Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2022

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói về nhạc Trịnh và tình yêu

 

Đoàn thượng nghị sĩ Mỹ thăm Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại chùa Từ Hiếu, Huế tháng 4/2019

THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH NÓI VỀ NHẠC TRỊNH VÀ TÌNH YÊU

Thiền sư Thích Nhất Hạnh có thiện cảm đặc biệt với âm nhạc và con người Trịnh Công Sơn. Thiền sư đã mượn Trinh để nói về giáo lý vô sinh, vô tử.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh khẳng định, những bài hát của Trịnh Công Sơn chuyên chở lòng trắc ẩn để tưới những hạt giống từ bi, làm tan biến chất chứa hận thù trong mỗi người: “Những bài hát của Trịnh Công Sơn nói về tình người như những bài kinh mà ta có thể đọc thuộc lòng”.

Sư cô Chân Không và ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh cùng hát nhạc Trịnh. Ảnh: Tư liệu

Trong một buổi pháp thoại vào ngày 1 tháng 2 năm 2004 tại Tu Viện Lộc Uyển (California-Hoa Kỳ), Thiền Sư đã để cho các tăng ni tụng kinh hát ru vào ban đêm chỉ bằng một chiếc gõ để tỏ lòng tương thông. cộng đồng âm nhạc. Quả thật, nhiều ca khúc của Trịnh có tiết tấu đều đặn, lặp lại những câu từ triết lý khá giống với nhạc Phật giáo.

Trong buổi nói chuyện, thiền sư đã nhấn mạnh đến sự đồng cảm giữa mình và người nhạc sĩ bằng cách chọn đại từ nhân xưng: “Chúng ta có chút can đảm mới dám nói lên sự thật” - cụ thể ở đây là sự thật về chiến tranh.

"Trong âm nhạc của Trịnh Công Sơn, có rất nhiều cái nhìn sâu sắc về Phật giáo mà chỉ cần lắng nghe kỹ mới có thể nhận ra", sư thầy nói. "Người được Thế giới tôn vinh luôn bảo chúng ta hãy trở về để sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Không biết Trịnh Công Sơn đã đọc Làng Mai chưa, nhưng điều đó chứng tỏ anh đã có được chân lý đó, tức là sự khôn ngoan thể hiện sự Pháp trong cực lạc. " .

Trong một cuộc phỏng vấn, nhạc sĩ cho biết: "Phương tiện tối cao của sự tồn tại là Đức Phật. Bởi vì Đức Phật đã dạy chúng ta tỉnh thức trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống". Và Trịnh Công Sơn đã áp dụng phương châm sống đó vào cuộc sống như thế này:

"Tôi có cách thiền của riêng mình. Không có thời gian nhất định. Và tôi thậm chí không nghĩ rằng mình đang thiền. Đó chỉ là một cách sống. Và hãy sống thiền trong từng khoảnh khắc. Ngồi trước một ly rượu hay trước người đẹp cũng vậy. Điều này hơi vi phạm giáo luật Phật giáo, nhưng tôi là người phàm tục nên tôi để mình như thực tại..."

Nhạc sĩ khó “tu” vì gặp nhiều “bạn nhậu” hơn bạn đạo? Vị sư kể, Trịnh Vĩnh Trinh từng nhờ một người bạn của anh trai khuyên bớt uống rượu: “Nhưng người kia không khuyên được vì họ cũng uống”. Tuy có trí tuệ, nhưng “Trịnh Công Sơn không có Tăng bảo và không được che chở để sống trí tuệ này” là lời nhận xét của thiền sư.

Trong cuộc đời của mình, Trịnh Công Sơn rất coi trọng tình bạn: "Thiếu vắng bạn bè đương nhiên là buồn. Nhưng có bạn và sự hiện diện của bạn là một niềm vui. Có bạn cũng tương đương với hạnh phúc. Có một khoảng lặng trong âm nhạc nên rằng sự hiện diện thường có khả năng mang lại cho chúng ta một loại cảm giác nhẹ nhõm giống như niềm vui, những tình huống mà chúng ta không phải giải quyết nó, chúng ta không phải cố gắng. Hãy lấp đầy khoảng trống bằng những câu chuyện nhạt nhẽo cố gắng ".

Và thiền sư cho rằng đây là cách thiền của Trịnh Công Sơn, tuy không phải là phương pháp chuẩn của “thiền”. “Tiếng ồn khiến Trịnh Công Sơn mệt mỏi, dù đó là tiếng ồn để viễn vông”, nhà sư phân tích. "Vì vậy, Trịnh Công Sơn rất cần những giây phút tĩnh lặng. Nhưng vì chưa học được cách ngồi một mình để tận hưởng khoảng lặng (thiền) nên Trịnh Công Sơn cần một người bạn bên cạnh (không nói gì) để tận hưởng sự thanh thản trong tâm hồn." Theo thiền sư, dù không nói nhưng sự có mặt của nhau vẫn nuôi dưỡng mọi người trong đoàn, chỉ cần 3-4 người ngồi thiền với nhau vẫn hạnh phúc hơn một mình.

Về tình yêu, nhạc sĩ tuyên bố: "Với tôi, trong tình yêu không có sự bất tử. Người ta chỉ muốn lãng mạn hóa nó ... Nhưng trong sự bất tử mới có thể có tình yêu". Thiền sư coi câu nói này là một công án Thiền và phân tích nó: "Những người tình chân chính cởi trói cho tôi khỏi tuyệt vọng, dỡ tôi khỏi hoàn cảnh khó khăn. Và khi tôi nhìn thấy người yêu đó, tôi tự biết rằng trong tình yêu đó có sự bất tử".

Bí quyết hạnh phúc trong tình yêu được Thiền sư Thích Nhất Hạnh chỉ ra trong bài pháp thoại: “Người yêu phải là bạn của mình… Không có tình bạn thì không phải là tình yêu đích thực”.

Nhiều năm sau, vị sư già tiếp tục phát triển ý tưởng này: "Hiểu và thương là nền tảng của đạo Phật. Tình yêu chân chính tạo nên sự hiểu biết. Không hiểu thì không có tình yêu. Người cha không hiểu con mình mà càng thương con, con càng khổ, vợ càng không hiểu chồng, càng thương chồng thì chồng càng đau khổ. Và tình yêu sẽ chết dần nếu chúng ta không biết nuôi dưỡng nó bằng sự thấu hiểu và yêu thương."

Cũng trong buổi pháp thoại tại Lộc Uyển, thiền sư đã mượn lời Trịnh Công Sơn để nhắc nhở về sự biến hóa của vạn vật: Ở đời, không có gì sinh ra và cũng không có gì mất đi. "Trịnh Công Sơn vẫn ở đó nghe tôi nói. Trịnh Công Sơn ở đây, giữa các bạn từ Việt Nam. Đừng nghĩ rằng Trịnh Công Sơn đã chết, Trịnh Công Sơn đang sống mạnh mẽ hơn bao giờ hết." Và vị sư chỉ ra rằng, dù thân xác biến mất nhưng Trịnh Công Sơn vẫn khiến nhiều người lặn lội nhiều cây số để đến đây nghe giảng ...

Cách nhìn của nhạc sĩ về bên kia thế giới: "Có sự liên tục ở một cõi này, thế giới khác hẳn là vui vẻ! Và tôi nghĩ thực sự có một cõi nào đó khác ngoài thế giới này, mọi người đều hy vọng sẽ lang thang mãi mãi." Vị sư phụ nhận xét: "Thiên đường hay cực lạc đều có ở đây. Ta không mất đi, sự rã rời của thân xác chỉ là kết thúc của một giai đoạn biểu hiện. Và ta sẽ hiển hiện trong những đám mây khi chúng không còn hình hài nữa. mây tiếp thành suối hay núi băng Làm mây bay trên trời cũng vui, làm mưa rơi xuống ruộng cũng vui, sao phải sợ Và Trịnh Công Sơn có thể lang thang mãi mãi.

Trích bài viết của Nguyễn Mạnh Hà

 

Thả một bè lau

 

THẢ MỘT BÈ LAU

Chúng ta thường nghĩ truyện Kiều là truyện của một người khác và chúng ta chỉ là khán giả, không có liên can gì. Nhưng khi viết truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã sống trong da thịt của nhân vật Kiều, đã trở thành với Kiều, cụ đã nói được tâm sự của chính mình. Cô Kiều trong truyện đã phải bắt buộc làm gái giang hồ. Là một nhà Nho, một mẫu mực đạo đức thời xưa ở Việt Nam, vậy mà có khi cụ Nguyễn Du cũng có cảm tưởng mình là một cô gái giang hồ.

Cụ làm quan với triều Lê. Sau khi nhà Lê mất, cụ bị nhà Nguyễn gọi ra làm quan. Không từ chối được, cụ phải ra làm quan cho triều Nguyễn. Theo quan niệm của Nho giáo ngày xưa, một người thần tử trung thành không bao giờ thờ hai vua (‘trung thần bất sự nhị quân.’).

Trong khi viết truyện Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du viết truyện của chính mình. Cụ muốn gửi tấc lòng mình vào thiên cổ chứ không phải vì ngồi không, cao hứng nhất thời mà viết ra một tác phẩm chữ Nôm.

Nếu có chánh niệm, đem những khổ đau, luân lạc và gian truân của mình ra đọc truyện Kiều chúng ta có cơ hội thấy được bản thân. Và như vậy đọc truyện Kiều cũng là tu. Tu tức là nhìn tất cả những gì đã và đang xảy ra trong đời mình bằng con mắt quán chiếu.

Trong quá khứ, có nhà Nho đã liệt truyện Kiều vào loại dâm thư vì trong truyện có tả đời sống của một cô gái giang hồ. Họ có thể đứng về phương diện đạo đức của Nho giáo mà nói như vậy. Nhưng dùng con mắt quán chiếu mà nhìn vào đời Thúy Kiều, ta có thể học được bài học của khổ đau và kinh nghiệm. Nếu biết cách đọc, chúng ta có thể học được rất nhiều từ truyện Kiều như học từ một cuốn kinh. Và truyện Kiều sẽ không phải là dâm thư mà là kinh điển.

Truyện Kiều là truyện về cuộc đời, có những hoàn cảnh khổ đau, hạnh phúc và u mê của cuộc đời. Lấy con mắt của người quán chiếu nhìn vào truyện Kiều, chúng ta có thể thấy được bản chất của cuộc đời. Những điều xảy ra trong mười lăm năm của cô Kiều có thể xảy ra cho bất cứ một người nào. (Vì vậy ở Việt Nam có truyền thống bói Kiều.). Kiều dã trải qua rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, đi qua tất cả những chuyện lên voi xuống chó của một con người. Thúy Kiều có khi là học trò, làm vợ của một người có quyền thế gần như vua (Từ Hải), làm đầy tớ, làm người yêu, làm vợ lẽ và làm một người con gái phong sương… Kiều cũng từng làm sư cô. Mỗi chúng ta ít nhất đã có một giai đoạn giống như giai đoạn Thúy Kiều. Nhìn vào đời Thúy Kiều, ta phải nhìn như một toàn thể mà đừng nhìn từng khoảng ngắn.

Chúng ta phải có con mắt trạch pháp, tức là con mắt có khả năng nhận xét và phân biệt. Khi đọc Kinh, ta cần phải có nhận thức độc lập, huống nữa là đọc truyện Kiều. Ta phải nhìn cụ Nguyễn Du bằng con mắt trạch pháp. Cụ tin vào thuyết tài mệnh tương đố (tài năng và số mệnh chống trái nhau). Chúng ta sẽ từ từ xét coi tại sao cụ tin vào thuyết này và thuyết này có đúng hay không. Nếu đúng thì đúng bao nhiều phần trăm. Không phải vì cụ nói ‘chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau’ hay ‘chữ tài liền với chữ tai một vần’ mà chúng ta tin ngay vào sự tương phản, chống trái của tài mệnh. Có những người có tài nhưng không bị tai nạn, vì họ có tu, có chánh niệm và sự khiêm nhượng. Tai nạn sẽ không xảy tới với họ, hay ít nhất, không xảy tới cho họ nhiều như cho những người quá cậy vào tài năng của mình mà xem thường người khác.

Dựa theo truyện Phong Tình Lục của Trung Hoa để viết truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã biến tập tiểu thuyết tầm thường này thành một tác phẩm văn chương phong phú và sâu sắc. Một lần nữa, chúng ta thấy cốt tủy của một tác phẩm có giá trị không phải là cốt truyện mà là văn chương và tư tưởng.

Ngày xưa tôi cũng đã từng dạy văn chương Việt Nam và đã dạy truyện Kiều. Nhưng tâm của tôi lúc đó không được như bây giờ. Tôi đã dạy với tư cách một giáo sư văn chương mà chưa bao giờ dạy với tư cách một thiền sư. Nhìn với tư cách một thiền sư là nhìn sâu, nhìn kỷ, nhìn bằng sự khám phá của thiền quán mọi sự kiện qua nhận thức, đau khổ, hạnh phúc, thành công, thất bại và qua sự tu học của mình. Nhìn như vậy trong khi đọc lại truyện Kiều ta có thể thấy được những điều rất mới.

Khi đọc truyện Kiều, ta không nên ngại về từ ngữ và điển tích. Các bản truyện Kiều đều có chú giải. Có tài liệu là ta có thể hiểu được hết các điển tích và từ cổ. Điều quan trọng là chúng ta đọc với tâm trạng quán chiếu, tìm thấy tâm lý của tác giả và tìm thấy lòng mình.

Làng Mai khóa tu mùa Xuân 1992

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

Thuyết đa trí tuệ

 

THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ

.

Tiến sĩ Howard Gardner – một nhà tâm lý học kiêm giáo sư khoa học thần kinh tại Đại học Harvard, đã nghiên cứu và đưa ra một lý thuyết về "Đa trí tuệ" (Multiple Intelligences – MI). Ông đã đưa ra nhận định: "Chúng ta có thể dễ dàng đo lường chỉ số thông minh bằng các bài trắc nghiện hay câu trả lời ngắn nhờ thuyết Đa Trí Tuệ. Bao gồm 8 loại trí tuệ khác nhau phản ánh các cách tương tác đa dạng với thế giới quan. Và mỗi người đều có ít nhất sự pha trộn độc đáo của 2 loại cho đến nhiều hơn giữa các dạng trí tuệ này". 

 


1. Thông minh về không gian

Những người thông minh về không gian có khả năng khái niệm hóa và thao tác giỏi trong các môn về không gian có quy mô lớn như phi công, thủy thủ, hoặc các dạng không gian dạng khu vực đơn giản hơn như kiến trúc sư, người chơi cờ vua…

2. Thông minh về âm nhạc

Đây là những người luôn có cảm hứng và bắt nhịp tốt với nhịp điệu, giai điệu và âm sắc. Họ có năng khiếu hát, chơi nhạc cụ hay soạn nhạc như nhạc sỹ, ca sỹ.

3. Thông minh về ngôn ngữ

Những người thuộc dạng này luôn nhạy cảm với ý nghĩa của từ, trật tự giữa các từ, âm thanh, nhịp điệu, vần luật như người viết văn, nhà thơ, nhà báo, các biên tập viên.

4. Thông minh về sự vận động

Người có trí thông minh về sự vận động cơ thể có thể học và sử dụng điêu luyện các bộ phận của tay, chân một cách khéo léo, hoặc cả cơ thể để giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra sản phẩm như vũ công, nghệ nhân làm gốm, sứ, hoặc làm xiếc.

5.  Thông minh về giao tiếp

Những người này luôn có khả năng liên kết, hòa nhập tốt với người khác, dễ dàng bắt được cảm xúc, tâm trạng và chủ động trong mối quan hệ của họ, những người này có thể là nhà tâm lý học, những người đàm phán.

6. Thông minh về toán học

Những người có tính logic về toán học thì họ luôn có khả năng khái niệm hóa mối quan hệ giữa các hành động hoặc biểu tượng một cách logic như nhà toán học hay các nhà khoa học.

7. Thông minh về nội tâm

Nhóm người này khá nhạy cảm với cảm xúc, mục tiêu của chính họ. Có thể nói họ giỏi phát triển điểm mạnh của bản thân. Những người này không thể hiện ở nghề nghiệp cụ thể, nhưng họ có thể tự đưa ra những quyết định của riêng mình trong tương lai, và luôn chấp nhận đối mặt với kết quả của nó dù là tốt hay xấu.

8. Thông minh về khoa học tự nhiên

Những người này có khả năng phân biệt được những liên quan, tác động của mọi sự việc đến môi trường tự nhiên. Họ yêu thích khám phá, và luôn tìm hiểu về thiên nhiên, thích làm những công việc gắn bó với thiên nhiên.

.

Theo các nhà nghiên cứu, tám loại trí thông minh này độc lập với nhau. Có thể loại này trẻ rất tốt, nhưng loại kia lại kém xa. Từ các nghiên cứu này, mỗi đứa trẻ sẽ có một thiên phú riêng.

Điều mà phụ huynh cần đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho con. Đó chẳng phải là Toán, Văn, hay ngoại ngữ mà chính là cách ứng xử, nội hàm mới là điều được đánh giá cao nhất trong giao tiếp giữa người với người, quan trọng không kém các loại bằng cấp.

.

Thực tế một đứa trẻ có nội hàm, biết kính trên nhường dưới, không kiêu căng, ngạo mạn, biết cách ứng xử lại được yêu quý hơn hẳn những đứa trẻ chỉ học giỏi. Cách ứng xử khéo léo, có văn hóa sẽ giúp trẻ được lòng mọi người, từ đó có thuận lợi trong công việc cũng như đời sống cá nhân.

"Vậy nên bố mẹ hãy tìm ra đâu là thể mạnh của con để có cách bồi dưỡng đúng đắn, đồng thời không quên vun đắp nội hàm cho con".

 

“Lời khuyên dành cho thầy cô”

 

LỜI KHUYÊN DÀNH CHO THẦY CÔ

Dạy học sinh thành nhân trước khi thành tài mới là điều cốt lõi

Với nhiều tâm tư dành cho nhà giáo, tác phẩm “Lời khuyên dành cho thầy cô” (Beyond Teaching) của giáo sư John Vu đã gửi gắm đến độc giả nhiều lời khuyên, góc nhìn thú vị về nghề dạy học trong thời đại toàn cầu hóa, cùng những phương pháp giảng dạy hiệu quả nhằm hướng đến mục tiêu kiến tạo thế hệ Việt Nam ưu việt trong tương lai. 


 Trong thời đại toàn cầu hóa, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, nguồn nhân lực có kỹ năng cao là một trong những yếu tố quyết định sự sống còn của mỗi quốc gia. Theo đó, ngành giáo dục đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước, là nền tảng gốc rễ để tạo nên những công dân thích ứng tốt với thời đại ngày nay. 

Với hơn 20 năm kinh nghiệm dạy học, giáo sư John Vu đã đưa ra nhiều lời khuyên thiết thực giúp các thầy cô thích ứng với vai trò mới, và chuyển mình để có những phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn trong thời đại công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay.

Khi xu hướng giáo dục mới không còn là “thầy dạy - trò chép

Song song với sự phát triển của xã hội chính là sự thay đổi trong vai trò của các thầy cô giáo. Giờ đây, những người lái đò không còn là nguồn tri thức duy nhất, mà sứ mệnh ấy sẽ được chuyển dần thành người huấn luyện. Nghĩa là không những dạy cách tích lũy tri thức, mà thầy cô còn hướng dẫn học sinh, sinh viên cách khai thác và sử dụng lượng thông tin khổng lồ từ Internet, sách báo, ebook, tin tức, tivi, hay những trải nghiệm trong cuộc sống. 

Việc thay đổi hệ thống giáo dục từ thụ động sang chủ động tại các nước Châu Á như Việt Nam là vấn đề nan giải, bởi thói quen “thầy cô dạy – trò ghi chép” đã ăn sâu từ những lớp chồi, lớp lá, tiểu học.

GS John Vu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp học sinh sớm định hướng những mục tiêu cụ thể cho tương lai từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, để từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ cho việc học, đồng thời chủ động rèn luyện kỹ năng học tập suốt đời.

Bên cạnh việc thay đổi phương pháp giảng dạy, các thầy cô cũng cần trau dồi và rèn luyện phẩm chất để không chỉ là những tấm gương sáng trong việc hướng dẫn học sinh trên con đường học vấn, mà còn góp phần hình thành nên những cá nhân có đạo đức và lương tri, sẵn sàng đóng góp cho sự phát triển của quốc gia. Giống như sự đúc kết về vai trò của ngành giáo dục mà giáo sư đã chia sẻ: “Dạy học sinh thành nhân trước khi thành tài mới là điều cốt lõi”.

Không có ở đâu mà việc dạy học là dễ dàng, và chọn nghề nhà giáo chính là chọn con đường có nhiều thử thách, nhưng cũng mang trong mình một sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao. Trong suốt sự nghiệp dạy học của mình, mỗi thầy cô giáo tận tâm có thể giúp hàng nghìn học sinh hoàn thiện nhân cách để các em có tương lai tốt đẹp. Vì vậy, dù thế giới có thay đổi, robot có thay thế con người trong nhiều lĩnh vực thì nghề giáo vẫn luôn là nghề không thể bị thay thế. 

--------

Giáo sư John Vu - học giả người Mỹ gốc Việt. Tên thật của ông là Vũ Văn Du, bút danh Nguyên Phong, sinh năm1950 tại Hà Nội. Ông từng là kỹ sư trưởng của Tập đoàn Boeing, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Công nghệ Sinh học thuộc Đại học Carnegie Mellon. Ông còn là dịch giả nổi tiếng về văn hóa và tâm linh phương Đông.