Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Tiết kiệm không chỉ là giữ “tiền”, mà là giữ lấy “phẩm giá” của một con người

 

TIẾT KIỆM KHÔNG CHỈ LÀ GIỮ “TIỀN”, MÀ LÀ GIỮ LẤY “PHẨM GIÁ” CỦA MỘT CON NGƯỜI

 

Trong xã hội hiện đại, rất nhiều người xem “tiết kiệm” là biểu hiện của sự thiếu thốn. Người ta thích nói về tận hưởng, tiêu dùng, hưởng thụ cuộc sống, còn sống giản dị thường bị xem là lạc hậu, keo kiệt hay không biết hưởng thụ. 

Nhưng nếu nhìn sâu hơn vào lịch sử, chúng ta sẽ nhận ra rằng: tiết kiệm chưa bao giờ chỉ là chuyện tiền bạc. Đó là một năng lực “kiểm soát dục vọng”, một biểu hiện của sự trưởng thành nội tâm và cũng là nền móng của phẩm đức con người.

 

Người xưa nói: “Tiết kiệm là gốc của đức hạnh, xa xỉ là đầu mối của tai họa. Thực chất, “tiết kiệm” trong văn hóa truyền thống chính là một dạng “trì hoãn dục vọng”. Không tiêu xài quá mức không phải vì không có tiền, mà vì hiểu rằng nếu con người cứ mãi chạy theo ham muốn, thì lòng sẽ ngày càng bất an.

 

Bởi dục vọng của con người có một đặc điểm rất lạ: nó không bao giờ biết đủ.

Khi còn nghèo, người ta nghĩ chỉ cần có tiền là hạnh phúc. Khi có tiền rồi lại muốn xe đẹp hơn, nhà lớn hơn, địa vị cao hơn. Có được thứ này rồi lại tiếp tục thấy thiếu thứ khác.

Tâm lý học gọi đó là “vòng xoáy khoái lạc”, con người nhanh chóng quen với sự hưởng thụ và phải liên tục tăng mức hưởng thụ để cảm thấy thỏa mãn như cũ.

 

Người xưa hiểu rất rõ điều này nên mới xem tiết chế dục vọng là một loại tu dưỡng.

Khi ham muốn quá lớn, con người rất dễ đánh mất giới hạn đạo đức.

Có người vì muốn giàu nhanh mà lừa lọc. Có người vì muốn giữ thể diện mà vay nợ để sống sang chảnh. Có người vì muốn được người khác ngưỡng mộ mà bất chấp năng lực thật của bản thân.

Rất nhiều bi kịch trong xã hội hôm nay thực chất không bắt đầu từ nghèo khó, mà bắt đầu từ lòng ham muốn vượt quá khả năng kiểm soát.

 

Nhưng giá trị thật của con người chưa bao giờ nằm ở những thứ họ khoác lên người.

Một người biết tiết chế chi tiêu, sống giản dị mà vẫn đàng hoàng, tử tế, thường có nội tâm rất vững vàng.

Họ không cần dùng vật chất để che lấp cảm giác thiếu giá trị bên trong. Họ cũng không bị ngoại cảnh thao túng quá nhiều. Đây là điều mà tâm lý học hiện đại gọi là “động lực nội tại”, tức giá trị sống xuất phát từ bên trong chứ không phụ thuộc vào ánh nhìn của người khác.

 

Bởi vậy, tiết kiệm không phải là sống khổ hạnh cực đoan, càng không phải bủn xỉn với bản thân và người khác. Tiết kiệm chân chính là biết cái gì đáng dùng, cái gì không cần thiết; biết quý trọng công sức lao động, biết trân trọng tài nguyên, biết sống có chừng mực.

 

Người thật sự có phẩm đức thường không hoang phí. Không phải họ không đủ khả năng hưởng thụ, mà vì họ hiểu mọi thứ đều có cái giá của nó.

Tiêu xài vô độ không chỉ làm cạn tiền bạc, mà còn làm con người mất đi khả năng chịu đựng, khả năng biết đủ và năng lực cảm nhận những niềm vui giản dị.

 

Đó cũng là lý do vì sao nhiều gia đình giàu có chỉ qua một hai thế hệ đã suy bại. Không phải vì họ thiếu tiền, mà vì con cháu quen hưởng thụ nhưng không còn năng lực chịu khổ, không hiểu giá trị của lao động và cũng không biết tiết chế ham muốn.

 

Tâm lý học hiện đại cũng chỉ ra rằng những người trưởng thành thật sự thường có khả năng sống tối giản hơn trong tâm hồn. Họ không cần quá nhiều thứ để cảm thấy hạnh phúc. Họ biết tập trung vào những điều có ý nghĩa lâu dài như sức khỏe, gia đình, nhân phẩm, sự bình an nội tâm và các mối quan hệ chân thành.

 

Một người không bị dục vọng lôi kéo sẽ sống nhẹ hơn, bình tĩnh hơn và ít bị hoàn cảnh thao túng hơn. Họ không phải đánh đổi đạo đức để duy trì lối sống vượt quá khả năng của mình. Họ cũng không cần sống trong áp lực phải hơn thua với người khác.

 

Trong một thời đại mà con người liên tục bị kích thích mua sắm, hưởng thụ và phô bày bản thân, thì biết sống tiết chế đã trở thành một năng lực rất đáng quý.

Bởi sau cùng, giàu có thật sự không nằm ở việc sở hữu bao nhiêu, mà nằm ở chỗ một người có thể kiểm soát được bao nhiêu ham muốn của chính mình.

 

Tú Uyên 

 

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

Đầu tư cho giáo dục - đầu tư cho tương lai

 

ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC - ĐẦU TƯ CHO TƯƠNG LAI

Mười năm qua, kể từ khi triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 14-11-2013, của Ban Chấp hành Trung ương “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo luôn ở mức từ 15% - 19%, tuy chưa năm nào đạt mức 20%(3), tương đương 5% GDP cho giáo dục như mục tiêu của Nghị quyết đề ra.

Năm 2025, ngân sách nhà nước tiếp tục ưu tiên chi cho giáo dục và đào tạo, đảm bảo mức chi tối thiểu 20% tổng chi ngân sách.  Trong đó, Chính phủ đề xuất chi 580.133 tỉ đồng để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục. khoảng hơn 4% GDP

 

Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

Giáo dục mầm non, phổ thông là nền tảng hình thành nhân cách, phát triển phẩm chất và năng lực người học.

 

Theo Tổng cục Thống kê (năm 2020), mỗi hộ gia đình ở khu vực thành thị chi trung bình 10,7 triệu đồng/năm/học sinh, gấp 2,1 lần so với hộ gia đình ở khu vực nông thôn. Nhóm thu nhập cao nhất chi hơn 15,4 triệu đồng/người/năm cho giáo dục, trong khi nhóm thu nhập thấp nhất chỉ chi 2,5 triệu đồng, chênh lệch gấp 6,2 lần. Không chỉ vậy, nhiều gia đình còn phải chi một khoản cho con học thêm, chiếm 32% tổng chi phí giáo dục ở bậc tiểu học, 42% ở trung học cơ sở và 43% ở trung học phổ thông.

Đầu tư cho giáo dục - đầu tư cho tương lai

Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình tại Việt Nam bình quân năm 2024 đạt khoảng 9,5 triệu đ/người/năm, với 47% chi tiêu ở các thành phố lớn dành cho việc học. Phần lớn tập trung vào học phí và các khoản chi trái tuyến/học thêm (khoảng 41,1%).

 

Phụ huynh Việt ngày càng đầu tư "mạnh tay" vào việc học của con

Bất chấp bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, phụ huynh Việt Nam vẫn duy trì xu hướng chi tiêu ngày càng lớn cho giáo dục không chỉ về mặt số lượng mà còn cả chất lượng.

Bất chấp bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, phụ huynh Việt Nam vẫn duy trì xu hướng chi tiêu ngày càng lớn cho giáo dục không chỉ về mặt số lượng mà còn cả chất lượng.

 

Giáo dục đang được xem là một khoản đầu tư dài hạn, được lên kế hoạch kỹ lưỡng và ưu tiên hàng đầu trong ngân sách gia đình. Xu hướng này không chỉ phản ánh sự dịch chuyển trong hành vi tiêu dùng, mà còn cho thấy rõ cách phụ huynh hiện đại định nghĩa lại vai trò của giáo dục đối với tương lai con cái.

 

Theo khảo sát, tại các đô thị lớn, 47% chi tiêu hộ gia đình ở các thành phố lớn là dành cho giáo dục – gần một nửa tổng ngân sách sinh hoạt. Con số này phản ánh rõ mức độ ưu tiên vượt trội mà phụ huynh dành cho việc học của con cái.

Trong khi những khoản chi tiêu như ăn uống, đi lại hay giải trí có thể linh hoạt điều chỉnh khi cần thiết, thì các khoản dành cho giáo dục như học phí trường chính quy, học thêm, học ngoại ngữ, phát triển năng khiếu, luyện thi hay học trực tuyến vẫn được xem là thiết yếu và khó có thể cắt giảm. (Nguồn: Mibrand)

 

Chi tiêu tăng không chỉ dừng lại ở giai đoạn tiểu học hay phổ thông, mà còn trải dài theo toàn bộ hành trình học tập – từ mầm non, tiểu học, trung học cho đến đại học và sau đại học. Điều này được thúc đẩy bởi tâm lý phổ biến của phụ huynh Việt: “Đầu tư cho con cái là khoản đầu tư sinh lời lâu dài nhất”.

“3 hồn 7 vía” là gì?

 

“3 HỒN 7 VÍA” LÀ GÌ?

 

Dân gian xưa thường quan niệm con người có 3 hồn 7 phách (bảy vía). Cổ nhân thường nói nếu con người mất đi hồn phách thì người ta chỉ là một cái xác không hồn. Vậy 3 hồn 7 vía rốt cuộc là gì?

 

Người xưa quan niệm, con người gồm có phần thể xác và linh hồn. Người ta sở dĩ nói năng, đi lại, sinh hoạt được là nhờ linh hồn trú ngụ ở thể xác. Khi chết đi, linh hồn rời bỏ thân xác thịt. Thể xác nát vữa, còn linh hồn thì bất tử.

 

Thể phách chính là thân xác thịt, tinh anh chính là linh hồn. Thực ra, quan niệm “3 hồn 7 vía” có nguồn gốc từ Đạo giáo. Họ cho rằng con người sống được là nhờ “tam hồn thất phách” này điều chỉnh mọi hoạt động và tư duy.

 

Ba hồn này chính là 3 bộ phận tổ hợp thành thần khí của con người. Người ta mất đi một hồn hoặc hai hồn thì vẫn còn có thể sống sót. Nhưng nếu đã mất đi ba hồn thì sẽ trở thành một cái xác không hồn, sống đời thực vật.

 

Hồn thứ nhất là Thai Quang là một trong ba hồn quan trọng nhất của con người. Nếu một sinh mệnh không còn Thai Quang thì người đó quả thật đã chết.

Có câu chuyện kể rằng, một thầy thuốc Trung y khám bệnh cho vị giám đốc nọ. Sau khi bắt mạch và thăm khám liền nói: “Ông hãy về nhà chuẩn bị hậu sự đi thôi”.

 

Vị giám đốc nọ nghe thấy hầm hầm tức giận nói: “Ông bị điên à. Nếu y thuật của ông cao siêu đến vậy hãy nói thử xem tôi chết vào ngày nào?”. Sau khi thầy thuốc phán ngày tháng cụ thể, vị giám đốc liền nói: “Tới ngày đó tôi sẽ làm mấy bàn tiệc tại tiệm cơm Vương Phủ Tỉnh mời ông ăn”.

 

Khi vị giám đốc nọ đứng dậy trả tiền đi về, thầy thuốc Trung y vẫn khẳng định: “Tôi không lấy tiền của người sắp chết”. Và quả nhiên, vị giám đốc thực sự đã không sống qua khỏi ngày mà thầy thuốc đoán trước.

 

Các thầy thuốc Trung y cổ đại chỉ cần xem phần “Thần”, chính là Thai Quang, của người ta có còn hay không là biết được sinh tử.

 

Hồn thứ hai gọi là Sảng linh. Trên thế giới có rất nhiều người sở hữu khả năng tính nhẩm siêu hạng. Lại có những những người có thể nói chính xác thứ của một ngày bất kỳ mà bạn yêu cầu.

Điều này không dùng logic tính ra được, đó là một bản năng thiên phú. Sảng linh quyết định trí lực, trí tuệ cũng như phản ứng nhanh chậm của con người. Sảng linh chính là một bộ phận của hồn người.

 

Vì thế Khổng Tử nói: “Sinh ra đã biết là đệ nhất, học rồi mới biết chỉ là đệ nhị”. Nhiều người bị thiểu năng trí tuệ, chính là Sảng linh đã bị mất.

 

Hồn thứ ba gọi là U tinh. Nó quyết định tính cách của một người, cũng quyết định việc trong tương lai họ sẽ yêu thương ai. Người ta thường nói “bị ai đó lấy mất hồn”, “tinh thần chán nản”, “hồn xiêu phách tán”  

 

Hồn mà họ ám chỉ ở đây chính là U tinh. Rất nhiều người sau khi thất tình đau khổ tột cùng, nhìn ai cũng không thấy thuận mắt, không muốn gắn bó nữa. Đó là bởi vì U tinh tiêu mất rồi, chính là đã hao tổn, kiệt quệ tinh thần.

 

Vậy khi người ta đi ngủ, những hồn này sẽ ở vào trạng thái nào? Thai quang vốn dĩ chiếu sáng toàn thân nhưng lúc này ánh sáng bắt đầu giảm tối đi, người ta sẽ tiến vào giấc ngủ. Nhưng “phách” của họ vẫn hoạt động. 

Người xưa nói, gan tàng hồn, phổi tàng phách. Khi người ta chết, phách sẽ rời khỏi thân thể.

 

Trung y cho rằng thân thể có một cánh cửa, gọi là phách môn, nó là cửa mà phách sẽ rời khỏi thân thể người. Phách môn cũng chính là hậu môn. Bởi thế thời xưa khi cấp cứu người sắp chết thì việc đầu tiên là phải bịt hậu môn lại.

 

Thất phách là gì?

Đạo giáo quan niệm, thất phách (7 vía) của người ta bao gồm: Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế và Xú Phế.

Người Việt thì có cho rằng: Nam có 7 vía, nữ có 9 vía. Điều này có thể xuất phát từ quan niệm thân thể người nam có “thất khiếu” (7 lỗ) còn người nữ thì có “cửu khiếu” (9 lỗ).

Thất phách này có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều tiết cơ thể con người. Mỗi phách lại đảm đương một nhiệm vụ khác nhau như: hô hấp, tiêu hóa, sinh sản, nhịp tim…

 

Sách “Xuân vũ dật thưởng” chép rằng, khi mới sinh ra, người ta sống được 7 ngày gọi là Lạp (còn gọi là Cữ), lúc ấy mới có 1 vía. Sau 49 ngày thì đứa trẻ mới có đủ 7 vía thành người. Tiếp đó, sau 100 ngày thì đứa trẻ tròn 1 tuổi (nghĩa là cộng cả 9 tháng thai nhi trong bụng mẹ). Bé trai đủ 7 ngày, gái 9 ngày gọi là đầy Cữ.

Còn trong “Vân đài loại ngữ”, Lê Quý Đôn cũng viết: “Tục nước ta sinh con được 3 ngày thì chỉ làm vài mâm cỗ cúng Thuần Dưỡng Bà. Đến ngày thứ 7, thứ 9, đầy 100 ngày thì làm lễ cáo gia tiên, yến tiệc linh đình”.

 

Sau khi người ta chết, cứ 7 ngày là 1 kỳ tang, mất đi 1 vía. Sau bảy lần cúng kỳ tang thì cúng tuần Chung thất, tức là hết vía (49 ngày). Sau 100 ngày là cúng Tốt khốc (thôi khóc).

Theo quan niệm dân gian, sau 100 ngày, hồn vía người ta đã hoàn toàn thoát ly khỏi thân xác thịt, đã chết thực sự.

 

Khi ấy, người nhà chỉ còn niệm tưởng thương nhớ người đã mất trong lòng mà không khóc nữa. Lễ cúng ngoài mâm cơm chay mặn thông thường, còn cần đèn nhang, bông trái, trà nước. Ngày giỗ đầu gọi là lễ Tiểu tường, giỗ thứ hai là lễ Đại tường. Từ đó về sau, người ta chỉ còn cúng người đã mất vào dịp giỗ và Tết.

 

Trong quan niệm của nhà Phật, vong hồn người chết phải qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày rồi mới được siêu thoát.

 

Tục gọi hồn

Khi hồn vía người ta xuất ra khỏi thân xác thịt thì coi như họ đã chết. Một khi đã xuất ra thì không thể quay trở lại. Nhưng cũng có những trường hợp hết sức đặc biệt. Vì một lý do nào đó, hồn vía người ta vẫn có thể nhập trở về thân thể. Bởi vậy, người Việt thường có tục lệ gọi hồn.

Dân gian quan niệm, khi ốm nặng hoặc bất tỉnh, trải qua một chấn động khủng khiếp nào đó thì người ta sẽ “mất vía”, hồn phách đột ngột tách ly khỏi thân thể. Đó là tình huống mà người ta vẫn gọi là “hồn xiêu phách tán”.

Thân thể người ta sẽ cứng đờ, hai mắt thất thần, đồng tử không động đậy, mồm miệng há hốc hoặc ngậm cứng, đồng thời hơi thở rất yếu, tai ù điếc không nghe thấy âm thanh.

 

Để hoàn lại sự sống cho họ, buộc phải có nghi thức gọi hồn. Người nhà thường trèo lên mái nhà hoặc chạy ra ngã ba đường, vừa đi về vừa gọi hồn vía người bị nạn để mong họ có thể trở lại.

Câu gọi hồn quen thuộc là: “Bớ ba hồn bảy vía ông… ở đâu thì về với con cháu”.

Ở một số trường hợp, cách gọi hồn này tỏ ra khá linh nghiệm. Người đang bất tỉnh nhân sự, mất ý thức có thể dần dần hồi lại, tất nhiên phải kèm theo một số biện pháp chăm sóc y tế đặc biệt khác.

 

Sự sống sau cái chết là điều đã được khoa học hiện đại thừa nhận từ lâu. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thuyết vô Thần, người ta vẫn còn gặp trở ngại trong việc chứng thực sự thực đó. Phật gia quan niệm rằng, sau khi chết, người ta đích thực chỉ mất đi phần xác thịt tức là “thể phách”, còn linh hồn, phần “tinh anh” thì mãi trường tồn, lại đi qua kiếp luân hồi để tái tạo sự sống ở kiếp sau.

 

Đi sang kiếp sau, linh hồn ấy vẫn mang đầy đủ nợ nghiệp và phúc báo ở kiếp trước. Bởi vậy, nếu muốn có được phúc báo thì phải biết gây thiện, tránh ác, tu sửa tâm tính, sống thanh bạch, trung thực ở ngay trong đời này.

 

An Nhiên