030, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ.

Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh trù phú nhất Trung Quốc này, mà có độ dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì chắc các cô gái Việt sẽ bị các chiêu lừa đảo khốn khổ.

Theo vnexpress.net

Giáo sư Lưu Lệ Hằng – tự hào trí tuệ người Việt

 

GIÁO SƯ LƯU LỆ HẰNG – TỰ HÀO TRÍ TUỆ NGƯỜI VIỆT

Giáo sư Lưu Lệ Hằng tên thường gọi Jane X. Luu, sinh năm 1963, học tiểu học ở Sài Gòn,

Năm 12 tuổi bà sang Mỹ và hoàn thành học vấn ở các trường nổi tiếng: 1984 nhận bằng Cử nhân Vật lý thủ khoa tại Đại học Stanford, rồi bằng Thạc sĩ Cao học tại Viện Berkeley thuộc Đại học California và năm 1990 bằng Tiến sĩ Vật lý Thiên thể ở Viện Công nghệ Massachussetts MIT.

Sau khi nhận bằng tiến sĩ vào năm 27 tuổi, GS. Lưu Lệ Hằng đến giảng dạy tại Đại học Havard rồi Đại học Leiden, Hà Lan. Khi trở lại Mỹ, bà làm thành viên kỹ thuật thiết bị ở Phòng thí nghiệm Lincoln tại MIT. Bà hiện đang nghiên cứu các giải pháp công nghệ cho vấn đề an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Trong số những nữ giáo sư của Việt Nam được vang danh thế giới, Lưu Lệ Hằng là cái tên không thể bỏ qua. Đây là người phụ nữ đoạt Giải thưởng Kavli trong lĩnh vực Vật lý thiên văn (còn được gọi là Giải Nobel Thiên văn học) khi góp phần phát hiện hơn 30 tiểu hành tinh.

Song thành tựu khiến bà được nhiều người chú ý hơn cả là phát hiện vành đai Kuiper, góp phần mở ra hướng đi mới trong việc giải thích và chứng minh sự hình thành của hệ Mặt Trời. Để ghi nhận công lao của người phụ nữ này, Hiệp hội thiên văn Mỹ đã lấy tên bà để đặt cho tiểu hành tinh 5430 Luu.

 

Cơ duyên đến thiên văn học

Đam mê khám phá vũ trụ đến với Giáo sư Lệ Hằng hoàn toàn tình cờ. “Một lần tham quan Phòng thí nghiệm phản lực JPL ở Pasadena, tôi bị hút hồn bởi những hình ảnh mà các phi thuyền gửi về. Không chút lưỡng lự, tôi chọn thiên văn học”, bà chia sẻ trên truyền thông. 

 

Trong suốt thời gian từ năm 1987 đến 1992, Giáo sư Lưu Lệ Hằng cùng với người thầy của mình, Giáo sư David C. Jewitt đề ra mục tiêu khám phá xem có thực sự tồn tại vành đai tên là Kuiper hay không.

Bởi trước đó, ý tưởng về vành đai Kuiper được nhà thiên văn người Hà Lan Gerard Kuiper đưa ra bị nhiều người cho là hão huyền. Họ khẳng định rằng ngoài rìa hệ Mặt Trời là sạch, không có gì.     

 

Để có được câu trả lời chính xác, đi ngược lại với quan điểm của số đông, Lệ Hằng khăn gói balo bay ra tận đảo Hawaii giữa Thái Bình Dương, nơi có kính thiên văn tối tân đặt trên đỉnh núi lửa đã tắt cao gần 4000m ở Mauna Kea để quan sát và ghi chép. Trong khi hàng tỉ người trên Trái Đất đã đi ngủ, người phụ nữ này lại bắt đầu ngày làm việc mới của mình.

Chưa dừng lại ở đó, làm việc ở độ cao 4.000m, Lưu Lệ Hằng phải đối diện với đủ thứ khó khăn như không khí loãng, áp suất thấp khiến bất kỳ ai cũng có thể bị nôn nao khó chịu, mất ngủ triền miên. 

 

Mở ra những khám phá mới 

Song với niềm đam mê và sự kiên nhẫn, người phụ nữ này đã vượt qua tất cả. Để vào một ngày đẹp trời 30/8/1992, sau một thời gian phân tích khối lượng dữ liệu đồ sộ, Lưu Lệ Hằng đã vỡ òa trong hạnh phúc khi phát hiện ra manh mối đầu tiên của vành đai Kuiper. 

Không dừng lại ở đó, bà và cộng sự của mình đã phát hiện thêm hàng chục thiên thể từ vành đai Kuiper trong những năm tiếp theo. Điều này càng củng cố niềm tin về sự hiện hữu của vành đai Kuiper là có thật. 

Sau sự kiện của Giáo sư Lệ Hằng, giới khoa học đã đổ xô vào tìm kiếm những thiên thể mới. Kết quả là rất nhiều thiên thể như vậy được phát hiện. 

 

Để ghi nhận những đóng góp trên, tháng 5/2012, bà đã được xướng tên tại Giải Shaw Thiên văn học (Giải Nobel Thiên văn Phương Đông). Trước đó, vào năm 1991, Hiệp hội Thiên văn Mỹ đã trao Giải thưởng Annie J. Cannon Award Thiên văn học cho nhà khoa học nữ này.

Trong chuyến về quê hương gần đây nhất vào cuối tháng 7, bà đã có dịp gặp gỡ với các nhà khoa học, sinh viên, học sinh yêu thiên văn học tại các trường đại học ở Hà Nội, Quy Nhơn, Huế.

Trong các buổi tiếp xúc cùng các thế hệ sinh viên, học sinh, GS Lưu Lệ Hằng luôn khuyến khích các bạn trẻ hãy theo đuổi đam mê của mình, bà sẵn sàng là người hướng dẫn và giới thiệu các bạn.

Bà chia sẻ chân thành: “Tôi có thể làm được thì các bạn cũng có thể làm được. Quan trọng là bạn có thể tìm ra thứ bạn yêu thích và kiên nhẫn, cố gắng thực hiện điều đó; và hãy luôn tự hỏi: cách này đã đúng, đã tốt nhất chưa? Đừng bị giới hạn bởi những cách truyền thống mà hãy sáng tạo tìm ra phương pháp mới”.

Tại cuộc nói chuyện ở Đại học Bách Khoa Hà Nội, bà trăn trở: “Đất nước của chúng ta xinh đẹp lắm, mong rằng mọi người cùng chung sức bảo vệ vẻ đẹp ấy. Phát triển nhưng xin đừng phá bỏ tài nguyên thiên nhiên”.

Xa quê hương nhiều năm nhưng GS Lưu Lệ Hằng luôn tự hào về đất nước, con người cũng như trí tuệ Việt Nam và cho rằng người Việt Nam sẽ tiếp tục thành danh và tỏa sáng về khoa học trên thế giới. “Không bao giờ muộn cho một tình yêu. Bạn có thể bắt đầu từ bây giờ!”- GS Lưu Lệ Hằng khích lệ tuổi trẻ vươn tới những đỉnh cao.

ST

 

 

 

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2025

Đối thoại triết học giữa người và chó Léo

 

ĐỐI THOẠI TRIẾT HỌC GIỮA NGƯỜI VÀ CHÓ LÉO

Thử cất đi bộ mặt suy tư nghiêm trọng để cười cùng triết học khi đọc cuốn sách này. Cuốn sách viết về cuộc đối thoại giữa một con chó tên là Léo và ông bạn triết gia của nó. Câu hỏi lớn bao trùm cuốn sách mỏng này là:

Một con người thì khác gì một con vật?

 

Triết gia cho rằng, con người có tính xã hội, trong khi đó, trong mắt con chó thì cái xã hội loài người là “một cuộc chiến của mọi người chống lại mỗi người”. Bởi vì, cũng theo con chó, nếu loài chó có cắn thì cũng chỉ dùng cái răng nanh mà tạo hoá ban cho để giữ khúc xương, trong khi đó con người phát minh ra rất nhiều vũ khí để huỷ diệt đẫm máu, chiếm đoạt của nhau, kẻ nọ sợ kẻ kia đến độ phải… nuôi chó để giữ nhà mình!

 

Nhưng rồi cuộc chuyện trò về tính xã hội sẽ đi đến một kết luận rằng, một con chó thì không biết viết sách triết cho mọi người đọc, mà nó chỉ có thể giữ khúc xương cho chính mình và đối thoại xã hội bằng cách cùng nhau sủa… như một dàn hợp xướng vào ban đêm!

 

Triết gia cho rằng: “Lao động giáo dục con người chứ không huấn luyện họ như huấn luyện một con vật”, trong khi đó, lao động với loài vật lại là một việc bản năng. Con chó cho rằng, nó có linh cảm tốt khi săn mồi, còn theo triết gia, con người phải học lao động và qua lao động, quá trình tiến hoá diễn ra.

 

Nhưng ở điểm này, con chó cũng dạy cho triết gia một bài học, đó là: “Con người hãy sống cho xứng đáng, như cuộc sống của một con chó đi”. Cuộc sống đó là gì? Đó là: một cuộc sống thật sự không phải là lao động, mà cũng chẳng phải là lười nhác, nhưng phải tự tìm cảm giác nhàn rỗi trong khi lao động thì con người mới hạnh phúc.

Và một việc nữa, nếu con người vỗ ngực tự cho rằng mình có ngôn ngữ, thì hãy thức đêm mà nghe những con chó sủa đối đáp với nhau.

 

Triết gia bảo rằng: “Bọn chó của cậu khi sủa thì nói lên được một tình huống đang xảy ra (khác với con người). Nói chuyện là nói những điều vắng mặt không hiện diện trước mắt ta”. Nhưng với con chó, chính vì có thể “sáng tác” được những điều không tồn tại nên “con người là một con vật dối trá”.

 

Triết gia nói: “Con người là loài duy nhất biết nói, suy nghĩ và lý tính” nhưng trong lúc đó, ông rất mệt mỏi. Còn con chó nói, nó có hạnh phúc nhờ tổng hoà những điều này: biết chạy nhảy, sống linh hoạt, ăn uống lành mạnh!

Con chó Léo tiếp tục phủ định con người là loài có hạnh phúc và tự do vì đã tự giải phóng mình ra khỏi tự nhiên để mặc vào cái đặc tính văn hoá.

 

Cụ thể là: “Loài chó chúng em sinh ra đã là chó; nhưng các bác khi sinh ra đâu đã hoàn toàn là con người”.

Rốt cuộc thì con người yên tâm làm con người, con chó hài lòng làm... con chó.

Vì, theo triết gia: “Ta thích làm con người hơn, làm một động vật yếu đuối nhất hạng, cái thứ động vật sẽ phải hết sức khéo léo để tự trang bị cho mình tất cả những gì tự nhiên không ban cho”.

 

Trong khi đó, con Léo thì nói rằng: nó chẳng muốn làm người tẹo nào, vì làm người “để đến trường nhận điểm xấu từ những người buộc thằng này phải sủa bằng tiếng Anh?”. Với nó – một con chó, thì việc phải trao đổi triết học với một triết gia đã bi đát lắm rồi!

 

Thấp thoáng sau những mẩu đối thoại bông đùa, hài hước là những tư tưởng Platon, Aristote, Hobbes, Kant, Hegel, Descartes, Hannah Arendt, Épicure, Claude Lévi-Strauss… Có kèm theo những đoạn văn bản, bảng chỉ dẫn cụ thể để độc giả “tra cứu”. Phần đáng kể nữa đó là minh hoạ của hoạ sĩ Lionel Koechlin tạo cho cuốn sách sự sống động thú vị.

 

Yêu mến triết học là yêu mến sự hiểu biết. Sự hiểu biết đem lại sảng khoái và sáng sủa trong cách nghĩ. Có lẽ từ lý lẽ đó, ý tưởng cuốn sách tư duy “dành cho những độc giả trên 11 tuổi” này không chọn cánh cửa suy tư nghiêm trọng mà chọn tiếng cười, sự hài hước để nói chuyện triết!

 

(Đọc Con người là gì? của GS văn học Cécile Robelin và GS triết Jean Robelin, Phấn Khanh dịch, Phạm Toàn hiệu đính, NXB Tri Thức, 2009)