Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sử Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Bốn công chúa hòa thân trong sử Việt

 

BỐN CÔNG CHÚA HÒA THÂN TRONG SỬ VIỆT

 

“Hòa thân công chúa” nghĩa là gả con gái hoàng tộc, quý tộc ra nước ngoài vì mục đích chính trị, ngoại giao. Lịch sử Việt Nam ghi nhận ít nhất có 4 cuộc “hòa thân công chúa”. Mỗi cuộc hôn nhân này đều mang tính bước ngoặt, xoay chuyển vận mệnh quốc gia.

 

Dưới đây là 4 vị công chúa hòa thân có tầm ảnh hưởng lớn nhất sử Việt, được chia thành hai nhóm mục đích rõ rệt:

 

I. Nhóm hòa thân cứu quốc và mở mang bờ cõi (Thời nhà Trần)

 

1. Công chúa An Tư – “Vũ khí thời chiến” chống quân Nguyên Mông (1285)

  • Thân thế: Con gái út của vua Trần Thái Tông, em gái vua Trần Thánh Tông, và cô của vua – Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
  • Bối cảnh & Đóng góp: Đầu năm 1285, hơn 50 vạn quân Nguyên Mông do Thoát Hoan chỉ huy càn quét Đại Việt. Giữa thế trận ngàn cân treo sợi tóc, bà chấp nhận hiến thân vào trại giặc làm vợ Thoát Hoan để làm kế hoãn binh và nội gián. Sự hy sinh của bà đã trực tiếp giúp bộ chỉ huy nhà Trần thoát khỏi vòng vây hiểm nghèo, rút lui an toàn để chờ ngày phản công đại thắng.
  • Kết cục: Hoàn toàn mất tích sau chiến tranh, không rõ sống chết và bị triều đình nhà Trần ngó lơ, bỏ quên công trạng.


2. Công chúa Huyền Trân – “Đổi lấy giang sơn” (1306)

  • Thân thế: Con gái vua Trần Nhân Tông, em gái vua Trần Anh Tông.
  • Bối cảnh & Đóng góp: Để thực hiện lời hứa bang giao của Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông, năm 1306, Huyền Trân lên xe hoa về làm vương phi thứ 3 của vua Chiêm Thành là Chế Mân. Đổi lại cuộc hôn nhân này, vua Chiêm dâng tặng Đại Việt hai châu Ô và châu Lý (vùng đất từ Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế ngày nay).
  • Kết cục: Chỉ một năm sau (1307), Chế Mân băng hà. Theo phong tục Chiêm Thành, vương phi phải lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng. Vua Trần Anh Tông sai tướng Trần Khắc Chung lập mưu cứu bà về nước. Sau đó bà xuất gia tu hành và được người dân tôn kính như một vị thần hộ quốc.


II. Nhóm hòa thân Nam tiến, định hình bản đồ (Thời các Chúa Nguyễn)

3. Công nữ Ngọc Vạn – Người đặt nền móng cho vùng đất Nam Bộ (1620)

  • Thân thế: Con gái thứ hai của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (trong dân gian và một số tư liệu vẫn quen gọi là Công chúa Ngọc Vạn).
  • Bối cảnh & Đóng góp: Để tìm kiếm đồng minh và rảnh tay đối phó với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, Chúa Sãi gả Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp (Campuchia) là Chey Chetta II vào năm 1620. Với tư cách là Hoàng hậu Chân Lạp, bà đã khéo léo xin chồng cho phép người Việt di cư đến khai hoang lập ấp, lập đồn thu thuế tại vùng Mô Xoài (Bà Rịa) và Bến Nghé (Sài Gòn). Đây chính là những bước đi đầu tiên sáp nhập vùng đất Nam Bộ trù phú vào bản đồ Việt Nam.
  • Kết cục: Sau khi vua Chân Lạp băng hà, vương triều Chân Lạp rơi vào nội chiến giành quyền lực. Bà lui về sống ẩn dật, tu hành và mất tại vùng đất tự do Tây Ninh.


4. Công nữ Ngọc Khoa – Giữ vững bờ cõi phía Nam (1631)

  • Thân thế: Con gái thứ ba của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, em gái của Ngọc Vạn.
  • Bối cảnh & Đóng góp: Tiếp nối thành công của chị gái, năm 1631, Ngọc Khoa được gả cho vua Chiêm Thành là Pô Rôme. Cuộc hôn nhân chính trị này giúp củng cố mối quan hệ giao hảo Việt – Chiêm, giữ cho biên giới phía Nam của Đàng Trong được hòa bình, ổn định. Nhờ vậy, các Chúa Nguyễn không lo bị giặc đánh úp từ sau lưng để toàn tâm toàn ý dồn lực lượng ra Bắc đánh vây trận với quân Trịnh.
  • Kết cục: Số phận của bà gắn liền với sự thăng trầm của triều đại Chiêm Thành và sử sách Đàng Trong ghi chép vô cùng ít ỏi về hậu vận của bà.

Tổng kết đặc điểm chung

Nhìn một cách tổng thể, các nàng công chúa hòa thân trong sử Việt đều là những biểu tượng của sự hy sinh thầm lặng vì đại cuộc. Họ không ra trận bằng gươm đao, nhưng tấm thân và cuộc đời của họ chính là những “lá chắn ngoại giao” bảo vệ giang sơn hoặc “những nét bút” trực tiếp vẽ nên hình hài lãnh thổ Việt Nam ngày nay.

 

Phạm Thu Hương

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

Lý Thường Kiệt - nỗi kinh hoàng của quân Tống

 

LÝ THƯỜNG KIỆT - NỖI KINH HOÀNG CỦA QUÂN TỐNG

Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự kiệt xuất, có tài thao lược lỗi lạc, phá Tống bình Chiêm, đánh đâu thắng đấy. Ông cũng là một nhà chính trị tài giỏi và ngoại giao xuất sắc.

Lý Thường Kiệt quê gốc của ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức, kinh thành Thăng Long. Làng An Xá sau đổi tên là Phúc Xá (nay thuộc quận Ba Đình).

 

Từ nhỏ Lý Thường Kiệt đã tỏ ra người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn võ, từng nghiên cứu về binh pháp.

Tháng 2 năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, ông làm tướng tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ.

 

Chiến dịch Ung Châu: ra tay trước thay vì ngồi yên đợi giặc

Năm 1072, Lý Thánh Tông từ trần. Lý Nhân Tông lên nối ngôi khi mới có 7 tuổi. Trong khi ấy, chính quyền phương Bắc vẫn luôn nhòm ngó. Chúng xem đây là một cơ hội tốt để tiến hành ráo riết việc chuẩn bị xâm lược nước ta. Tại ba châu Ung, Khâm, Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay), chúng xây dựng những căn cứ quân sự và hậu cứ to lớn để làm nơi xuất phát trực tiếp cho các đạo quân xâm lược.

Đứng trước âm mưu và hành động rõ ràng công khai của địch, ông cho rằng: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc". Được triều đình tán thành, ông huy động 10 vạn quân tiến hành một cuộc tập kích đánh thẳng vào các căn cứ chuẩn bị xâm lược của kẻ thù ngay trên đất Tống.

Với danh nghĩa chính đáng là chỉ đánh Tống để giữ nước là đưa quân tới là để cứu dân, Lý Thường Kiệt đã viết bài hịch Phạt Tống lộ bố văn (bài văn công bố đánh giặc Tống) và cho yết bảng ở khắp nơi mà quân đội ta đi qua.

Bài hịch truyền đi đã đạt hiệu quả lớn: quân đội của Lý Thường Kiệt tiến đến đâu cũng đều được nhân dân Trung Hoa ở đó hoan nghênh, hưởng ứng.

Quân Việt bắt đầu tiến công vào đất Tống từ ngày 27 tháng 10 năm 1075. Thoạt tiên, quân Việt phá hủy một loạt các đồn trại biên giới, rồi lần lượt đổ bộ lên cảng và đánh chiếm các thành Khâm, Liêm. Sau đó đại quân tiếp tục tiến sâu vào đất địch. 

Ngày 18 tháng 1 năm 1076 áp sát thành Ung. Đây là căn cứ quan trọng nhất trong những căn cứ địch dùng cho cuộc viễn chinh xâm lược vào Đại Việt. Sau 42 ngày vây hãm và tấn công quyết liệt, ta hạ được thành, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên địch.

Sau khi đã đạt mục tiêu của cuộc đánh sang đất Tống, Lý Thường Kiệt quyết định rút nhanh quân về nước. Cuộc rút quân rất đúng lúc, vừa bảo toàn được lực lượng, vừa phá được kế hiểm của giặc: chúng định điều quân lẻn sang đánh úp Đại Việt nhân lúc đại quân còn đang ở bên nước chúng.

Cuộc tập kích chiến lược đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Lịch sử ghi nhận chiến công kỳ diệu này, chiến công có một không hai trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Gắn liền với chiến công ấy, là tên tuổi vị chủ tướng tài ba Lý Thường Kiệt. 

Nhà viết sử Ngô Thì Sĩ ca ngợi ông: "bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc, lúc tới còn không ai dám địch, lúc rút quân còn không ai dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta chưa từng có bao giờ"? (Việt sử tiêu án).

Trận tuyến Như Nguyệt và bài thơ thần "Nam Quốc Sơn Hà"

Tuy bị thua đau, nhưng nhà Tống vẫn rất ngoan cố. Lý Thường Kiệt biết chắc thế nào chúng cũng sẽ kéo quân sang phục thù và tiếp tục thực hiện mục tiêu xâm lược mà chúng chưa bao giờ chịu từ bỏ.

Ông cử người vào đất Tống để theo dõi cụ thể công việc chuẩn bị và kế hoạch xâm lược của quân Tống.

Ông tự mình đi xem xét vùng biên cương phía nam và tăng cường lực lượng bố phòng ở đó nhằm chặn sự tiến công quấy rối của quân Champa. Ông bố trí kế hoạch cho các lực lượng vũ trang địa phương, các thổ binh, hương binh ở vùng núi phía bắc làm nhiệm vụ kiềm chế và tiêu hao địch trên các con đường tiến vào của chúng.

Cuối năm 1076, đại quân Tống chia làm nhiều cách vượt biên giới tiên ào ạt vào Đại Việt. Sau một tháng phải luôn luôn đối phó với những cuộc chống trả quyết liệt của nhân dân Đại Việt trên vùng biên giới và thượng du.

Cuối cùng ngày 18 tháng 1 năm 1077, đại quân Tống cũng tiến được tới bờ bắc sông Cầu. Nhưng đến đây, chúng đã bị chặn đứng lại. Phòng tuyến sông Cầu sừng sững như một bức tường thành, vững chãi, uy nghiêm và đầy thách thức. Chúng buộc phải dừng quân, tập kết trên một trận tuyến dài 30km từ bến đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, để từ đó triển khai các đợt tiến công sang phòng tuyến của quân Việt.

Một lần, chúng tập trung binh lực, đột phá trận tuyến quân Việt ở bến đò Như Nguyệt, chọc thủng được một đoạn phòng tuyến. Quân tiên phong của chúng tiến về phía Thăng Long. Nhưng quân Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy đã phản công kịch liệt. Chúng bị tổn thất nặng nề, phải mở đường máu mà tháo chạy. 

Lần khác, chúng lại mở đợt tấn công mới. Với những bè lớn, mỗi bè trở được 500 quân qua sông, chúng liên tiếp đưa những đạo quân mạnh đổ bộ lên bờ nam. Nhưng ở đây chúng lại đụng phải sức phản công dữ dội của lực lượng chiến đấu dũng mãnh dưới sự chỉ huy linh hoạt sắc bén của tướng quân Lý Thường Kiệt. Những đạo quân đổ bộ đều bị tiêu diệt hoặc phải đầu hàng.

Vào lúc cuộc chiến ra vô cùng quyết liệt, Lý Thường Kiệt đã viết Nam quốc sơn hà - một bài thơ bất hủ để cổ vũ tinh thần binh sĩ. Tương truyền rằng ông đã sai người giả làm thần nhân, nấp trong đền Trương Hát ở bờ nam cửa sông Như Nguyệt, đọc bài thơ này.

Theo sách Việt điện u linh thì tướng quân Trương Hát là thần sông Như Nguyệt, chính thần nhân này đã được đọc bài thơ trên. Sách còn nói: "Đang đêm nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đẩm, không đánh cũng tan".

Bài thơ Nam quốc sơn hà khẳng định chân lý hùng hồn: Nước Nam là một quốc gia lãnh thổ riêng, cương giới rạch ròi, quyền độc lập tự chủ của dân tộc là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Bài thơ thể hiện khí phách hào hùng về ý chí gang thép của dân tộc, cảnh cáo nghiêm khắc kẻ ngoại xâm, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ quân dân ta hăng hái chiến đấu, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi hoàn toàn.

Đi vào lịch sử, bài thơ được coi như bài Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một ngàn năm bị phong kiến nước ngoài đô hộ. 

Qua thực tế chiến trường trên phòng tuyến sông Cầu, bài "thơ thần"đã truyền đi đã có một sức mạnh kỳ lạ, làm nao núng tinh thần quân địch, làm tăng nhuệ khí và thêm sức chiến đấu cho quân ta, trực tiếp góp phần làm xoay chuyển cục diện cuộc chiến đang trong giai đoạn cực kỳ quyết liệt, tạo điều kiện cho cuộc phản công chiến lược giành thắng lợi quyết định.

Đó là cuộc phản công chiến lược do Lý Thường Kiệt chỉ huy, đại quân ta vượt sông bất ngờ đánh úp vào doanh trại chính của địch. Theo Việt sử lược thì quân Tống đại bại, bị tiêu diệt đến năm, sáu phần mười.

Sau chiến thắng trên, Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang sông gặp tướng chỉ huy quân Tống, đặt vấn đề hòa giải nhằm sớm chấm dứt chiến tranh, với điều kiện là toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất Việt.

Bọn chỉ huy quân Tống đang lúc hoang mang cực độ trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, chúng vội vàng nhận điều kiện trên và lập tức rút quân hồi tháng 3 năm 1077, không cần chờ lệnh của triều đình nhà Tống. 

Trong cuộc chiến đấu lần này, quân dân Đại Việt đã tiêu diệt hơn 19.000 quân địch. Tính cả cuộc tập kích lần trước vào Ung-Khâm-Liêm, quân Việt đã tiêu diệt gần 30.000 tên.

Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống (1075-1077) là một minh chứng hùng hồn về sự phát triển vượt bậc của dân tộc Việt sau một thế kỷ giành độc lập, quốc gia Đại Việt đã có đủ sức mạnh để chống lại một đế quốc lớn mạnh.

 

Theo Bảo tàng lịch sử quốc gia