
LÝ THƯỜNG KIỆT - NỖI KINH HOÀNG CỦA QUÂN
TỐNG
Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự kiệt xuất, có tài thao lược lỗi lạc, phá
Tống bình Chiêm, đánh đâu thắng đấy. Ông cũng là một nhà chính trị tài giỏi và
ngoại giao xuất sắc.
Lý Thường Kiệt quê gốc của ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức, kinh thành
Thăng Long. Làng An Xá sau đổi tên là Phúc Xá (nay thuộc quận Ba Đình).
Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra người có chí hướng và nghị lực, chăm học
tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.
Tháng 2 năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, ông làm
tướng tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ.
Chiến dịch Ung Châu: ra tay trước
thay vì ngồi yên đợi giặc
Năm 1072, Lý Thánh Tông từ trần. Lý Nhân Tông lên nối ngôi khi mới có 7
tuổi. Trong khi ấy, chính quyền phương Bắc vẫn luôn nhòm ngó. Chúng xem đây là
một cơ hội tốt để tiến hành ráo riết việc chuẩn bị xâm lược nước ta. Tại ba
châu Ung, Khâm, Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay), chúng xây dựng
những căn cứ quân sự và hậu cứ to lớn để làm nơi xuất phát trực tiếp cho các
đạo quân xâm lược.
Đứng trước âm mưu và
hành động rõ ràng công khai của địch, ông cho rằng: "Ngồi yên đợi giặc
không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc". Được triều đình tán
thành, ông huy động 10 vạn quân tiến hành một cuộc tập kích đánh thẳng vào các
căn cứ chuẩn bị xâm lược của kẻ thù ngay trên đất Tống.
Với danh nghĩa chính
đáng là chỉ đánh Tống để giữ nước là đưa quân tới là để cứu dân, Lý Thường Kiệt
đã viết bài hịch Phạt Tống lộ bố văn (bài văn công bố đánh giặc Tống) và cho yết
bảng ở khắp nơi mà quân đội ta đi qua.
Bài hịch truyền đi đã
đạt hiệu quả lớn: quân đội của Lý Thường Kiệt tiến đến đâu cũng đều được nhân
dân Trung Hoa ở đó hoan nghênh, hưởng ứng.
Quân Việt bắt đầu tiến
công vào đất Tống từ ngày 27 tháng 10 năm 1075. Thoạt tiên, quân Việt phá hủy một
loạt các đồn trại biên giới, rồi lần lượt đổ bộ lên cảng và đánh chiếm các
thành Khâm, Liêm. Sau đó đại quân tiếp tục tiến sâu vào đất địch.
Ngày 18 tháng 1 năm
1076 áp sát thành Ung. Đây là căn cứ quan trọng nhất trong những căn cứ địch
dùng cho cuộc viễn chinh xâm lược vào Đại Việt. Sau 42 ngày vây hãm và tấn công
quyết liệt, ta hạ được thành, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên địch.
Sau khi đã đạt mục
tiêu của cuộc đánh sang đất Tống, Lý Thường Kiệt quyết định rút nhanh quân về
nước. Cuộc rút quân rất đúng lúc, vừa bảo toàn được lực lượng, vừa phá được kế
hiểm của giặc: chúng định điều quân lẻn sang đánh úp Đại Việt nhân lúc đại quân
còn đang ở bên nước chúng.
Cuộc tập kích chiến lược
đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Lịch sử ghi nhận chiến công kỳ diệu này, chiến
công có một không hai trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt.
Gắn liền với chiến công ấy, là tên tuổi vị chủ tướng tài ba Lý Thường Kiệt.
Nhà viết sử Ngô Thì Sĩ
ca ngợi ông: "bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu
vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc, lúc tới còn không ai dám địch,
lúc rút quân còn không ai dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta chưa
từng có bao giờ"? (Việt sử tiêu án).
Trận tuyến Như Nguyệt và bài thơ thần
"Nam Quốc Sơn Hà"
Tuy bị thua đau, nhưng nhà Tống vẫn rất ngoan cố. Lý Thường Kiệt biết chắc
thế nào chúng cũng sẽ kéo quân sang phục thù và tiếp tục thực hiện mục tiêu xâm
lược mà chúng chưa bao giờ chịu từ bỏ.
Ông cử người vào đất Tống
để theo dõi cụ thể công việc chuẩn bị và kế hoạch xâm lược của quân Tống.
Ông tự mình đi xem xét
vùng biên cương phía nam và tăng cường lực lượng bố phòng ở đó nhằm chặn sự tiến
công quấy rối của quân Champa. Ông bố trí kế hoạch cho các lực lượng vũ trang địa
phương, các thổ binh, hương binh ở vùng núi phía bắc làm nhiệm vụ kiềm chế và
tiêu hao địch trên các con đường tiến vào của chúng.
Cuối năm 1076, đại
quân Tống chia làm nhiều cách vượt biên giới tiên ào ạt vào Đại Việt. Sau một
tháng phải luôn luôn đối phó với những cuộc chống trả quyết liệt của nhân dân Đại
Việt trên vùng biên giới và thượng du.
Cuối cùng ngày 18
tháng 1 năm 1077, đại quân Tống cũng tiến được tới bờ bắc sông Cầu. Nhưng đến
đây, chúng đã bị chặn đứng lại. Phòng tuyến sông Cầu sừng sững như một bức tường
thành, vững chãi, uy nghiêm và đầy thách thức. Chúng buộc phải dừng quân, tập kết
trên một trận tuyến dài 30km từ bến đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, để từ
đó triển khai các đợt tiến công sang phòng tuyến của quân Việt.
Một lần, chúng tập
trung binh lực, đột phá trận tuyến quân Việt ở bến đò Như Nguyệt, chọc thủng được
một đoạn phòng tuyến. Quân tiên phong của chúng tiến về phía Thăng Long. Nhưng
quân Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã phản công kịch liệt. Chúng bị tổn thất nặng
nề, phải mở đường máu mà tháo chạy.
Lần khác, chúng lại mở
đợt tấn công mới. Với những bè lớn, mỗi bè trở được 500 quân qua sông, chúng
liên tiếp đưa những đạo quân mạnh đổ bộ lên bờ nam. Nhưng ở đây chúng lại đụng
phải sức phản công dữ dội của lực lượng chiến đấu dũng mãnh dưới sự chỉ huy
linh hoạt sắc bén của tướng quân Lý Thường Kiệt. Những đạo quân đổ bộ đều bị
tiêu diệt hoặc phải đầu hàng.
Vào lúc cuộc chiến ra
vô cùng quyết liệt, Lý Thường Kiệt đã viết Nam quốc sơn hà - một bài thơ bất hủ
để cổ vũ tinh thần binh sĩ. Tương truyền rằng ông đã sai người giả làm thần
nhân, nấp trong đền Trương Hát ở bờ nam cửa sông Như Nguyệt, đọc bài thơ này.
Theo sách Việt điện u
linh thì tướng quân Trương Hát là thần sông Như Nguyệt, chính thần nhân này đã
được đọc bài thơ trên. Sách còn nói: "Đang đêm nghe tiếng vang trong đền đọc
bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đẩm, không đánh cũng
tan".
Bài thơ Nam quốc sơn
hà khẳng định chân lý hùng hồn: Nước Nam là một quốc gia lãnh thổ riêng, cương
giới rạch ròi, quyền độc lập tự chủ của dân tộc là thiêng liêng bất khả xâm phạm.
Bài thơ thể hiện khí phách hào hùng về ý chí gang thép của dân tộc, cảnh cáo
nghiêm khắc kẻ ngoại xâm, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ quân dân ta hăng hái chiến đấu,
tin tưởng vững chắc vào thắng lợi hoàn toàn.
Đi vào lịch sử, bài
thơ được coi như bài Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một
ngàn năm bị phong kiến nước ngoài đô hộ.
Qua thực tế chiến trường
trên phòng tuyến sông Cầu, bài "thơ thần"đã truyền đi đã có một sức mạnh
kỳ lạ, làm nao núng tinh thần quân địch, làm tăng nhuệ khí và thêm sức chiến đấu
cho quân ta, trực tiếp góp phần làm xoay chuyển cục diện cuộc chiến đang trong
giai đoạn cực kỳ quyết liệt, tạo điều kiện cho cuộc phản công chiến lược giành
thắng lợi quyết định.
Đó là cuộc phản công
chiến lược do Lý Thường Kiệt chỉ huy, đại quân ta vượt sông bất ngờ đánh úp vào
doanh trại chính của địch. Theo Việt sử lược thì quân Tống đại bại, bị tiêu diệt
đến năm, sáu phần mười.
Sau chiến thắng trên,
Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang sông gặp tướng chỉ huy quân Tống, đặt
vấn đề hòa giải nhằm sớm chấm dứt chiến tranh, với điều kiện là toàn bộ quân Tống
phải rút khỏi đất Việt.
Bọn chỉ huy quân Tống
đang lúc hoang mang cực độ trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, chúng vội vàng
nhận điều kiện trên và lập tức rút quân hồi tháng 3 năm 1077, không cần chờ lệnh
của triều đình nhà Tống.
Trong cuộc chiến đấu lần
này, quân dân Đại Việt đã tiêu diệt hơn 19.000 quân địch. Tính cả cuộc tập kích
lần trước vào Ung-Khâm-Liêm, quân Việt đã tiêu diệt gần 30.000 tên.
Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống
(1075-1077) là một minh chứng hùng hồn về sự phát triển vượt bậc của dân tộc
Việt sau một thế kỷ giành độc lập, quốc gia Đại Việt đã có đủ sức mạnh để chống
lại một đế quốc lớn mạnh.
Theo Bảo tàng lịch sử quốc gia